Đi qua những tòa giảng đường hiện đại của trường Đại học Sungkyunkwan ở phường Myeongnyun, quận Jongno, thủ đô Seoul, quý vị sẽ bắt gặp một bức tường đá cổ màu xám bao bọc một không gian hoàn toàn tĩnh lặng. Bước qua cổng thần tam môn, phía trước là tòa điện Đại Thành (Daeseongjeon) uy nghiêm đặt trên bệ đá giữa sân rộng, còn bước sang khu sân phía sau là tòa giảng đường Minh Luân Đường (Myeongnyundang) với hai dãy ký túc xá Đông Trai và Tây Trai chạy dài hai bên. Giữa sân Minh Luân Đường, hai cây ngân hạnh cổ thụ khổng lồ cao hơn hai mươi mét vươn tán lá che rợp cả một góc trời, mỗi độ thu về lại trút xuống một thảm lá vàng dày dưới chân bậc thềm đá.
Đó là quần thể Văn Miếu và Thành Quân Quán (Munmyo và Sungkyunkwan, 文廟成均館), trung tâm giáo dục và lễ nghi Nho học tối cao của vương triều Joseon suốt hơn năm trăm năm. Nếu Tông Miếu Seoul (Jongmyo) là nơi hoàng gia thờ phụng huyết thống tiên đế, thì Văn Miếu Thành Quân Quán là nơi quốc gia tôn thờ đạo thống của Đức Khổng Tử cùng các bậc đại hiền, đồng thời đào tạo nên tầng lớp sĩ đại phu rường cột cho cả bán đảo Triều Tiên, tương ứng trực tiếp với mô hình Văn Miếu Quốc Tử Giám tại Hà Nội của Việt Nam.

IĐức Khổng Tử, Tứ Phối Và Đông Phương Thập Bát Hiền
Tên gọi kép của di tích phản ánh đúng hai chức năng gắn kết chặt chẽ làm một: Văn Miếu (Munmyo, 文廟) là khu đền thờ Đức Khổng Tử (Văn Tuyên Vương) cùng các bậc thánh hiền Nho giáo, còn Thành Quân Quán (Sungkyunkwan, 成均館) là trường thái học cao nhất của nhà nước. Hai chữ Thành Quân lấy từ sách Chu Lễ: thành là làm cho trọn vẹn những gì còn khiếm khuyết trong tính người, quân là điều hòa những gì còn thái quá hay bất cập trong phong tục bằng lễ nhạc. Triều đình Joseon lấy Tân Nho học (Tính lý học của Chu Hy) làm hệ tư tưởng trị quốc độc tôn, nên mọi nho sinh đã đỗ kỳ thi Sơ khảo (Sinh viên hoặc Tiến sĩ) trên khắp tám đạo đều phải vào nội trú tại Thành Quân Quán để vừa dùi mài kinh sử chuẩn bị thi Đại khoa (Mun-gwa), vừa trực tiếp tham gia lễ tế các bậc tiên thánh tại Văn Miếu.
Trung tâm thờ tự của Văn Miếu là tòa Đại Thành Điện (Daeseongjeon, 大成殿). Khác với truyền thống đắp tượng đất sơn thếp thời Cao Ly về trước, từ đầu thời Joseon, Văn Miếu Seoul hoàn toàn thờ bằng bài vị gỗ (thần vị). Chính giữa Đại Thành Điện đặt bài vị của Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương Khổng Tử quay mặt về hướng nam. Phối thờ hai bên tả hữu trong chính điện là Tứ Phối (bốn bậc á thánh gồm Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư và Mạnh Tử), kế đến là Thập Triết (mười đệ tử xuất sắc của Khổng Tử) và Lục Hiền của Bắc Tống (Chu Đôn Di, Trình Hạo, Trình Di, Trương Tải, Thiệu Ung và Chu Hy).
Nét đặc sắc nhất trong hệ thống phối thờ của Văn Miếu Hàn Quốc nằm ở hai dãy nhà Đông Vu (Dongmu) và Tây Vu (Seomu) chạy dọc hai bên sân Đại Thành Điện. Bên cạnh bài vị của các học giả Trung Hoa lịch đại, nơi đây tôn trí bài vị của Đông Phương Thập Bát Hiền (Dongbang Siphyeon, 東方十八賢), tức 18 vị đại nho lỗi lạc nhất trong lịch sử bán đảo Triều Tiên được triều đình chuẩn phê đưa vào tòng tự tại Văn Miếu. Danh sách 18 vị này trải dài qua ba triều đại: thời Tân La có 2 vị là Tiết Thông (Seol Chong, người sáng tạo chữ Idu) và Thôi Trí Viễn (Choe Chi-won), thời Cao Ly có 2 vị là An Hướng (An Hyang, người đầu tiên đưa Chu Tử học vào Cao Ly) và Trịnh Mộng Chu (Jeong Mong-ju), thời Joseon có 14 vị tiêu biểu như Kim Hoành Bật, Triệu Quang Tổ, Lý Ngạn Địch, đặc biệt là hai đỉnh cao triết học Lý học và Khí học của Hàn Quốc là Thoái Khê Lý Hoàng (Yi Hwang, 1501 tới 1570) và Lật Cốc Lý Nhị (Yi I, 1536 tới 1584), cùng Tống Thời Liệt và Tống Tuấn Cát. Đối với một học giả thời Joseon, việc được rước bài vị vào Văn Miếu sau khi qua đời (gọi là Văn Miếu phối hưởng) là vinh dự học thuật và đạo đức tối thượng, còn cao quý hơn mọi tước vị công hầu khi còn sống.
Theo sử biên niên Joseon Vương Triều Thực Lục, dưới thời vua Yên Sơn Quân (trị vì 1494 tới 1506), Văn Miếu Thành Quân Quán từng chịu một biến cố hy hữu: nhà vua trục xuất các nho sinh, dời bài vị đi nơi khác và biến khu Đại Thành Điện cùng Minh Luân Đường thành nơi tổ chức yến tiệc ca kỹ và nuôi thú săn. Ngay sau khi vua Trung Tông (Jungjong) lên ngôi năm 1506, việc đầu tiên triều đình thực hiện là tẩy tịnh toàn bộ khuôn viên, rước bài vị Khổng Tử và các hiền triết trở lại Đại Thành Điện và khôi phục quy chế giảng học của Thành Quân Quán.
Khi so sánh các Văn Miếu ở Đông Á, người quan sát tinh ý sẽ nhận ra một điểm khác biệt thú vị về bố cục. Tại Trung Hoa (như Khổng Miếu Bắc Kinh) và tại Việt Nam (Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội), bố cục phổ biến là tả học hữu miếu hoặc tiền miếu hậu học đặt nối tiếp trên cùng một trục dọc thẳng tắp. Tại Văn Miếu Thành Quân Quán Seoul, ban đầu năm 1398 cũng đặt theo cấu trúc tiền miếu hậu học (khu Văn Miếu ở phía nam phía trước, khu giảng đường Minh Luân Đường ở phía bắc phía sau), nhưng do địa hình thung lũng và các đợt mở rộng, nhiều hương hiệu (trường Nho học địa phương) ở Hàn Quốc về sau lại đổi sang thế tiền học hậu miếu (giảng đường ở trước, miếu thờ ở trên đồi cao phía sau). Riêng Thành Quân Quán ở kinh đô Seoul vẫn giữ nguyên quy chuẩn tiền miếu hậu học của buổi đầu lập quốc.
IITừ Quốc Tử Giám Cao Ly Tới Trường Đại Học Lâu Đời Nhất Đông Á
Truyền thống Quốc học trên bán đảo Triều Tiên khởi đầu từ năm 372 với Thái Học của nước Cao Câu Ly, tiếp nối bằng Quốc Học năm 682 thời Tân La và Quốc Tử Giám năm 992 thời Cao Ly (đổi tên thành Thành Quân Quán năm 1308). Khi nhà Joseon dời đô về Seoul, vua Thái Tổ đã cho dựng mới hoàn toàn Văn Miếu và Thành Quân Quán tại vị trí phường Myeongnyun ngày nay vào năm 1398.
- 1398Khởi dựng Văn Miếu và Thành Quân Quán tại HanyangTháng 7 năm thứ bảy đời vua Thái Tổ nhà Joseon (1398), quần thể Đại Thành Điện, Đông Vu, Tây Vu, Minh Luân Đường và hai dãy Đông Trai, Tây Trai được hoàn thành tại phía đông bắc kinh thành.
- 1400 tới 1407Cháy lần đầu và tái thiết dưới triều Thái TôngNăm 1400, Văn Miếu bất ngờ bị hỏa hoạn thiêu hủy. Vua Thái Tông (Taejong) cho khởi công dựng lại và hoàn thành toàn bộ vào năm 1407.
- 1475Xây dựng thư viện Tôn Kinh CácVua Thành Tông (Seongjong) cho dựng Tôn Kinh Các (Jongyeonggak) ở phía bắc Minh Luân Đường làm thư viện quốc gia đầu tiên lưu trữ hơn một vạn quyển kinh điển Nho gia.
- 1519Trồng cặp cây ngân hạnh trước Minh Luân ĐườngNăm thứ 14 đời vua Trung Tông, học giả Doãn Trác (Yun Tak, 1472 tới 1534), người đứng đầu Thành Quân Quán (Đại Tư Thành), cho trồng hai cây ngân hạnh tại sân trước Minh Luân Đường.
- 1592 tới 1606Tái thiết Đại Thành Điện (1602) và Minh Luân Đường (1606)Toàn bộ quần thể bị thiêu rụi trong cuộc chiến năm 1592. Sau chiến tranh, vua Tuyên Tổ cho dựng lại Đại Thành Điện hoàn thành năm 1602 và Minh Luân Đường cùng Đông Trai, Tây Trai hoàn thành năm 1606.
- 1895Cải cách giáo dục hiện đại cuối thời JoseonTriều đình bãi bỏ chế độ khoa cử cổ truyền và lập khoa Kinh Học (Gyeonghak-gwa) giảng dạy theo chương trình đại học hiện đại ba năm tại Thành Quân Quán.
- 1964 và 1969Xếp hạng Di tích Lịch sử Quốc gia và Bảo vậtNăm 1964, quần thể Văn Miếu và Thành Quân Quán được xếp hạng Di tích Lịch sử Quốc gia số 143 (cặp cây ngân hạnh là Di sản Thiên nhiên số 59 năm 1962). Năm 1969, Đại Thành Điện và Minh Luân Đường được xếp hạng Bảo vật số 141 và 142.
Về con số 18 vị hiền triết Hàn Quốc và 94 hay 39 bài vị. Qua các thời kỳ lịch sử, số lượng bài vị thờ trong Văn Miếu Seoul từng được điều chỉnh. Vào đầu thời Joseon, ngoài Khổng Tử, Tứ Phối và Thập Triết, Đông Vu và Tây Vu thờ tới hơn một trăm bài vị của các học giả nhà Hán, Đường, Tống và Cao Ly. Sau cuộc cải cách lễ chế cuối thời Joseon và đầu thế kỷ 20, các bài vị được tinh giản: hiện nay trong lòng Đại Thành Điện thờ 39 bài vị (gồm Khổng Tử, Tứ Phối, Thập Triết, Lục Hiền nhà Tống và 18 vị hiền triết Hàn Quốc được rước từ hai nhà Vu vào thờ chung trong chính điện từ sau năm 1945 để bảo quản và tôn vinh). Tuy nhiên, trong nhiều tài liệu kiến trúc truyền thống vẫn ghi theo định chế thời Joseon là 19 bài vị trong Đại Thành Điện và 18 vị Đông Phương Hiền phối thờ tại Đông Vu và Tây Vu.
IIIĐiện Đại Thành, Minh Luân Đường Và Bóng Ngân Hạnh Năm Thế Kỷ
Quần thể Văn Miếu Thành Quân Quán rộng khoảng hơn 32.000 mét vuông, chia thành hai không gian kiến trúc rõ rệt là khu Tế tự (Văn Miếu) ở phía nam và khu Giảng học (Thành Quân Quán) ở phía bắc, ngăn cách nhau bằng một bức tường có cổng thông. Khu Tế tự lấy Đại Thành Điện (Daeseongjeon) làm trung tâm, dựng lại năm 1602 trên một bệ đá hoa cương cao có hai cầu thang đá dẫn lên hiên, giữa cầu thang phía nam chạm bức phù điêu rồng mây trên phiến đá nghiêng. Tòa điện rộng 5 gian mặt tiền và 4 gian chiều sâu, lợp mái ngói kiểu paljak (tám mái đầu hồi) với hệ đấu củng đa bao vững chãi, các thân cột gỗ tròn sơn màu đỏ son và diềm mái vẽ hoa văn ngũ sắc trang nhã. Hai bên sân rộng trước Đại Thành Điện là hai dãy nhà Đông Vu và Tây Vu dài 11 gian, phía nam là cổng Thần Tam Môn (Sinsammun) luôn đóng kín ngày thường.
Bước qua cổng ngăn sang khu Giảng học phía bắc, trung tâm là tòa Minh Luân Đường (Myeongnyundang, 明倫堂), dựng lại năm 1606 dưới sự chỉ đạo của đại thần Liễu Thành Long. Hai chữ Minh Luân rút từ sách Mạnh Tử (Học tắc tam đại cộng chi, giai sở dĩ minh nhân luân dã, nghĩa là trường học của cả ba đời Hạ, Thương, Chu đều cốt để làm sáng tỏ đạo làm người). Tòa nhà có cấu trúc rất độc đáo: gian chính đường ở giữa làm cao vút với mái tám mái để giảng kinh và đón nhà vua tới thị sát, còn hai gian cánh ở hai đầu đông tây lại làm mái thấp hơn dùng làm phòng làm việc của các vị giáo thụ. Phía trước Minh Luân Đường, hai dãy nhà Đông Trai (Dongjae) và Tây Trai (Seojae) dài tới 20 gian chạy song song nhau làm ký túc xá nội trú cho 200 nho sinh ưu tú của cả nước.
Bảo vật Hàn Quốc (số 141 cũ). Điện thờ chính của Văn Miếu, quy mô 5 gian ngang nhân 4 gian sâu. Bức hoành phi chữ Hán Đại Thành Điện treo dưới hiên là nét bút chuẩn mực của danh nho Hàn Thạch Phong (Han Seok-bong, 1543 tới 1605), bậc thầy thư pháp lớn nhất triều đại Joseon.
Bảo vật Hàn Quốc (số 142 cũ). Giảng đường trung tâm của Thành Quân Quán. Bức hoành phi Minh Luân Đường cỡ lớn treo tại gian giữa do sứ thần nhà Minh là Chu Chi Phiên (Zhu Zhifan) viết tặng vào năm 1606 khi sang sứ Hanyang ngay sau khi tòa nhà vừa dựng xong.
Di sản Thiên nhiên Hàn Quốc số 59 (xếp hạng năm 1962), trồng năm 1519 trước sân Minh Luân Đường, cao khoảng 21 tới 26 mét, chu vi gốc hơn 7 mét. Trong điển tích Nho gia, Đức Khổng Tử xưa ngồi giảng bài cho học trò trên Hạnh Đàn (bệ đất dưới gốc cây ngân hạnh), nên cây ngân hạnh trở thành biểu tượng thiêng liêng của nền giáo dục Khổng học. Điểm đặc biệt là cả hai cây ở Thành Quân Quán đều là cây ngân hạnh đực, bởi theo quan niệm Nho gia không trồng cây cái kết quả có mùi hăng trong sân học đường để giữ tâm trí học trò luôn thanh tịnh.
Hai dãy ký túc xá nội trú đối xứng hai bên sân Minh Luân Đường. Xưa kia, các nho sinh dòng dõi quý tộc Lưỡng ban ở Đông Trai và Tây Trai theo thứ bậc kỳ thi, mỗi ngày hai bữa khi tiếng trống (Tanguk-go) vang lên một hồi thì xếp hàng vào nhà ăn Tiến Sĩ Thực Đường để tính điểm chuyên cần (viên điểm) đủ điều kiện dự thi Đại khoa.
Nằm ở phía đông và phía bắc Minh Luân Đường. Bích Xuyên Đường (dựng năm 1664) là trường thi đặc biệt nơi các vị vua Joseon trực tiếp ngự giá ra đề thi tuyển chọn nhân tài, còn Tôn Kinh Các (lập năm 1475) là kho tàng thư tịch kinh điển Nho học của quốc học.
Ngay trước cổng ngoài của Thành Quân Quán đặt tấm bia đá Hạ Mã Bia khắc dòng chữ: Đại tiểu nhân viên giai hạ mã (Quan dân lớn nhỏ đi qua đây đều phải xuống ngựa). Phía trước cổng là dòng suối nhỏ bắc cầu đá tượng trưng cho Phán Thủy (hồ nước hình bán nguyệt trước cung học của chư hầu thời Chu).
| Hạng mục | Niên đại hiện còn | Xếp hạng và giá trị |
|---|---|---|
| Quần thể Văn Miếu và Thành Quân Quán | Khởi dựng 1398, tái thiết thế kỷ 17 | Di tích Lịch sử Quốc gia Hàn Quốc số 143 (xếp hạng năm 1964) |
| Đại Thành Điện (Daeseongjeon) | Dựng lại năm 1602 (đời vua Tuyên Tổ) | Bảo vật Hàn Quốc (số 141 cũ), thờ Đức Khổng Tử và 38 vị thánh hiền |
| Minh Luân Đường (Myeongnyundang) | Dựng lại năm 1606 (đời vua Tuyên Tổ) | Bảo vật Hàn Quốc (số 142 cũ), giảng đường chính của Quốc học |
| Cây ngân hạnh Văn Miếu Seoul | Trồng năm 1519 (đời vua Trung Tông) | Di sản Thiên nhiên Quốc gia số 59 (xếp hạng năm 1962) |
IVThế Đất Và Hướng
Trong tư tưởng quy hoạch của các bậc đại nho đầu triều Joseon như Trịnh Đạo Truyền, việc đặt Văn Miếu và Thành Quân Quán ở góc đông bắc kinh thành Hanyang vừa tuân theo lý số Kinh Dịch (phương Đông Bắc thuộc quẻ Cấn, tượng trưng cho núi non vững chãi và là nơi vạn vật thành chung thành thủy, tức nơi kết thúc cái cũ và khởi đầu sự sinh trưởng mới của hiền tài), vừa hòa hợp với địa mạch tự nhiên của vùng núi Bắc Nhạc. Phần dưới đây đối chiếu địa hình thực tế của khu di tích theo phép xem hình thế cổ truyền của thư viện.
Xét về sơn mạch tại tọa độ 37,5855 độ vĩ bắc, 126,9963 độ kinh đông, Văn Miếu Thành Quân Quán nằm trong một thung lũng bằng phẳng và kín đáo được ôm bọc bởi nhánh núi phía đông của chủ sơn Bắc Nhạc (Bugaksan) nối sang ngọn Lạc Sơn (Naksan, tức cánh tả Thanh Long của kinh thành Seoul). Dải đồi phía bắc sau lưng khu giảng đường Minh Luân Đường và Tôn Kinh Các tạo thành hậu chẩm (chỗ dựa lưng) vững chắc, che chắn gió bắc và giữ cho không gian học đường luôn yên tĩnh, thích hợp cho việc tụng đọc kinh thư và suy ngẫm đạo lý. Hai sườn đồi thoai thoải chạy dọc hai bên đông tây tạo thành thế tay ngai ôm lấy khu sân phẳng ở giữa, giúp tụ khí vào đúng hai tâm điểm là sân Đại Thành Điện và sân Minh Luân Đường.
Xét về hướng và thủy pháp, toàn bộ trục chính của Đại Thành Điện và Minh Luân Đường đều được dựng theo hướng tọa Bắc hướng Nam (hơi chếch nhẹ theo địa hình thung lũng), đón trọn ánh nắng mặt trời phương Nam chiếu sáng suốt ngày vào sân học. Trong phong thủy cổ truyền gắn với Nho học, một trường Quốc học bắt buộc phải có dòng nước chảy qua phía trước hoặc bao quanh gọi là Phán Thủy (Bansoo, 泮水) để làm mát hỏa khí và nuôi dưỡng văn mạch. Tại Thành Quân Quán Seoul, có hai dòng suối tự nhiên từ khe núi phía bắc chảy xuống, kẹp dọc theo bức tường phía đông và phía tây của khuôn viên rồi hợp lưu ở phía trước cổng chính trước khi đổ về suối Thanh Khê. Dòng nước uốn quanh hai bên tả hữu rồi tụ lại ở tiền đường tạo thành thế nhị thủy giao hợp (hai dòng nước hội tụ), được các nho sinh xưa coi là nguồn mạch văn chương giúp khoa cử hanh thông và trí tuệ sáng suốt.
VĐại Lễ Thích Điện Đại Tế Và Nghi Thức Tế Khổng Tử Hai Mùa Xuân Thu
Suốt hơn sáu thế kỷ từ năm 1398 tới nay, nghi lễ cốt lõi và trọng đại nhất tại Văn Miếu Thành Quân Quán là Thích Điện Đại Tế (Seokjeon Daeje, 釋奠大祭, nghĩa là lễ bày lễ vật và rưới rượu dâng bậc tiên thánh), đã được Chính phủ Hàn Quốc công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể Quốc gia số 85 vào năm 1986. Theo cổ lễ Nho giáo Đông Á, đại lễ được cử hành hai lần mỗi năm vào mùa xuân và mùa thu, cùng với lễ Cáo sóc vọng vào ngày mùng một và ngày rằm hàng tháng. Bảng dưới đây ghi rõ thời gian và nội dung các kỳ lễ chính.
| Thời gian | Theo lịch nào | Tên nghi lễ | Nội dung và trình thức |
|---|---|---|---|
| Ngày Đinh đầu tiên (Thượng Đinh nhật) của tháng Hai và tháng Tám âm lịch (hiện nay thường cử hành vào ngày 11 tháng 5 và ngày 28 tháng 9 dương lịch) | Lịch Can Chi âm lịch truyền thống kết hợp lịch cố định dương lịch (kỷ niệm ngày sinh Khổng Tử vào mùa thu) | Đại lễ Thích Điện Đại Tế (Seokjeon Daeje) mùa xuân và mùa thu | Các vị chức sắc Nho giáo từ khắp Hàn Quốc mặc lễ phục cổ truyền tề tựu trước sân Đại Thành Điện, cử hành trình tự: Điện tệ lễ (dâng lụa), Sơ hiến lễ (dâng tuần rượu thứ nhất), Á hiến lễ (tuần rượu thứ hai), Chung hiến lễ (tuần rượu thứ ba), Phân hiến lễ (dâng rượu cho các vị tòng tự), Ẩm phúc lễ (thụ lộc) và Vọng liệu lễ (đốt chúc văn và lụa tế). |
| Trong suốt đại lễ Thích Điện Đại Tế | Theo trình thức nhạc vũ cố định | Văn Miếu Tế Lễ Nhạc (Munmyo Jeryeak) và Bát Dật Vũ | Dàn nhạc nhã nhạc cung đình tấu bản nhạc Ngưng An Chi Nhạc có gốc từ nhạc Đại Thành thời Bắc Tống truyền sang Cao Ly năm 1116, kết hợp với đội múa 64 vũ công (8 hàng nhân 8 cột) tay cầm ống sáo (ược) và lông chim trĩ (địch) múa điệu Văn vũ uyển chuyển, trang nghiêm. |
| Ngày mùng 1 và ngày 15 hàng tháng | Âm lịch | Lễ Phần hương Sóc Vọng (Bunhyangnye) | Các vị nho sĩ thuộc Thành Quân Quán mở cửa Đại Thành Điện dâng hương, vái lạy và đọc chúc văn báo cáo trước bài vị Đức Khổng Tử cùng các bậc tiên hiền. |
| Đầu học kỳ mùa xuân (tháng 2 hoặc tháng 3) | Dương lịch | Lễ Cáo Do (Goyurye) của tân sinh viên Đại học Sungkyunkwan | Tân sinh viên mặc áo choàng xanh của nho sinh thời Joseon (Cheonggeum) cùng ban giám hiệu vào sân Đại Thành Điện làm lễ bái yết Đức Khổng Tử, báo cáo việc bắt đầu con đường đại học. |
Điểm đáng quý nhất của Văn Miếu Tế Lễ Nhạc tại Seoul là nơi đây bảo tồn nguyên vẹn dòng Nhã nhạc (Aak, 雅樂) cổ điển có nguồn gốc từ dàn nhạc cụ và nhạc phổ do hoàng đế Tống Huy Tông nhà Bắc Tống gửi tặng triều đình Cao Ly vào năm 1116. Trong khi tại chính quê hương Trung Hoa, dòng nhạc tế Khổng Tử cổ của nhà Tống đã thất truyền hoặc biến đổi qua các triều Nguyên, Minh, Thanh, thì tại sân đá trước Đại Thành Điện ở Seoul, những tiếng chuông đồng và khánh đá từ thế kỷ 12 vẫn ngân vang chuẩn xác từng cung bậc vào mỗi mùa xuân và mùa thu.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- 31 Seonggyungwan-ro, Myeongnyun 3-ga, Jongno-gu, Seoul (hoặc 25-1 Seonggyungwan-ro)
- Đường tới
- Di tích nằm tại số 31 Seonggyungwan-ro (hoặc 25-1 Seonggyungwan-ro), quận Jongno, Seoul. Quý vị đi tàu điện ngầm Seoul tuyến số 4 tới ga Hyehwa (cửa ra số 4), sau đó đi bộ dọc theo con phố dẫn vào cổng trường Đại học Sungkyunkwan khoảng 10 tới 12 phút là tới cổng Văn Miếu.
- Toạ độ
- 37.5855, 126.9963
Văn Miếu Thành Quân Quán nằm ngay sát khuôn viên giảng dạy hiện đại của Đại học Sungkyunkwan, nơi sinh viên vẫn đang lên lớp và nghiên cứu mỗi ngày. Khi tham quan khu Đại Thành Điện và Minh Luân Đường, xin quý vị giữ trật tự, không bước lên bậc đá rồng ở giữa cầu thang chính điện, không leo trèo lên thềm gỗ của Minh Luân Đường và tuyệt đối không bẻ cành hay vượt qua hàng rào bảo vệ quanh gốc hai cây ngân hạnh cổ thụ 500 năm tuổi.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Văn Miếu Thành Quân Quán (Sungkyunkwan)
Contribute photos, information or video for Munmyo, SeoulThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Văn Miếu (Munmyo) và Thành Quân Quán (Sungkyunkwan) khác nhau như thế nào?
Hai tên gọi này chỉ hai khu vực chức năng trong cùng một quần thể quốc gia được vua Thái Tổ nhà Joseon thành lập năm 1398 theo bố cục tiền miếu hậu học: Văn Miếu (Munmyo) nằm ở phía trước (phía nam) với trung tâm là Đại Thành Điện dùng làm nơi tế tự Đức Khổng Tử và các bậc thánh hiền Nho học, còn Thành Quân Quán (Sungkyunkwan) nằm ở phía sau (phía bắc) với giảng đường Minh Luân Đường và hai dãy ký túc xá dùng làm trường đại học quốc gia tối cao đào tạo nhân tài.
Trong Đại Thành Điện của Văn Miếu Seoul thờ những ai?
Đại Thành Điện thờ bằng bài vị gỗ (không đắp tượng), chính giữa tôn trí bài vị Đức Khổng Tử (Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương), phối thờ hai bên là Tứ Phối (Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử), Thập Triết (10 đệ tử xuất sắc của Khổng Tử), Lục Hiền thời Bắc Tống (đứng đầu là Chu Hy) và Đông Phương Thập Bát Hiền (18 vị đại nho lỗi lạc nhất lịch sử Hàn Quốc như Tiết Thông, Thôi Trí Viễn, An Hướng, Trịnh Mộng Chu, Lý Hoàng và Lý Nhị).
Hai cây ngân hạnh trước sân Minh Luân Đường có lịch sử và ý nghĩa gì?
Cặp cây ngân hạnh cổ thụ trước sân Minh Luân Đường được học giả Doãn Trác (Đại Tư Thành của Thành Quân Quán) trồng vào năm 1519 dưới triều vua Trung Tông, nay đã hơn 500 năm tuổi và được xếp hạng Di sản Thiên nhiên Quốc gia Hàn Quốc số 59. Cây ngân hạnh tượng trưng cho Hạnh Đàn nơi Đức Khổng Tử xưa ngồi giảng học, và cả hai cây đều là cây ngân hạnh đực để không rụng quả gây mùi trong sân trường.
Đại lễ Thích Điện Đại Tế (Seokjeon Daeje) diễn ra khi nào và có gì đặc biệt?
Thích Điện Đại Tế là nghi lễ quốc gia tế Khổng Tử và các bậc tiên hiền, được cử hành hai lần mỗi năm vào mùa xuân và mùa thu (theo truyền thống là ngày Đinh đầu tiên của tháng Hai và tháng Tám âm lịch, hiện nay thường tổ chức vào tháng 5 và cuối tháng 9 dương lịch). Đại lễ bảo tồn nguyên vẹn dòng Nhã nhạc Bắc Tống truyền sang bán đảo từ năm 1116 cùng điệu múa Bát Dật Vũ gồm 64 vũ công.
Các tòa nhà Đại Thành Điện và Minh Luân Đường hiện nay có từ năm nào?
Mặc dù được khởi dựng từ năm 1398, các tòa nhà gỗ ban đầu đã bị thiêu hủy trong cuộc chiến năm 1592. Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, triều đình vua Tuyên Tổ đã cho tái thiết Đại Thành Điện vào năm 1602 và Minh Luân Đường cùng hai dãy Đông Trai, Tây Trai vào năm 1606. Cả hai tòa nhà đều còn nguyên vẹn từ đầu thế kỷ 17 và được xếp hạng Bảo vật Hàn Quốc.