Men theo con đường rừng rợp bóng thông đỏ và phong cổ thụ bên sườn tây núi Tào Khê (Jogyesan) thuộc thành phố Suncheon, tỉnh Jeolla Nam, khách hành hương nghe tiếng suối Tân Bình (Sinpyeongcheon) róc rách qua những tảng đá cuội trắng trước khi nhìn thấy mái ngói cong của cây cầu lầu Vũ Hóa Các (Uhwagak) soi bóng xuống mặt nước trong vắt. Bước qua chiếc cầu gỗ vừa là cổng ranh giới vừa là nơi gột rửa bụi trần ấy, cả một quần thể hơn năm mươi nếp điện đường, thiền viện và tăng xá cổ kính hiện ra giữa lòng thung lũng sâu tĩnh mịch.
Đó là chùa Tùng Quảng (Songgwangsa, 송광사, 松廣寺), ngôi Tăng Bảo Tông sát (Seungbo Jongchal) đại diện cho Tăng đoàn thanh tịnh trong bộ ba Tam Bảo tự tối linh của Phật giáo Hàn Quốc, sánh vai cùng Phật bảo Thông Độ Tự và Pháp bảo chùa Hải Ấn (Haeinsa). Từ phong trào kết xã tu hành cải cách của Phổ Chiếu Quốc sư Tri Nột cuối thế kỷ 12 cho tới truyền thống đào luyện mười sáu vị Quốc sư nối tiếp nhau qua hai triều đại Cao Ly và Joseon, Tùng Quảng Tự vẫn giữ trọn nhịp sống thiền môn nghiêm cẩn của một đạo tràng Tào Khê Tùng lâm suốt hơn tám trăm năm.

ITam Thế Phật, Tư Tưởng Định Huệ Song Tu Của Quốc Sư Tri Nột Và Mười Sáu Vị Quốc Sư
Trái tim thờ tự của chùa Tùng Quảng là tòa Đại Hùng Bảo Điện (Daeungbojeon) uy nghi ở trung tâm nội viện, nơi tôn trí bộ tượng Tam Thế Phật (Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở chính giữa, Đức Phật A Di Đà ở bên trái và Đức Phật Di Lặc hoặc Dược Sư ở bên phải theo truyền thống không gian ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai), hầu cận hai bên là bốn vị đại Bồ tát Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Thế Âm và Địa Tạng. Khác với những ngôi chùa chỉ chuyên về lễ bái cầu nguyện dân gian, mọi nếp điện tại Tùng Quảng Tự đều xoay quanh lý tưởng tối hậu của ngôi Tăng bảo: lấy giới luật làm nền, lấy thiền định và trí tuệ làm đôi cánh để thành tựu bậc chân tăng hộ trì chánh pháp.
Linh hồn học thuật làm nên danh hiệu Tăng Bảo Tông sát của chùa bắt nguồn từ Phổ Chiếu Quốc sư Tri Nột (Bojo Jinul, 1158 tới 1210), nhà tư tưởng lớn nhất đặt nền móng cho Thiền tông Hàn Quốc hiện đại. Giữa bối cảnh Phật giáo triều Cao Ly cuối thế kỷ 12 rơi vào cảnh thế tục hóa và chia rẽ gay gắt giữa phe Thiền tông (trọng trực ngộ không lời) với phe Giáo tông (trọng kinh điển chữ nghĩa), Quốc sư Tri Nột đã rút về núi Tào Khê lập nên cộng đoàn Định Huệ Xã (sau đổi là Tu Thiền Xã, Suseonsa), kêu gọi tăng sĩ rời bỏ danh lợi kinh thành để quay về ngồi thiền và đọc kinh trong chánh niệm giữa rừng sâu.
Hai trụ cột giáo nghĩa do Quốc sư Tri Nột xác lập tại Tùng Quảng Tự đã trở thành kim chỉ nam xuyên suốt của Tông Tào Khê suốt tám thế kỷ qua. Thứ nhất là thuyết Đốn ngộ tiệm tu (Dono jeomsu): hành giả trước hết phải đốn ngộ để nhận ra bản tâm chân như của chính mình vốn đồng nhất với chư Phật (như mặt trời bừng chiếu làm lộ rõ vạn vật), nhưng ngay sau cái thấy bừng sáng ấy vẫn phải kiên trì tiệm tu ngày đêm để gột sạch tập khí thói quen nhiều đời (như đứa trẻ sơ sinh tuy đủ tay chân như người lớn nhưng phải nuôi dưỡng lâu dài mới trưởng thành). Thứ hai là phép Định huệ song tu (Jeonghye ssangsu), tức giữ thiền định tĩnh lặng và trí tuệ quán chiếu luôn cân bằng như ngọn đèn và ánh sáng không tách rời, kết hợp cùng phép tham cứu thoại đầu (Khán thoại thiền) mà đệ tử kế thừa của ngài là Chân Giác Quốc sư Huệ Thầm (Hyesim) biên tập thành bộ Thiền Môn Niệm Tụng Tập.
Về danh xưng Tùng Quảng (Songgwang, nghĩa là thông reo rộng khắp hay cây thông truyền bá), sử chùa và bia ký Phổ Chiếu Quốc Sư Bia Minh ghi lại ba lớp giải thích giàu hình tượng. Lớp thứ nhất gắn với mười tám chữ Thập bát công: chữ Tùng (松) chiết tự thành thập (十), bát (八) và công (公), tiên tri ngôi chùa sẽ sinh ra mười tám bậc tôn túc đại sư (thực tế lịch sử ghi nhận mười sáu vị Quốc sư chính thức được triều đình sắc phong từ Quốc sư Tri Nột đời thứ nhất tới Cao Phong Pháp Tạng đời thứ mười sáu đầu thời Joseon, chân dung thờ trọn vẹn trong tòa Quốc Sư Điện). Lớp thứ hai kể rằng Thiền sư Đạo Tiên cuối thời Tân La thấy thế núi nhiều tùng bách vươn rộng che chở đại chúng nên gọi là Tùng Quảng Sơn. Lớp thứ ba truyền rằng Quốc sư Tri Nột từng đẽo một con chim hạc bằng gỗ đặt trên mái am ở núi công đức rồi phóng đi, chim gỗ bay đậu xuống sườn núi này và mục thành cội thông nên đặt tên chùa theo điềm lành ấy.
Một nhầm lẫn rất phổ biến trên các trang cẩm nang du lịch là gán chùa Tùng Quảng (Songgwangsa) vào danh sách bảy ngôi sơn tự Hàn Quốc được UNESCO công nhận Di sản Thế giới năm 2018 (Sansa). Thực tế cần phân biệt chính xác: ngọn núi Tào Khê (Jogyesan) có hai ngôi đại tự cổ nằm ở hai sườn đông và tây đối xứng nhau. Ngôi chùa được ghi vào danh sách bảy sơn tự UNESCO năm 2018 là chùa Tiên Nham (Seonamsa) nằm ở sườn đông núi Tào Khê, trong khi chùa Tùng Quảng (Songgwangsa) ở sườn tây được chính phủ Hàn Quốc bảo vệ ở cấp độ cao nhất quốc gia là Di tích Lịch sử Quốc gia số 506 (công nhận năm 2009) cùng ba Quốc bảo độc lập và vị thế Tào Khê Tùng lâm tổng hợp đầy đủ cả Thiền viện, Học viện, Luật viện và Niệm Phật viện.
IITừ Am Cát Tường Thời Tân La Tới Tào Khê Tùng Lâm Tám Trăm Năm
Lịch sử của chùa Tùng Quảng phản ánh trọn vẹn sức sống bền bỉ của Tăng đoàn Hàn Quốc qua các biến thiên triều đại, chiến tranh Nhâm Thìn năm 1597, hỏa hoạn thế kỷ 19 và chiến cuộc Triều Tiên giữa thế kỷ 20.
- Cuối thế kỷ 9Hòa thượng Huệ Lân dựng am Cát Tường thời mạt kỳ Tân LaVào cuối thời vương quốc Tân La thống nhất, Thiền sư Huệ Lân (Hyerin) tìm thấy thung lũng khuất gió bên sườn tây núi Tùng Quảng và dựng một ngôi chùa nhỏ quy mô chừng trăm gian mang tên Cát Tường Tự (Gilsangsa).
- 1197 tới 1205Phổ Chiếu Quốc sư Tri Nột mở rộng đạo tràng Định Huệ XãSau khi phát nguyện lập hội Định Huệ từ năm 1190, Quốc sư Tri Nột cử môn đệ mở rộng Cát Tường Tự từ năm 1197, chính thức dời đại chúng về tu tập năm 1200 và hoàn tất công cuộc đại kiến thiết kéo dài chín năm vào năm 1205.
- 1208Vua Hy Tông nhà Cao Ly ban hiệu Tu Thiền Xã và Tùng Quảng TựKính ngưỡng đạo hạnh của Quốc sư Tri Nột, vua Hy Tông (Huijong) triều Cao Ly sắc đổi tên núi thành Tào Khê Sơn, đổi hội Định Huệ thành Tu Thiền Xã (Suseonsa) và ban biển ngạch chùa Tùng Quảng, mở ra kỷ nguyên mười sáu vị Quốc sư kế đăng.
- 1597 tới 1609Tái thiết sau biến loạn Đinh Dậu bằng mười năm công đứcTrong cuộc xâm lược lần thứ hai của quân Nhật năm 1597 (Jeongyu Jaeran), phần lớn điện đường bị thiêu rụi trừ một số am thất khuất sâu như Quốc Sư Điện và Hạ Xá Đường. Đại sư Phù Hưu Thiện Tu (Buhyu Seonsu) cùng đệ tử Bích Nham Giác Tính đứng ra trùng tu toàn diện tới năm 1609.
- 1842 và 1951Hai cuộc đại hỏa hoạn và tám lần trùng tu hiện đạiTrận cháy lớn năm 1842 và bom đạn chiến tranh Triều Tiên tháng 5 năm 1951 thiêu hủy khu trung tâm Đại Hùng Điện, chỉ còn tòa Quốc Sư Điện, Hạ Xá Đường, Dược Sư Điện và Linh Sơn Điện thoát nạn nhờ nằm tách biệt. Từ năm 1955 tới 1990, chư tăng tiến hành tám đợt đại trùng kiến khôi phục diện mạo uy nghiêm.
- 1969 và 2009Thiết lập Tào Khê Tùng lâm và xếp hạng Di tích Lịch sử số 506Năm 1969, Tùng Quảng Tự được tôn phong làm Tào Khê Tùng lâm (Jogye Chongnim) đầu tiên dưới sự dẫn dắt của Phương trượng Cửu Sơn (Kusan Suryeon, người truyền bá Thiền Hàn Quốc ra phương Tây). Năm 2009, toàn bộ quần thể được xếp hạng Di tích Lịch sử Quốc gia số 506.
Chiếc máng cơm gỗ Bisari Gusi nuôi bốn nghìn người và đôi tùng xoắn Song Hương Thụ. Trong kho tàng hiện vật sống động chứng minh quy mô Tăng bảo đồ sộ của chùa Tùng Quảng, nổi tiếng nhất là chiếc máng đựng cơm khổng lồ mang tên Bisari Gusi đẽo nguyên khối từ thân một cây cử (zelkova) cổ thụ bị gió bão quật đổ năm 1724 tại Namwon: chiếc máng dài gần 5 mét, sâu gần 1 mét, có sức chứa lượng cơm nấu từ bảy bao gạo lớn đủ trai phạn cho bốn nghìn người trong các đại trai đàn Quốc sư. Cách chùa khoảng hai cây số đường núi lên am Thiên Tử (Cheonjaam) còn có Song Hương Thụ (Ssanghyangsu, Di sản Thiên nhiên Quốc gia số 88), hai cội bách tùng hơn tám trăm năm tuổi xoắn quyện thân vào nhau như rồng lượn. Tương truyền khi Quốc sư Tri Nột và đệ tử từ Trung Hoa trở về đã cắm hai cây gậy trúc chống đường xuống đất, gậy bén rễ hóa thành đôi cây xanh tốt tới tận ngày nay.
IIICầu Lầu Vũ Hóa Các, Quốc Sư Điện Thời Joseon Sơ Kỳ Và Kho Tàng Quốc Bảo
Nhờ địa hình thung lũng sườn tây núi Jogyesan dốc thoải và chia thành nhiều bậc thềm dọc theo bờ suối, kiến trúc của chùa Tùng Quảng không dàn trải theo trục thẳng cứng nhắc mà xếp lớp tự nhiên theo hình thế đất núi, tạo nên những góc nhìn khuất mở đầy chất thơ thiền. Đi qua cổng Nhất Trụ Môn, khách bước lên Thanh Lương Các và cây cầu mái ngói Vũ Hóa Các (Uhwagak, dựng trên hệ vòm đá cong bắc ngang dòng suối như lầu tiên cất cánh bay lên mây nước), qua cổng Thiên Vương Môn và Giải Thoát Môn mới mở ra khoảng sân rộng thênh thang trước Đại Hùng Bảo Điện hai tầng mái kép đồ sộ được phục dựng hoàn chỉnh cuối thập niên 1980.
Giá trị kiến trúc cổ nguyên bản quý giá nhất của chùa nằm ở khu nội viện tách biệt phía đông nam và sườn đồi phía bắc, nơi những nếp nhà gỗ nhỏ nhắn thời đầu Joseon đã kỳ diệu vượt qua cả lửa binh năm 1597 lẫn chiến sự năm 1951 mà không hề suy suyển.
Nếp điện gỗ 4 gian mặt tiền, 3 gian chiều sâu với mái hồi đơn giản (matbae-jibung) và hệ đấu củng đặt trực tiếp trên đầu cột theo phong cách chuyển tiếp cuối Cao Ly sang đầu Joseon (dựng năm 1369 và trùng tu lớn năm 1528). Bên trong khu vực cấm địa thanh tịnh này treo mười sáu bức chân dung cổ (yeongjeong, Bảo vật số 1043) của 16 vị Quốc sư từng tu hành tại chùa.
Khám thờ Phật mini bằng gỗ quý cao chỉ 13 cm, khi mở hai cánh cửa ra thành bộ ba vách chạm khắc li ti cực kỳ tinh xảo cảnh Đức Phật Thích Ca thuyết pháp cùng Bồ tát Văn Thù, Phổ Hiền và chư vị La hán. Tương truyền đây là khám Phật hộ thân do Quốc sư Tri Nột mang theo từ thời Cao Ly.
Cuộn sắc chỉ quý hiếm viết năm 1216 trên giấy dâu trang trí hoa văn màu dưới triều vua Cao Tông nhà Cao Ly để phong chức cho Chân Giác Quốc sư Huệ Thầm (đời Quốc sư thứ hai của Tu Thiền Xã), là tư liệu hành chính hoàng gia thời Cao Ly hiếm hoi còn lưu truyền.
Khu nhà tăng xá cổ dựng từ năm 1461 thời đầu Joseon vẫn giữ nguyên cấu trúc ống khói và cửa sổ giấy song gỗ mộc mạc của thiền đường xưa, được giới kiến trúc sư Hàn Quốc tôn vinh là chuẩn mực tỷ lệ vàng của kiến trúc nhà ở tu viện truyền thống.
Hai ngôi điện gỗ nhỏ xinh xắn dựng cạnh nhau từ thế kỷ 17: Dược Sư Điện rộng vẻn vẹn một gian vuông vắn là ngôi Phật điện nhỏ nhất tại Tùng Quảng Tự, nằm kề bên Linh Sơn Điện thờ Đức Phật Thích Ca và bộ tranh Pháp hội Linh Sơn (Bảo vật số 1368).
Cây cầu lầu gỗ mái ngói cong uốn lượn trên trụ vòm đá hoa cương bắc qua dòng suối đầu chùa, nơi bóng mái đình và rừng phong mùa thu in lồng lộng xuống mặt nước tĩnh lặng như bức tranh thủy mặc sống động nhất của xứ Nam đạo.
| Hạng mục | Thông số và hiện vật tiêu biểu | Nguồn kiểm chứng |
|---|---|---|
| Vị thế tông môn | Tăng Bảo Tông sát (trong Tam Bảo tự), Tào Khê Tùng lâm (Tổ đình Giáo khu 21 Tông Tào Khê) | Tông Tào Khê Phật giáo Đại Hàn, Songgwangsa |
| Niên đại trung hưng | Định Huệ Xã dời về năm 1197 tới 1205, nhận sắc hiệu Tùng Quảng Tự năm 1208 | Phổ Chiếu Quốc Sư Bia Minh, Cục Di sản Quốc gia (KHS) |
| Hệ thống Quốc bảo | Quốc bảo số 42 (Mộc điêu Tam Tôn Phật khám), số 43 (Chế thư vua Cao Tông), số 56 (Quốc Sư Điện) | Cục Di sản Quốc gia Hàn Quốc (KHS) |
| Truyền thừa Quốc sư | 16 vị Quốc sư nối tiếp nhau từ Phổ Chiếu Quốc sư Tri Nột (1158 tới 1210) tới Cao Phong Pháp Tạng | Bách khoa Văn hóa Dân tộc Hàn Quốc (EncyKorea) |
| Danh hiệu di tích | Di tích Lịch sử Quốc gia số 506 (2009), Di sản Thiên nhiên số 88 (Song Hương Thụ am Thiên Tử) | Cục Di sản Quốc gia Hàn Quốc (KHS) |
IVThế Đất Và Hướng
Núi Jogyesan (Tào Khê Sơn, đỉnh Trương Quân Phong cao 884 mét) từ lâu được xem là mạch núi thiêng trấn giữ vùng duyên hải Nam đạo tỉnh Jeolla Nam, ôm ấp hai đại danh lam ở hai triền núi đông tây. Sự chọn lựa thung lũng phía tây của Hòa thượng Huệ Lân và Quốc sư Tri Nột thể hiện con mắt trạch địa thâm trầm dành riêng cho việc nhiếp tâm thiền định của hàng trăm tăng chúng. Phần dưới đây đối chiếu địa thế theo phép xem hình thế cổ truyền của thư viện.
Tại tọa độ 35,0022 độ vĩ bắc, 127,2761 độ kinh đông, chùa Tùng Quảng tọa lạc sâu trong lòng chảo thung lũng phía tây của khối núi Jogyesan. Trong phong thủy cổ truyền Triều Tiên (pungsu-jiri), thế đất của chùa được hình dung như Liên hoa phù thủy hình (bông sen nở nổi trên mặt nước) hoặc Bạch hạc túc lâm (chim hạc trắng đậu ngủ giữa rừng thông): bốn bề sườn núi trùng điệp khép vòng tròn như những lớp cánh sen dày che chắn gió biển lạnh và tiếng động trần gian, còn khu đất bằng phẳng nơi dựng Đại Hùng Bảo Điện nhô nhẹ ở trung tâm như gương sen tụ khí.
Xét theo trục phương vị, các điện chính của Tùng Quảng Tự nương theo triền thung lũng đặt theo thế tọa Đông Bắc hướng Tây Nam (một số nếp viện phụ xoay hướng Nam hoặc Tây theo từng bậc đá). Đỉnh chính Jogyesan vươn cao 884 mét ở phía đông và đông bắc làm hậu chẩm vững chãi, trong khi hai nhánh núi uốn dài dọc hai bờ thung lũng tạo thế Thanh Long và Bạch Hổ giao khóa chặt chẽ ở cửa ngõ phía tây, khiến người đi từ ngoài vào hoàn toàn không nhìn thấy bóng dáng ngôi chùa cho tới khi bước qua khúc quanh cầu Vũ Hóa Các. Dòng suối Sinpyeongcheon bắt nguồn từ khe núi cao chảy uốn lượn từ đông sang tây ôm sát mặt tiền toàn bộ khu tự viện theo đúng phép thủy tụ minh đường, ngọc đái hoàn yêu, vừa cung cấp nguồn nước sinh hoạt thanh khiết cho đại chúng hàng nghìn người vừa giữ độ ẩm mát lành nuôi dưỡng rừng thông và bách tùng tám thế kỷ.
VAn Cư Kiết Hạ, Lễ Tưởng Niệm Quốc Sư Và Mạch Thiền Quốc Tế
Là một Tào Khê Tùng lâm quy tụ đông đảo chư tăng tu học quanh năm, lịch sinh hoạt tại chùa Tùng Quảng vận hành nghiêm ngặt theo âm lịch và thanh quy thiền môn cổ truyền, nổi bật là hai mùa An cư (ba tháng mùa hạ và ba tháng mùa đông) khi hàng trăm thiền tăng cấm túc tọa thiền suốt ngày đêm trong Tu Thiền Xã. Bảng dưới đây ghi nhận các kỳ lễ lớn trong năm.
| Thời gian | Theo lịch nào | Tên lễ tiết | Nghi thức và ý nghĩa tại Tùng Quảng Tự |
|---|---|---|---|
| Ngày 27 tháng Ba | Âm lịch | Đại lễ tưởng niệm Phổ Chiếu Quốc sư Tri Nột (Bojo Guksa Jongjae) | Chư tăng toàn tùng lâm và Phật tử vân tập dâng trà hương lên Quốc Sư Điện, tụng lại Khuyến Tu Định Huệ Kết Xã Văn để ôn lại tâm nguyện thanh tịnh của vị tổ trung hưng. |
| Mùng 8 tháng Tư | Âm lịch (Lễ quốc gia) | Đại lễ Phật Đản (Bucheonim Osin Nal) | Hàng nghìn đèn lồng hoa sen thắp sáng dọc cầu Vũ Hóa Các và sân Đại Hùng Bảo Điện, cử hành lễ tắm Phật và pháp hội cầu nguyện hòa bình. |
| Rằm tháng Tư tới Rằm tháng Bảy, và Rằm tháng Mười tới Rằm tháng Giêng | Âm lịch | Hai kỳ An cư Kiết hạ (Ha-angeo) và Kiết đông (Dong-angeo) | Chư tăng thiền viện khép cửa nhập thất tham cứu thoại đầu liên tục chín mươi ngày mỗi kỳ, giữ trọn mạng mạch sống của Tăng Bảo Tông sát. |
| Tháng Mười dương lịch (mùa lá phong đỏ) | Dương lịch và âm lịch | Lễ Khai sơn Tùng Quảng Tự và tưởng niệm mười sáu vị Quốc sư | Trình diễn nghi thức dâng trà truyền thống, mở triển lãm chuyên đề tại Bảo tàng Thánh Bảo và tụng kinh cầu quốc thái dân an. |
Điểm hẹn hành hương của chư tăng ni và Phật tử Việt Nam tại miền Nam Hàn Quốc. Kể từ khi cố Phương trượng Cửu Sơn (Kusan, 1909 tới 1983) thành lập Trung tâm Thiền Quốc tế Phật Nhật tại Tùng Quảng Tự năm 1973, ngôi chùa này đã trở thành cái nôi đón tiếp tăng ni và hành giả khắp thế giới tới thực tập thiền. Nhiều thế hệ tăng ni du học sinh Việt Nam tại Hàn Quốc cùng cộng đồng người Việt sinh sống ở vùng Jeolla Nam (Suncheon, Yeosu, Gwangyang, Gwangju) thường tổ chức các chuyến hành hương trọn bộ Tam Bảo tự về Tùng Quảng Tự mỗi mùa xuân và mùa thu lá đỏ, vừa chiêm bái nếp sống lục hòa của Tăng đoàn vừa lắng nghe tiếng chuông chiều ngân vang bên dòng suối Vũ Hóa Các.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- 100 Songgwangsaan-gil, Songgwang-myeon, Suncheon-si, Jeollanam-do (sườn tây núi Jogyesan)
- Đường tới
- Chùa nằm tại số 100 Songgwangsaan-gil, xã Songgwang-myeon, thành phố Suncheon, tỉnh Jeollanam-do. Từ ga tàu cao tốc KTX Suncheon hoặc bến xe buýt liên tỉnh Suncheon, quý vị đón tuyến xe buýt nội đô số 111 chạy thẳng vào bến xe đầu đường rừng chùa Tùng Quảng (mất khoảng 65 tới 75 phút), sau đó đi bộ khoảng 15 phút dưới tán rừng thông mát rượi dọc bờ suối để qua cầu Vũ Hóa Các vào chùa.
- Toạ độ
- 35.0022, 127.2761
Tùng Quảng Tự hiện là đại tùng lâm đang tu học nghiêm mật với nhiều khu vực nội viện hạn chế du khách (đặc biệt là khu Tu Thiền Xã nơi chư tăng đang tọa thiền và bên trong tòa Quốc Sư Điện Quốc bảo số 56 vốn đóng cửa quanh năm để bảo vệ tranh cổ). Khi đi ngang qua các dãy tăng xá có biển báo Chỉ tịnh (im lặng), xin quý vị bước nhẹ chân, tuyệt đối không trò chuyện lớn tiếng, không tự ý mở cửa giấy các phòng tu hay chụp ảnh chư tăng khi chưa xin phép. Quần áo cần lịch sự kín đáo, tháo mũ và giày dép ngay ngắn trước bậc đá khi vào lễ Phật tại Đại Hùng Bảo Điện.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Tùng Quảng (Songgwangsa), Suncheon
Contribute photos, information or video for Songgwangsa Temple, SuncheonThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao chùa Tùng Quảng (Songgwangsa) được tôn xưng là Tăng Bảo Tông sát?
Trong bộ ba Tam Bảo tự của Phật giáo Hàn Quốc, nếu chùa Thông Độ đại diện cho Phật bảo (thờ xá lợi Phật) và chùa Hải Ấn đại diện cho Pháp bảo (lưu giữ Bát Vạn Đại Tạng Kinh), thì chùa Tùng Quảng đại diện cho Tăng bảo vì nơi đây Phổ Chiếu Quốc sư Tri Nột đã lập cộng đoàn Định Huệ Xã và hun đúc liên tiếp 16 vị Quốc sư cùng hàng nghìn bậc cao tăng suốt tám thế kỷ.
Mười sáu vị Quốc sư của chùa Tùng Quảng là những ai?
Đó là mười sáu bậc tôn túc trụ trì hoặc xuất thân từ Tu Thiền Xã được vua Cao Ly và đầu triều Joseon sắc phong danh hiệu Quốc sư (thầy của bậc đế vương), mở đầu bằng Phổ Chiếu Quốc sư Tri Nột (1158 tới 1210), tiếp nối bởi Chân Giác Quốc sư Huệ Thầm và kéo dài tới vị thứ mười sáu là Cao Phong Hòa thượng Pháp Tạng đầu thời Joseon. Chân dung cả 16 ngài hiện được thờ trang trọng trong tòa Quốc Sư Điện (Quốc bảo số 56).
Chùa Tùng Quảng có nằm trong danh sách bảy ngôi sơn tự Di sản Thế giới UNESCO năm 2018 không?
Không. Trên cùng ngọn núi Jogyesan của thành phố Suncheon, ngôi chùa nằm trong hồ sơ bảy sơn tự UNESCO (Sansa, 2018) là chùa Tiên Nham (Seonamsa) ở sườn đông. Chùa Tùng Quảng ở sườn tây được xếp hạng Di tích Lịch sử Quốc gia Hàn Quốc số 506 cùng ba Quốc bảo độc lập (số 42, 43 và 56), khách hành hương có thể kết hợp đi bộ xuyên đường mòn đèo núi Jogyesan nối liền cả hai ngôi danh lam trong một ngày.
Tòa Quốc Sư Điện (Quốc bảo số 56) có giá trị kiến trúc đặc biệt như thế nào?
Dựng lần đầu năm 1369 cuối thời Cao Ly và trùng tu lớn năm 1528 đầu thời Joseon, Quốc Sư Điện may mắn thoát khỏi cả chiến hỏa năm 1597 lẫn chiến tranh Triều Tiên năm 1951. Công trình giữ nguyên lối kết cấu đấu củng đầu cột (jusimpo) mộc mạc, thanh thoát và hệ vì kèo gỗ cổ hiếm hoi còn sót lại từ giai đoạn đầu triều Joseon.
Chiếc máng gỗ khổng lồ Bisari Gusi trong chùa dùng để làm gì?
Bisari Gusi là chiếc máng gỗ đẽo nguyên khối từ thân cây cử cổ thụ vào năm 1724, dài gần 5 mét và có thể chứa cơm nấu từ bảy bao gạo lớn phục vụ cùng lúc khoảng bốn nghìn người về dự đại lễ tưởng niệm Quốc sư, phản ánh quy mô tu học và tiếp chúng rộng lớn của ngôi Tăng bảo tự xưa.