VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đại thánh đường Samarra và Tháp xoắn ốc Malwiya

Jami al-Mutawakkil, جامع سامراء الكبير, Tháp Malwiya

Kiệt tác kiến trúc Hồi giáo thời kỳ hoàng kim của đế chế Abbasid bên bờ đông sông Tigris, khởi dựng năm 848 SCN với vòng tường thành gạch nung 44 tháp bán trụ và ngọn Tháp giáo đường xoắn ốc Malwiya vươn cao 52 mét giữa bầu trời Lưỡng Hà.

Khởi dựng
Năm 848 - 851 SCN
Niên lịch Hijri 234 tới 236 AH, đời Khalip Al-Mutawakkil
Tháp Malwiya
Cao 52 m (đế 33x33 m)
Đường dốc xoắn ốc 5 vòng ngược chiều kim đồng hồ
Xếp hạng
Di sản Thế giới UNESCO
Thành phố khảo cổ Samarra (số 276rev, năm 2007)

Đứng trên vùng bình nguyên phù sa vàng rực bên bờ đông dòng sông Tigris, cách thủ đô Baghdad khoảng 125 km về phía bắc, quý vị sẽ thấy một khối tháp đá sa thạch và gạch nung khổng lồ vươn thẳng lên bầu trời xanh thẫm như một cơn lốc xoáy hóa đá giữa sa mạc Lưỡng Hà. Đó là Tháp giáo đường Malwiya cao 52 mét với đường dốc xoắn ốc năm vòng cuốn ngược chiều kim đồng hồ từ chân đế vuông vức lên tới đỉnh vòm tròn. Ngay phía nam ngọn tháp, nối qua một chiếc cầu gạch cổ dài 27 mét, là vòng tường thành gạch nung đồ sộ dài 239 mét, rộng 156 mét được đỡ bởi bốn mươi tư ngọn tháp bán trụ đều đặn như một pháo đài tâm linh giữa cố đô.

Được khởi dựng vào năm 848 và hoàn thành năm 851 dưới triều đại vị Khalip thứ mười của vương triều Abbasid là Al-Mutawakkil, Đại thánh đường Samarra (Jami al-Mutawakkil) từng giữ vị trí là thánh đường Hồi giáo lớn nhất thế giới suốt hơn bốn thế kỷ. Dù phần mái gỗ và hàng trăm cột trụ bên trong lòng điện đã sụp đổ sau biến cố thế kỷ 13, vòng tường thành uy nghiêm cùng ngọn tháp xoắn ốc Malwiya vẫn đứng vững qua hơn một thiên niên kỷ, được UNESCO ghi danh là Di sản Thế giới năm 2007 như chứng tích nguyên vẹn duy nhất của một siêu đô thị Hồi giáo thời trung đại.

Đại thánh đường Samarra và Tháp xoắn ốc Malwiya
Đại thánh đường Samarra và Tháp xoắn ốc Malwiya. Ảnh: Izzedine, giấy phép CC BY 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

IKinh Đô Surra Man Ra'a Và Khát Vọng Kiến Trúc Của Vương Triều Abbasid

Để hiểu vì sao một đại thánh đường có quy mô vượt xa mọi công trình đương thời lại được dựng lên tại Samarra, cần quay lại bối cảnh cực thịnh của Vương triều Abbasid (750 tới 1258 SCN), đế chế từng cai quản một lãnh thổ trải dài từ Tunisia ở Bắc Phi tới tận vùng Transoxiana ở Trung Á. Vào năm 836 SCN (221 AH), vị Khalip thứ tám là Al-Mu'tasim quyết định rời kinh đô từ Baghdad lên vùng đất bên bờ đông sông Tigris để lập một kinh đô hành chính và quân sự mới. Khi công trình hoàn thành, ông đặt tên chính thức cho kinh thành theo lối chơi chữ tiếng Ả Rập dựa trên địa danh Lưỡng Hà cổ đại là Surra Man Ra'a (سر من رأى, nghĩa là Ai nhìn thấy cũng vui mừng), về sau đọc rút gọn trong khẩu ngữ thành Samarra.

Khi vị Khalip thứ mười là Al-Mutawakkil (trị vì từ năm 847 tới 861 SCN) lên ngôi, kinh thành Samarra đã phát triển dọc theo bờ sông Tigris suốt chiều dài hơn 35 km. Nhận thấy thánh đường cũ của Al-Mu'tasim đã trở nên quá chật hẹp trước hàng vạn cư dân, quan quân và học giả tụ hội vào mỗi buổi lễ trưa thứ Sáu, đồng thời muốn khẳng định uy quyền tối thượng của vương triều thông qua kiến trúc, năm 234 lịch Hijri (tức năm 848 SCN) Al-Mutawakkil đã ban chiếu khởi dựng một Đại thánh đường cộng đoàn (Masjid al-Jami) mới ở phía đông thành phố, mở rộng vào khu vực vườn săn bắn hoàng gia bên nhánh kênh đào vĩ đại Nahrawan.

Theo giáo nghĩa

Trong thiết chế Hồi giáo thời trung đại, ngoài chức năng là nơi cầu nguyện năm lần mỗi ngày, Đại thánh đường cộng đoàn (Jami) còn là trung tâm gắn kết toàn thể cộng đồng tín đồ (Ummah) vào buổi lễ nguyện tập thể trưa thứ Sáu (Salat al-Jumu'ah), nơi bài thuyết giảng chính thức (Khutbah) được xướng lên nhân danh vị Khalip đương triều. Với tổng diện tích bao gồm cả vòng sân ngoài (ziyada) lên tới 165.886 mét vuông (gần 17 héc-ta) và sức chứa từ 60.000 tới 80.000 tín đồ cùng lúc quỳ lạy hướng về Mecca, Đại thánh đường Samarra được thiết kế để toàn bộ cư dân kinh thành có thể cùng hội tụ dưới một mái nhà chung.

Điểm nhấn biểu tượng cao nhất của công trình là ngọn Tháp giáo đường Malwiya (Al-Minarat al-Malwiyya, tiếng Ả Rập nghĩa là Tháp xoắn ốc hay Vỏ ốc xoắn). Trong nghi thức Hồi giáo, tháp minaret là nơi người xướng lễ (muezzin) bước lên đỉnh cao để cất tiếng gọi cầu nguyện (adhan). Bằng việc đưa ngọn tháp vươn tới độ cao 52 mét với hình khối xoắn ốc độc nhất vô nhị nhìn thấy từ hàng chục cây số trên mặt sông Tigris và đồng bằng Lưỡng Hà, các kiến trúc sư thời Abbasid đã biến tháp gọi lễ thành một cột mốc thị giác hùng tráng khẳng định sự hiện diện của đức tin Hồi giáo giữa cái nôi văn minh cổ đại.

Chỗ hay hiểu lầm

Khi đọc về nguồn gốc hình dáng xoắn ốc của tháp Malwiya, nhiều sách du lịch thường khẳng định chắc chắn rằng ngọn tháp được sao chép trực tiếp từ các đài Ziggurat của vùng Lưỡng Hà cổ đại (như tháp Babel ở Babylon hay Ziggurat ở Ur). Tuy nhiên, giới nghiên cứu lịch sử nghệ thuật Hồi giáo hiện đại (tiêu biểu là các giáo sư Richard Ettinghausen, Oleg Grabar và Jonathan Bloom) đã chỉ ra sự khác biệt căn bản về cấu trúc: các đài Ziggurat cổ đại của người Sumer và Babylon hầu hết có thân xếp tầng hình vuông hoặc chữ nhật với cầu thang thẳng, trong khi tháp Malwiya có thân hình trụ nón tròn với đường dốc xoắn ốc liên tục bao quanh, gần gũi hơn với ngọn tháp Minar-i Khusrawjird hoặc trụ tháp tròn tại cố đô Gor (Firuzabad) của đế chế Sasanian Ba Tư. Do đó, tháp Malwiya cần được nhìn nhận như một sáng tạo hình học độc lập của kiến trúc Abbasid thế kỷ 9 trên nền tảng kỹ thuật xây gạch vùng Lưỡng Hà và Ba Tư.

Một điểm vênh số liệu khác trong các tài liệu thứ cấp là số lượng gian dọc (aisles) của sảnh cầu nguyện chính: một số trang tóm tắt ghi sảnh có 17 gian dọc, nhưng hồ sơ khai quật khảo cổ trực tiếp của học giả người Đức Ernst Herzfeld (1911 tới 1914) và hồ sơ Di sản Thế giới của UNESCO khẳng định sảnh cầu nguyện chính có 25 gian dọc và 9 bước cột chiều sâu, khớp hoàn toàn với 24 ô cửa sổ trên bức tường Qibla phía nam (mỗi gian dọc một cửa sổ, trừ gian trung tâm đặt hốc Mihrab). Thư viện ghi nhận con số chuẩn khảo cổ là 25 gian dọc và chú thích rõ điểm vênh 17 gian của nguồn thứ cấp.

IIHơn Một Thiên Niên Kỷ Từ Thời Hoàng Kim Abbasid Tới Di Sản Thế Giới

Lịch sử của Đại thánh đường Samarra gắn liền với sự hưng thịnh rực rỡ mà ngắn ngủi của kinh đô Samarra trong thế kỷ 9, trước khi nơi đây trở thành di chỉ khảo cổ đô thị thời trung đại lớn nhất và nguyên vẹn nhất còn lại trên thế giới.

  • 836 SCN (221 AH)Khalip Al-Mu'tasim định đô tại Samarra
    Khalip thứ tám của vương triều Abbasid là Al-Mu'tasim dời đô từ Baghdad lên bờ đông sông Tigris, sáng lập kinh đô mới mang tên Surra Man Ra'a (Samarra).
  • 848 - 851 SCN (234 - 236 AH)Khalip Al-Mutawakkil khởi dựng và hoàn thành Đại thánh đường
    Khalip Al-Mutawakkil huy động các kiến trúc sư và nghệ nhân khắp đế chế khởi công xây dựng Đại thánh đường và tháp xoắn ốc Malwiya vào năm 848, hoàn thành vào năm 851 (một số nguồn ghi phần hoàn thiện tháp kéo dài tới năm 852) với kinh phí khoảng 15 triệu dirham bạc.
  • 859 - 879 SCNTruyền cảm hứng cho Thánh đường Abu Dulaf và Ibn Tulun
    Kiểu mẫu sân chữ nhật bao bọc bởi hành lang ziyada và tháp xoắn ốc của Đại thánh đường Samarra được tái hiện tại Thánh đường Abu Dulaf ở bắc Samarra (859 SCN) và truyền cảm hứng trực tiếp cho Thánh đường Ibn Tulun tại Cairo, Ai Cập (879 SCN).
  • 892 SCN (279 AH)Vương triều Abbasid chuyển kinh đô trở lại Baghdad
    Khalip Al-Mu'tamid dời kinh đô trở về Baghdad năm 892. Nhờ không bị các lớp đô thị hiện đại xây đè lên trên, toàn bộ quy hoạch kinh thành Samarra và Đại thánh đường được bảo lưu nguyên trạng mặt bằng thế kỷ 9.
  • 1258 - 1259 SCN (656 AH)Hư hại nặng trong cuộc chinh phạt của Húc Liệt Ngột
    Trong chiến dịch chinh phạt vùng Lưỡng Hà của Húc Liệt Ngột (Hulagu Khan) năm 1258 tới 1259, hệ mái gỗ phẳng và hàng cột bên trong Đại thánh đường bị hủy hoại, chỉ còn bức tường thành gạch nung 44 tháp bán trụ và ngọn tháp đá xoắn ốc Malwiya trụ vững.
  • 1911 - 1914 và 1956Khai quật khảo cổ của Ernst Herzfeld và trùng tu hiện đại
    Nhà khảo cổ học người Đức Ernst Herzfeld tiến hành khai quật quy mô lớn và lập bản vẽ phục dựng toàn bộ mặt bằng thánh đường từ năm 1911 tới 1914. Từ năm 1956, Cơ quan Cổ vật Quốc gia Iraq tiến hành gia cố các bậc thang tháp Malwiya và tường bao.
  • 2007 và 2015Ghi danh Di sản Thế giới UNESCO và dự án bảo tồn
    Năm 2007, UNESCO chính thức ghi danh Thành phố khảo cổ Samarra (với tâm điểm là Đại thánh đường và tháp Malwiya) là Di sản Thế giới theo tiêu chí ii, iii và iv. Năm 2015, UNESCO phối hợp cùng Iraq triển khai dự án trùng tu phần đỉnh tháp từng bị hư hại nhẹ năm 2005.
Theo sử liệu

Sử gia kiêm nhà địa lý học thế kỷ 9 là Al-Ya'qubi (mất năm 897) trong tác phẩm Kitab al-Buldan (Sách về các xứ sở) và sử gia Al-Tabari đã ghi chép tỉ mỉ về chương trình kiến thiết vĩ đại của Khalip Al-Mutawakkil tại Samarra. Tổng chi phí cho việc xây dựng Đại thánh đường cùng khoảng hai mươi cung điện hoàng gia tiêu tốn từ 258 tới 294 triệu dirham bạc. Riêng tại Đại thánh đường, Al-Mutawakkil đã cho vận chuyển các cột đá cẩm thạch quý từ khắp vùng Địa Trung Hải về gắn vào bốn góc của từng trụ gạch bát giác, đồng thời cho rước một bồn đá nguyên khối khổng lồ gọi là Kasat al-Fir'awn (Chiếc cốc của Pharaoh, vốn do vị Khalip tiền nhiệm Al-Wathiq chế tác) bằng sức kéo của những đàn voi về đặt ngay giữa sân thánh đường làm đài phun nước tẩy tịnh.

IIITường Thành 44 Tháp Bán Trụ, Sảnh 464 Trụ Bát Giác Và Tháp Xoắn Ốc Malwiya

Về mặt quy hoạch kiến trúc, Đại thánh đường Samarra là đỉnh cao của loại hình thánh đường đa trụ (hypostyle mosque) thời kỳ đầu Hồi giáo. Toàn bộ quần thể được đặt bên trong một khuôn viên mở rộng hình chữ nhật khổng lồ gọi là Ziyada dài 444 mét và rộng 376 mét (diện tích 165.886 mét vuông), đóng vai trò như một vùng đệm tĩnh lặng tách biệt không gian cầu nguyện khỏi nhịp sống ồn ào của khu phố chợ xung quanh.

Ở chính giữa khu Ziyada ấy là tòa thánh đường nội vi hình chữ nhật có kích thước 239 mét nhân 156 mét (diện tích khoảng 3,8 héc-ta), tuân thủ tỷ lệ vàng gần bằng 3 phần 2. Bao bọc bốn mặt thánh đường là bức tường gạch nung dày tới 2,65 mét và cao 10,5 mét, tạo nhịp điệu kiến trúc vô cùng khỏe khoắn nhờ hệ thống 44 ngọn tháp bán trụ (gồm 4 tháp tròn ở bốn góc và 40 tháp bán trụ dọc bốn mặt tường) cùng 16 cổng ra vào lớn.

Tháp giáo đường xoắn ốc Malwiya cao 52 mét

Đứng ở phía bắc thánh đường, xây bằng đá sa thạch và gạch nung trên một bệ đế hình vuông mỗi cạnh dài 33 mét, cao 3 mét có trang trí các hốc vòm nhọn. Từ bệ vuông vươn lên thân tháp hình nón cụt với đường dốc bậc thang rộng 2,3 mét xoắn 5 vòng ngược chiều kim đồng hồ lên tới đài tròn trên đỉnh ở độ cao 52 mét.

Cầu gạch dẫn nối dài 27 mét

Nối liền từ chân đế phía nam của tháp Malwiya thẳng tới cổng chính phía bắc của bức tường thánh đường là một chiếc cầu dẫn bằng gạch nung dài 27,25 mét và rộng khoảng 9 mét, tạo thành trục thần đạo kiến trúc độc đáo.

Tường thành gạch nung 44 tháp bán trụ và 28 cửa sổ

Chu vi tường bao 239m nhân 156m được gia cố bằng 44 tháp bán trụ đặt cách đều nhau khoảng 15 mét. Phía trên cao của bức tường có 28 ô cửa sổ thông gió và lấy sáng, trong đó riêng bức tường Qibla phía nam có 24 cửa sổ chạm khung vòm năm múi (ngũ diệp) ở mặt trong.

Sảnh cầu nguyện đa trụ (Haram) với 464 trụ gạch và cột cẩm thạch

Theo khảo cổ của Ernst Herzfeld, không gian bên trong gồm một sân lớn (Sahn) bao quanh bởi hành lang cột ở ba mặt (sâu 3 tới 4 bước cột) và sảnh cầu nguyện chính ở phía nam gồm 25 gian dọc nhân 9 bước cột chiều sâu. Toàn bộ mái gỗ phẳng cao 11 mét từng được nâng đỡ bởi 464 trụ gạch hình bát giác đặt trên một tấm móng gạch liền khối, bốn góc mỗi trụ gạch đều ghép bốn cột đá cẩm thạch tròn.

Hốc Mihrab khảm thủy tinh xanh vàng và đài phun nước Pharaoh

Ở chính giữa bức tường phía nam là hốc chỉ hướng cầu nguyện Mihrab cỡ lớn được tạo dáng như một khung cổng vòm kép, xưa kia ốp kín tranh khảm (mosaic) bằng thủy tinh màu xanh lam thẫm và thếp vàng. Giữa sân trung tâm từng đặt bồn đá nguyên khối Kasat al-Fir'awn (Chiếc cốc của Pharaoh) có mái vòm che lát đá cẩm thạch.

Một chi tiết kỹ thuật đáng kinh ngạc trên Tháp xoắn ốc Malwiya là phép hiệu chỉnh thị giác của các kiến trúc sư thế kỷ 9: khi thân tháp thu nhỏ dần đường kính từ dưới lên trên theo hình nón, nếu giữ nguyên độ dốc của đường xoắn thì các tầng trên sẽ trông thấp lùn hơn các tầng dưới. Để khắc phục, các bậc thầy xây dựng thời Abbasid đã tăng dần độ dốc của đường bậc thang ở mỗi vòng xoắn phía trên, nhờ đó cả 5 tầng xoắn ốc đều giữ được chiều cao thẳng đứng tương đương nhau khi nhìn từ dưới mặt đất lên, tạo cảm giác ngọn tháp vươn cao bất tận vào bầu trời. Thiết kế xoắn ốc kiệt xuất này về sau đã truyền cảm hứng trực tiếp cho nhiều công trình kiến trúc Hồi giáo trung đại cũng như Nhà nguyện Lễ Tạ Ơn (Chapel of Thanksgiving, 1976) của kiến trúc sư Philip Johnson tại Hoa Kỳ và Thánh đường Sheikh Khalifa tại Al Ain (UAE).

IVThế Đất Và Hướng

Cũng như mọi công trình của đạo Hồi, Đại thánh đường Samarra không được xây dựng theo thuật phong thủy phương Đông. Quy tắc định hướng tối cao và bắt buộc của toàn bộ quần thể là trục Qibla: bức tường chính của sảnh cầu nguyện và hốc Mihrab phải quay thẳng về hướng thánh địa Kaaba tại Đại Thánh đường Masjid al-Haram ở Mecca. Phần dưới đây là cách đọc địa hình châu thổ sông Tigris và trục định hướng của công trình dưới góc nhìn phong thủy hình thế cổ truyền của thư viện để quý vị đối chiếu.

Thế đất và hướng

Xét về đại cục sơn thủy và thủy pháp Lưỡng Hà, cố đô Samarra nằm trên bậc thềm địa chất cao ráo bằng đá cuội kết khối và đất phù sa cổ dọc theo bờ đông của dòng sông Tigris (Dijlah), ngay tại khu vực chuyển tiếp giữa vùng Thượng Lưỡng Hà (Al-Jazira) và đồng bằng phù sa Hạ Lưỡng Hà. Trong pháp nhãn hình thế, dòng sông Tigris rộng lớn chảy uốn khúc từ tây bắc xuống đông nam ở phía tây thành phố đóng vai trò là đại thủy long cấp nguồn sinh khí, trong khi ở phía đông và phía bắc, các vị Khalip nhà Abbasid đã cho đào hệ thống kênh dẫn thủy khổng lồ là kênh Qatul al-Kisrawi và kênh Nahrawan ôm vòng lấy thành phố. Nhờ vậy, Đại thánh đường Samarra nằm trọn trong thế đất lưỡng thủy kẹp hộ (phía tây có sông chính Tigris, phía đông có hệ thống kênh đào Nahrawan và vườn ngự uyển), vừa cao ráo tránh được lũ lụt mùa nước nổi, vừa được mạch nước bao bọc bốn bề.

Xét về tọa độ, trục hướng và thế đứng của tháp Malwiya, tại tọa độ thực địa 34,20622 độ vĩ Bắc và 43,87991 độ kinh Đông, toàn bộ hình chữ nhật 239m nhân 156m của Đại thánh đường và chiếc cầu dẫn dài 27m nối sang tháp Malwiya được kẻ theo một trục thẳng tắp chạy từ Bắc Tây Bắc xuống Nam Đông Nam (hướng mặt Qibla nhìn về Mecca ở góc phương vị khoảng 198 độ Nam Tây Nam). Nếu đọc theo bố cục hình thế phương Đông, ngọn Tháp xoắn ốc Malwiya cao 52 mét đứng sừng sững ở đầu trục phía bắc giống hệt một ngọn nhân tạo thiếu tổ sơn hoặc một cây bút tháp văn xương khổng lồ làm hậu chẩm vững chãi cho toàn bộ thánh đường. Đặc biệt, đường dốc xoắn ốc của tháp Malwiya quay ngược chiều kim đồng hồ từ dưới đất vươn lên trời cao (nếu nhìn từ trên đỉnh xuống là xoắn thuận chiều kim đồng hồ tụ vào tâm đế vuông 33m nhân 33m), kết hợp giữa đế vuông (tượng trưng cho Đất, sự tĩnh tại vững bền) và thân tháp tròn xoắn ốc (tượng trưng cho Trời, sự vận động sinh sôi của vũ trụ), tạo nên một biểu tượng giao hòa Trời Đất kỳ vĩ giữa bình nguyên sông Tigris.

VTừ Đại Lễ Thứ Sáu Thời Abbasid Tới Không Gian Di Sản Thế Giới

Ngày nay Đại thánh đường Samarra là một khu di tích khảo cổ cấp quốc gia và Di sản Thế giới UNESCO chứ không còn là nơi cử hành lễ nguyện thường nhật có mái che như thời trung đại. Tuy nhiên, qua các biên niên sử Ả Rập thế kỷ 9 và hoạt động văn hóa đương đại tại thành phố Samarra, chúng ta có thể hình dung trọn vẹn các nghi lễ tôn giáo và sự kiện văn hóa gắn liền với kỳ quan này.

Các nghi lễ lịch sử thời vương triều Abbasid và hoạt động văn hóa tại khu di sản Đại thánh đường Samarra. Nguồn: Tổng hợp từ hồ sơ Di sản Thế giới UNESCO số 276rev và sử liệu của Al-Ya'qubi (thế kỷ 9)..
Thời điểm / Dịp lễTên nghi thức / Sự kiệnNội dung lịch sử và hoạt động hiện nay
Trưa thứ Sáu hằng tuần (Thời Abbasid thế kỷ 9 - 13)Đại lễ nguyện cộng đoàn (Salat al-Jumu'ah)Dưới triều Khalip Al-Mutawakkil, người xướng lễ (muezzin) bước theo đường xoắn ốc lên đỉnh tháp Malwiya cao 52 mét để cất tiếng gọi Adhan. Hàng vạn cư dân, học giả và binh sĩ kinh thành Samarra tập trung tại sân Sahn và sảnh 464 trụ cột để nghe thuyết giảng Khutbah và cầu nguyện.
Ngày 1 tháng Shawwal và 10 tháng Dhu al-Hijjah (Lịch Hijri)Đại lễ Eid al-Fitr và Eid al-AdhaTrong lịch sử, khu vực vòng sân ngoài Ziyada rộng hơn 16,5 héc-ta là nơi toàn thể cư dân Samarra hội tụ cử hành đại lễ kết thúc tháng chay Ramadan và lễ hiến sinh. Ngày nay, cư dân địa phương và du khách thường tới quảng trường quanh tháp Malwiya vào hai dịp lễ Eid để dạo chơi và chụp ảnh kỷ niệm.
Quanh năm (từ năm 2007 tới nay)Tham quan khảo cổ và nghiên cứu Di sản UNESCOCác đoàn khảo cổ học quốc tế, kiến trúc sư và du khách tới khảo sát bức tường thành 44 tháp bán trụ, cầu gạch 27 mét và chiêm ngưỡng hình khối xoắn ốc của tháp Malwiya lúc bình minh và hoàng hôn.

Hình ảnh ngọn tháp xoắn ốc Malwiya từ lâu đã vượt ra khỏi phạm vi của một di tích khảo cổ để trở thành biểu tượng văn hóa quốc gia của đất nước Iraq, từng được in trang trọng trên tờ tiền giấy mệnh giá 250 dinar của Iraq và trên nhiều bộ tem bưu chính kỷ niệm di sản văn minh Lưỡng Hà.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Bờ đông sông Tigris, thành phố khảo cổ Samarra, tỉnh Saladin (Salah al-Din), Iraq (cách thủ đô Baghdad khoảng 125 km về phía bắc)
Đường tới
Tọa lạc bên bờ đông sông Tigris tại thành phố Samarra, tỉnh Saladin, cách thủ đô Baghdad khoảng 125 km về phía bắc tây bắc. Quý vị di chuyển bằng ô tô từ Baghdad theo tuyến Quốc lộ số 1 (Highway 1 nối Baghdad và Mosul) hướng lên phía bắc qua Balad tới lối rẽ vào trung tâm thành phố Samarra.
Toạ độ
34.20622, 43.87991
Khi tới nơi

Khi tới tham quan Đại thánh đường Samarra và Tháp xoắn ốc Malwiya, quý vị lưu ý đây là khu di chỉ khảo cổ ngoài trời nằm giữa vùng khí hậu khô nóng, không có bóng cây che mát bên trong lòng thánh đường, nên cần chuẩn bị mũ rộng vành, nước uống và giày đi bộ đế thấp bám đất tốt. Để bảo vệ kết cấu gạch đá hơn 1.170 năm tuổi và đảm bảo an toàn cá nhân trên lối dốc không có lan can chắn cao, quý vị cần tuân thủ hướng dẫn của nhân viên bảo tồn tại chỗ khi tiếp cận khu vực chân đế và đường dốc xoắn ốc của tháp Malwiya.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đại thánh đường Samarra và Tháp xoắn ốc Malwiya

Contribute photos, information or video for Great Mosque of Samarra

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đại thánh đường Samarra và Tháp xoắn ốc Malwiya được xây dựng năm nào và do ai khởi xướng?

Quần thể được khởi công vào năm 848 SCN (234 AH) và hoàn thành vào năm 851 SCN (236 AH, một số nguồn ghi phần tháp hoàn tất năm 852) theo lệnh của vị Khalip thứ mười thuộc vương triều Abbasid là Al-Mutawakkil, khi Samarra đang là kinh đô của đế chế Hồi giáo.

Vì sao Đại thánh đường Samarra từng được coi là thánh đường lớn nhất thế giới?

Trong suốt hơn bốn thế kỷ từ khi hoàn thành năm 851 cho tới thế kỷ 13, đây là thánh đường lớn nhất thế giới với tòa nội vi rộng 239m nhân 156m (khoảng 3,8 héc-ta) và vòng sân ngoài Ziyada rộng 444m nhân 376m (tổng diện tích 165.886 mét vuông), có khả năng chứa từ 60.000 tới 80.000 tín đồ cùng lúc.

Tháp giáo đường xoắn ốc Malwiya có kích thước và cấu trúc đặc biệt như thế nào?

Tháp Malwiya (nghĩa là Vỏ ốc xoắn) cao 52 mét, đặt trên một bệ đế hình vuông mỗi cạnh dài 33 mét, nối với thánh đường bằng một cây cầu gạch dài 27 mét. Bao quanh thân tháp hình nón là một đường dốc bậc thang rộng 2,3 mét xoắn 5 vòng ngược chiều kim đồng hồ dẫn lên đài tròn trên đỉnh tháp.

Bên trong sảnh cầu nguyện của Đại thánh đường xưa kia được bố trí ra sao?

Theo hồ sơ khai quật của nhà khảo cổ học Ernst Herzfeld và UNESCO, sảnh cầu nguyện chính ở phía nam từng có 25 gian dọc và 9 bước cột chiều sâu, mái gỗ phẳng cao 11 mét được nâng đỡ bởi 464 trụ gạch hình bát giác gắn bốn cột đá cẩm thạch ở bốn góc, cùng hốc Mihrab khảm thủy tinh xanh lam và thếp vàng.

Đại thánh đường Samarra được công nhận là Di sản Thế giới UNESCO vào năm nào?

Vào năm 2007, UNESCO đã chính thức ghi danh Thành phố khảo cổ Samarra (trong đó Đại thánh đường Samarra và Tháp xoắn ốc Malwiya là công trình trung tâm tiêu biểu nhất) vào Danh sách Di sản Thế giới theo các tiêu chí ii, iii và iv.

›Đọc Tiếp