Đi dọc Quốc lộ 55 qua địa phận xã Đồng Kho, nơi thung lũng Tánh Linh mở rộng bên bờ sông La Ngà, quý vị sẽ thấy dãy núi rừng xanh thẫm vươn lên ở phía đông và một quảng trường rộng lớn nằm ngay dưới chân sườn đồi. Từ mặt sân bằng phẳng dưới thấp nhìn ngược lên lưng chừng núi Tà Pao, giữa tán cây rừng nhiệt đới hiện ra một pho tượng Đức Mẹ màu trắng đứng trên bệ cao, mặt hướng về phía dòng sông và cánh đồng trải dài dưới thung lũng.
Đó là Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Tà Pao, thường gọi là Trung tâm Thánh Mẫu Tà Pao, điểm quy tụ hành hương lớn nhất của Giáo phận Phan Thiết và là một trong những trung tâm hành hương Công giáo tiêu biểu nhất tại Việt Nam. Tên gọi Tà Pao bắt nguồn từ tiếng người K'Ho bản địa, có nghĩa là một giấc mơ đẹp, vừa là tên ngọn núi vừa là tên con suối chảy qua vùng đất này trước khi hòa vào dòng sông La Ngà.

IDanh xưng Tà Pao, hình tượng Đức Mẹ và vai trò Trung tâm Thánh Mẫu
Trong đời sống đạo của người Công giáo Việt Nam, mỗi trung tâm hành hương kính Đức Mẹ đều gắn với một bối cảnh địa lý và một dấu mốc lịch sử riêng. Nếu La Vang ở Quảng Trị là Trung tâm Thánh Mẫu Toàn quốc gắn với ký ức cuối thế kỷ 18, hay Trà Kiệu ở Đà Nẵng gắn với ngôi đền trên đồi Bửu Châu cuối thế kỷ 19, thì Tà Pao đại diện cho lớp đài Đức Mẹ được dựng lên vào giữa thế kỷ 20 tại các vùng cao nguyên và sườn núi miền Nam Trung Bộ. Cái tên Đức Mẹ Tà Pao không phải là một tước hiệu thần học tách biệt trong lịch phụng vụ hoàn vũ, mà là cách gọi thân thuộc của tín hữu lấy tên ngọn núi Tà Pao của người K'Ho để định danh nơi tôn kính Đức Trinh Nữ Maria.
Theo ngữ nghĩa bản địa của cư dân K'Ho sinh sống lâu đời dọc lưu vực sông La Ngà, hai tiếng Tà Pao có nghĩa là một giấc mơ đẹp. Sự giao thoa giữa một địa danh dân tộc thiểu số Nam Trường Sơn với lòng sùng kính Thánh Mẫu Công giáo đã tạo nên bản sắc riêng của nơi này. Người hành hương từ khắp các giáo phận miền Nam, miền Trung và Tây Nguyên khi nhắc đến Tà Pao đều hình dung ngay một linh đài nằm giữa núi rừng tĩnh lặng, nơi việc cầu nguyện gắn liền với từng bước chân leo bậc đá lên sườn núi.
Về mặt giáo nghĩa và phụng vụ, việc tôn kính Đức Mẹ tại các trung tâm hành hương như Tà Pao thuộc về lòng đạo đức bình dân kết hợp chặt chẽ với phụng vụ Thánh Thể của Giáo hội Công giáo. Giáo hội phân biệt rạch ròi giữa sự thờ phượng tuyệt đối (latria) chỉ dành riêng cho Thiên Chúa Ba Ngôi và sự tôn kính đặc biệt (hyperdulia) dành cho Đức Trinh Nữ Maria với tư cách là Thân Mẫu của Chúa Giêsu Kitô và là Mẹ thiêng liêng của các tín hữu. Do đó, mọi cuộc hành hương về Tà Pao đều có hai chiều kích bổ túc cho nhau: chiều kích cá nhân là việc leo lên Linh đài trên sườn núi để đọc kinh, lần hạt Mân Côi và dâng lời nguyện xin trước thánh tượng, còn chiều kích cộng đoàn đạt tới đỉnh cao tại bàn thờ cử hành Thánh lễ dưới quảng trường chân núi.
Lịch hành hương tại Tà Pao cũng phản ánh rõ truyền thống tôn kính Đức Mẹ trong thế kỷ 20. Việc chọn ngày 13 hằng tháng làm ngày hành hương định kỳ và ngày 13 tháng 5 làm đại lễ chính trong năm gắn trực tiếp với truyền thống kỷ niệm biến cố Đức Mẹ hiện ra tại Fatima (Bồ Đào Nha) ngày 13 tháng 5 năm 1917 với sứ điệp kêu gọi cải thiện đời sống, siêng năng lần hạt Mân Côi và cầu nguyện cho hòa bình. Đồng thời, lễ khánh thành và làm phép thánh tượng ngày 8 tháng 12 năm 1959 lại gắn với đại lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và kỷ niệm một trăm năm Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức (Pháp, 1858 - 1958).
Xét theo hồ sơ sử liệu Công giáo Việt Nam, sự ra đời của Linh đài Đức Mẹ Tà Pao năm 1959 nằm trong chương trình của Năm Thánh Mẫu Toàn quốc (1958 - 1959) và Đại hội Thánh Mẫu Toàn quốc tổ chức tại Sài Gòn đầu năm 1959 nhân dịp kỷ niệm một thế kỷ Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức. Trong dịp này, năm pho tượng Đức Mẹ lớn đã được khởi dựng tại năm vùng đất thuộc miền Trung, miền Nam và Cao nguyên Trung phần, bao gồm: Đức Mẹ Tà Pao (tỉnh Bình Tuy cũ, nay thuộc xã Đồng Kho, tỉnh Lâm Đồng), Đức Mẹ Giang Sơn (Đắk Lắk), Đức Mẹ Thác Mơ (Phước Long cũ, nay thuộc Đồng Nai / Bình Phước cũ), Đức Mẹ Phượng Hoàng (Kon Tum cũ, nay thuộc Quảng Ngãi) và Đức Mẹ Trinh Phong (Ninh Thuận cũ, nay thuộc Khánh Hòa).
Tại thời điểm khánh thành ngày 8 tháng 12 năm 1959, vùng đất Tánh Linh - Bình Tuy còn thuộc địa hạt Giáo phận Nha Trang, nên nghi thức làm phép thánh tượng do Đức Giám mục Paul Raymond Marie Marcel Piquet Lợi (1888 - 1966, Giám mục Đại diện Tông tòa rồi Giám mục chính tòa tiên khởi Giáo phận Nha Trang) chủ sự. Đến ngày 30 tháng 1 năm 1975, khi Tòa Thánh thiết lập Giáo phận Phan Thiết tách ra từ Giáo phận Nha Trang, khu vực Tà Pao chính thức trực thuộc Giáo phận Phan Thiết và được Đức Giám mục Nicôla Huỳnh Văn Nghi (1927 - 2015) cùng các vị giám mục kế nhiệm từng bước kiến thiết thành Trung tâm Thánh Mẫu của toàn giáo phận.
Có hai điểm dễ gây nhầm lẫn trong các bài viết phổ thông về Tà Pao mà thư viện cần làm rõ bằng tư liệu xác thực. Thứ nhất, nhiều trang du lịch ghi rằng pho tượng Đức Mẹ Tà Pao năm 1959 do điêu khắc gia Lê Phát đúc mới từ đầu, trong khi các tư liệu mục vụ của Giáo phận Phan Thiết và nhân chứng lịch sử ghi nhận đồ án quy hoạch tổng thể cụm đài Đức Mẹ năm 1959 gắn với kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, còn điêu khắc gia Lê Phát (thuộc giáo xứ Ngũ Phúc, Giáo phận Xuân Lộc) là nghệ nhân đã trực tiếp lên núi thực hiện công cuộc phục chế, đắp nối hoàn chỉnh lại pho tượng vào tháng 6 và tháng 7 năm 1991 sau khi tượng bị hư hại nặng. Thư viện ghi nhận đầy đủ cả hai lớp thông tin để người đọc nắm rõ vai trò của từng nhân vật qua hai giai đoạn 1959 và 1991.
Thứ hai, về địa giới hành chính, nhiều tài liệu cũ ghi Tà Pao thuộc tỉnh Bình Tuy (giai đoạn 1956 - 1975) hoặc thuộc xã Đồng Kho, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận (giai đoạn trước ngày 1 tháng 7 năm 2025). Thực hiện Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, tỉnh Bình Thuận hợp nhất vào tỉnh Lâm Đồng mới. Tuy nhiên, về mặt quản trị mục vụ của Giáo hội Công giáo, địa giới giáo phận không thay đổi theo địa giới hành chính dân sự, nên Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Tà Pao hiện nay vẫn thuộc Giáo phận Phan Thiết chứ không thuộc Giáo phận Đà Lạt.
IIHành trình hơn sáu thập niên từ linh đài trên núi đến trung tâm hành hương
Lịch sử của Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Tà Pao trải qua ba chặng rõ rệt: chặng khởi dựng năm 1959 gắn với Năm Thánh Mẫu Toàn quốc, chặng im vắng giữa rừng già và công cuộc tìm lại cùng phục chế thánh tượng giai đoạn 1980 - 1991, và chặng kiến thiết quy mô lớn từ thập niên 2000 đến nay để đón hàng vạn khách hành hương mỗi tháng.
- 1959Khởi công và khánh thành thánh tượng Đức Mẹ Tà PaoNhân dịp Năm Thánh Mẫu Toàn quốc kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, pho tượng Đức Mẹ bằng xi măng trắng cao 3 m đặt trên bệ vuông cao 2 m được xây dựng trên sườn núi Tà Pao. Ngày 8 tháng 12 năm 1959, Giám mục Giáo phận Nha Trang Marcel Piquet Lợi chủ sự lễ làm phép và khánh thành trọng thể trước sự hiện diện của hàng vạn tín hữu.
- 1960 tới 1975Giai đoạn vắng bóng người viếng giữa rừng sâuSau lễ khánh thành năm 1959, do điều kiện đường sá vùng núi Tánh Linh - Đồng Kho còn cách trở và biến động thời cuộc, khu vực linh đài trên sườn núi Tà Pao dần vắng dấu chân người qua lại, cây rừng nhiệt đới mọc dày che khuất cả lối lên lẫn tượng đài.
- 1980Giáo dân địa phương tìm lại thánh tượngTháng 10 năm 1980 (tức rằm tháng Tám năm Canh Thân), một số giáo dân vùng kinh tế mới tại xã Đức Tân và xã Đồng Kho phát quang bụi rậm trên sườn núi Tà Pao và tìm lại được pho tượng Đức Mẹ trong tình trạng phần đầu, đôi bàn tay và bàn chân đã bị vỡ hư hại, chỉ còn phần thân tượng đứng trên bệ.
- 1989 tới 1991Phục chế hoàn chỉnh pho tượng Đức MẹLễ Phục Sinh năm 1989, một nhóm giáo dân tiếp tục lên núi tìm kiếm và thu thập lại các mảnh vỡ của phần đầu thánh tượng. Được sự chấp thuận của Giám mục Giáo phận Phan Thiết Nicôla Huỳnh Văn Nghi, từ tháng 6 năm 1991, điêu khắc gia Lê Phát (Giáo phận Xuân Lộc) được mời lên núi phục chế nguyên trạng pho tượng và hoàn tất tôn trí trở lại trên bệ đài vào ngày 1 tháng 8 năm 1991.
- 1999 tới 2000Hình thành nhịp hành hương lớn và mở lối bậc cấpTừ cuối năm 1999, các đoàn tín hữu từ khắp các tỉnh thành bắt đầu quy tụ về núi Tà Pao ngày một đông đảo. Năm 2000, hệ thống bậc cấp lát đá từ chân núi lên Linh đài Đức Mẹ dài khoảng 250 m được xây dựng để thay cho lối mòn đất đá dốc đứng trước đó.
- 2003 tới 2007Thiết lập Trung tâm Hành hương của Giáo phận Phan ThiếtTòa Giám mục Phan Thiết chính thức quy hoạch tổng thể khu vực chân núi và sườn núi Tà Pao thành Trung tâm Thánh Mẫu của giáo phận. Năm 2007, lễ đặt viên đá đầu tiên khởi công xây dựng các hạng mục hạ tầng lớn dưới chân đồi phục vụ cộng đoàn hành hương.
- 2009Năm Thánh kỷ niệm 50 năm Đức Mẹ Tà Pao (1959 - 2009)Từ ngày 8 tháng 12 năm 2008 đến ngày 8 tháng 12 năm 2009, Giáo phận Phan Thiết cử hành Năm Thánh kỷ niệm 50 năm dựng tượng Đức Mẹ Tà Pao và 35 năm thành lập giáo phận, đồng thời khánh thành lễ đài cùng quảng trường rộng lớn dưới chân núi.
- 2019 tới nayKỷ niệm 60 năm và hoàn thiện Nhà nguyện Trung tâmNăm 2019, trung tâm kỷ niệm 60 năm ngày làm phép thánh tượng (1959 - 2019). Các hạng mục Nhà nguyện Thánh Thể, nhà mục vụ, đường dốc dành cho xe lăn của người cao tuổi và Quảng trường Mân Côi tiếp tục được mở rộng đồng bộ.
Trong quá trình đối chiếu tư liệu lịch sử về Tà Pao, thư viện ghi nhận một số chi tiết bổ sung từ hồ sơ của Giáo phận Phan Thiết. Khi thánh tượng được khởi công vào ngày 22 tháng 8 năm 1959 và hoàn thành sau hơn ba tháng thi công trên sườn núi, việc vận chuyển xi măng, cát đá và nước ngọt từ dưới chân đồi lên độ cao hàng trăm mét hoàn toàn dựa vào sức người men theo sườn dốc rừng già. Đến đợt phục chế mùa hè năm 1991, nhóm thợ của điêu khắc gia Lê Phát cũng phải dựng lán trại ngay trên sườn đồi trong gần hai tháng mưa rừng, gùi từng bao xi măng trắng từ chân núi lên để đắp nối lại phần đầu, đôi tay và tà áo của Đức Mẹ sao cho khớp hoàn toàn với tỷ lệ và thần thái nguyên bản năm 1959.
Về cấp xếp hạng di sản nhà nước, Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Tà Pao hiện là cơ sở tôn giáo hoạt động hợp pháp thuộc sự quản lý mục vụ của Tòa Giám mục Phan Thiết và là điểm đến văn hóa tâm linh trọng điểm của địa phương, chưa có quyết định xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh hay cấp quốc gia. Thư viện ghi rõ trạng thái Chưa xếp hạng trong bảng dữ liệu để đảm bảo tính chính xác pháp lý.
IIICấu trúc hai tầng không gian: Quảng trường chân núi và Linh đài trên cao
Tổng thể kiến trúc của Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Tà Pao được tổ chức theo bố cục hai tầng cao độ nương theo địa hình tự nhiên của sườn núi Tà Pao. Tầng thấp dưới chân núi là không gian mở quy mô lớn dành cho phụng vụ cộng đoàn, gồm cổng chào, Quảng trường Mân Côi, lễ đài chính, Nhà nguyện Thánh Thể và khu nhà mục vụ hành hương. Tầng cao ở lưng chừng sườn núi là không gian tĩnh nguyện dành cho việc kính viếng cá nhân, tâm điểm là Linh đài đặt pho tượng Đức Mẹ Tà Pao năm 1959. Nối liền hai tầng không gian ấy là hệ thống bậc đá xẻ uốn lượn dưới tán rừng già.
Điểm đặc sắc nhất về mặt tạo hình tại Tà Pao nằm ở chính pho tượng Đức Mẹ. Khác với mẫu tượng Đức Mẹ Lộ Đức chắp tay trước ngực hay mẫu tượng Đức Mẹ Ban Ơn xuôi hai tay xuống phía dưới, pho tượng Đức Mẹ Tà Pao khắc họa hình ảnh Đức Trinh Nữ Maria đứng thẳng trên đám mây, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao, khoác áo choàng dài buông mềm theo thân hình, hai bàn tay đưa nhẹ ra phía trước trong tư thế đón nhận và chúc lành, dưới chân đạp đầu con rắn cổ. Toàn bộ khối tượng và bệ đều sơn trắng tinh khiết, nổi bật giữa nền lá rừng xanh thẫm của núi Tà Pao.
Pho tượng đúc bằng xi măng trắng cốt thép cao 3 m, đặt trên bệ vuông cao 2 m có chạm nổi hình hoa sen và mây vờn, tổng chiều cao cả tượng và bệ là 5 m. Tượng thể hiện gương mặt Đức Mẹ hiền từ, ánh mắt nhìn xuống thung lũng sông La Ngà, được khánh thành năm 1959 và phục chế nguyên trạng năm 1991.
Tuyến đường bậc thang lát đá hoa cương và đá chẻ dài khoảng 250 m với khoảng 400 bậc cấp chia làm nhiều chiếu nghỉ, dẫn từ chân đồi lên thẳng sân Linh đài Đức Mẹ. Dọc lối bậc thang có hàng cây rừng che mát và ghế đá cho khách hành hương dừng chân đọc kinh.
Quảng trường rộng hàng chục nghìn mét vuông lát gạch và trồng cây xanh dưới chân núi, đủ sức chứa hàng vạn tín hữu trong các kỳ đại lễ. Chính giữa là lễ đài mái vòm cách điệu như cánh chim và đôi bàn tay nâng đỡ, nơi cử hành Thánh lễ đồng tế ngoài trời.
Công trình kiến trúc mái dốc hiện đại kết hợp đường nét truyền thống nằm tại khu vực trung tâm dưới chân đồi, phục vụ các Thánh lễ thường ngày, giờ chầu Thánh Thể thinh lặng và nơi ban bí tích Hòa Giải cho khách hành hương.
Ngoài trục bậc đá chính, trung tâm còn mở tuyến đường dốc thoai thoải lát bê tông và đá uốn theo sườn đồi dành cho người cao tuổi, người đi xe lăn và các đoàn suy niệm Mười bốn chặng Đàng Thánh Giá giữa khung cảnh thiên nhiên.
Sự phân tách giữa lễ đài dưới chân núi và linh đài trên sườn đồi giải quyết trọn vẹn bài toán kiến trúc của một trung tâm hành hương miền núi. Khoảng đất bằng dưới chân đồi cho phép mở rộng mặt sân đón hàng chục nghìn người dự lễ mà không phải san ủi làm biến dạng cảnh quan rừng tự nhiên trên cao, trong khi khoảng sân nhỏ quanh bệ tượng trên lưng chừng núi vẫn giữ được sự gần gũi, trang nghiêm và tĩnh lặng cần thiết cho từng người quỳ cầu nguyện dưới chân Đức Mẹ.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền, hoàn toàn không phải giáo lý hay quy định của đạo Công giáo. Cần khẳng định rõ rằng Công giáo không dạy phong thủy và không chọn đất đặt tượng theo thuật số địa lý. Việc chọn sườn núi Tà Pao năm 1959 xuất phát từ mục đích mục vụ và truyền thống tôn kính Đức Mẹ trên các điểm cao tự nhiên để tín hữu từ xa có thể chiêm ngắm. Thư viện trình bày góc nhìn hình thế dưới đây như một sự đối chiếu văn hóa về địa thế sông núi của vùng thung lũng La Ngà.
Xét trên bản đồ địa hình thực tế ở tọa độ 11,13783 độ vĩ Bắc và 107,73072 độ kinh Đông, Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Tà Pao hội tụ đầy đủ cấu trúc tựa sơn hướng thủy điển hình của vùng chuyển tiếp từ cao nguyên Di Linh - Bảo Lộc xuống đồng bằng Tánh Linh. Phía sau lưng Linh đài ở phương đông và đông bắc là khối núi Tà Pao thuộc dãy Trường Sơn Nam trập trùng làm hậu chẩm vững chãi, che chắn gió mạnh và giữ nền khí tĩnh cho toàn khu vực sườn đồi. Hai bên sườn núi mở ra như hai cánh tay ôm lấy khoảng đất bằng dưới chân đồi, tạo thế tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ che chở cho khu quảng trường hành hương.
Về minh đường và thủy pháp, cả pho tượng Đức Mẹ trên sườn đồi lẫn trục lễ đài dưới chân núi đều mở mặt nhìn về hướng tây - tây nam, đón trọn khoảng thung lũng rộng lớn của xã Đồng Kho làm ngoại minh đường khoáng đạt. Ngay phía trước mặt tiền, cách cổng trung tâm một quãng ngắn bên kia Quốc lộ 55, là dòng sông La Ngà uốn lượn chảy từ vùng núi cao Lâm Đồng qua Tánh Linh trước khi đổ về hồ Trị An và sông Đồng Nai. Trong phép xem đất cổ truyền, thế sông uốn vòng ôm lấy chân núi gọi là thủy triều bão huyệt hay khúc thủy triều đường, giúp tụ khí và điều hòa vi khí hậu, làm cho sườn núi luôn mát mẻ và có làn gió nhẹ thổi từ mặt sông lên. Xa hơn ở phía bên kia sông La Ngà là các dải đồi thấp nhấp nhô làm tiền án tự nhiên, khép lại một không gian sơn thủy hữu tình hiếm có.
VNhịp hành hương ngày 13 hằng tháng và đại lễ tháng Năm
Khác với các nhà thờ giáo xứ chỉ đông đúc vào ngày Chúa nhật hoặc lễ bổn mạng mỗi năm một lần, Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Tà Pao vận hành theo một nhịp hành hương liên tục suốt mười hai tháng trong năm. Điểm hẹn quan trọng nhất đã thành lệ quen của hàng vạn tín hữu khắp các tỉnh thành là đêm ngày 12 và sáng sớm ngày 13 dương lịch hằng tháng.
| Thời điểm dương lịch | Kỳ lễ hành hương | Nội dung cử hành chính |
|---|---|---|
| Đêm 12 rạng sáng 13 hằng tháng | Ngày hành hương định kỳ hằng tháng | Đêm ngày 12 có giờ chầu Thánh Thể, suy niệm, lần hạt Mân Côi và cử hành bí tích Hòa Giải. Rạng sáng ngày 13 cử hành giờ kinh Mân Côi, rước kiệu tôn vinh Đức Mẹ và Thánh lễ đồng tế trọng thể do Giám mục Giáo phận Phan Thiết cùng linh mục đoàn chủ sự tại quảng trường. |
| Ngày 13 tháng 5 | Đại lễ kính Đức Mẹ Fatima và Tháng Hoa | Kỳ đại lễ hành hương lớn nhất trong năm tại Tà Pao, kỷ niệm ngày Đức Mẹ hiện ra lần đầu tại Fatima (13/5/1917), quy tụ hàng chục nghìn tín hữu về dâng hoa và tham dự Thánh lễ đại trào. |
| Ngày 13 tháng 10 | Đại lễ Tháng Mân Côi | Kỷ niệm lần hiện ra cuối cùng của Đức Mẹ tại Fatima (13/10/1917) trong Tháng Mân Côi, nhấn mạnh sứ điệp lần hạt cầu nguyện cho hòa bình. |
| Ngày 8 tháng 12 | Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và kỷ niệm khánh thành tượng đài | Kỷ niệm dấu mốc lịch sử ngày làm phép và khánh thành pho tượng Đức Mẹ Tà Pao (8/12/1959), cử hành Thánh lễ tạ ơn trọng thể của toàn Giáo phận Phan Thiết. |
| Các ngày Tết Nguyên Đán | Hành hương đầu xuân | Các đoàn hành hương và gia đình về cầu bình an cho năm mới, xin ơn thánh hóa công việc và viếng Linh đài Đức Mẹ suốt những ngày đầu năm âm lịch. |
Nếp đi hành hương ở Tà Pao mang một vẻ đẹp rất riêng vào ban đêm và lúc rạng đông. Nhiều đoàn xe từ Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Lâm Đồng hay Khánh Hòa thường đến nơi vào chiều tối ngày 12, nghỉ lại dưới quảng trường để tham dự giờ suy niệm và chầu Thánh Thể, rồi từ khoảng ba bốn giờ sáng bắt đầu nối hàng bước lên 400 bậc đá dưới ánh đèn dịu để kịp đọc kinh trên Linh đài trước khi xuống dự Thánh lễ đồng tế lúc bình minh.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Quốc lộ 55, thôn 2, xã Đồng Kho (xã Đồng Kho cũ, huyện Tánh Linh cũ, tỉnh Bình Thuận cũ), tỉnh Lâm Đồng
- Đường tới
- Trung tâm nằm ngay sát Quốc lộ 55 tại thôn 2, xã Đồng Kho, tỉnh Lâm Đồng (huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận cũ), cách trung tâm Phan Thiết khoảng 75 km về phía tây bắc và cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 160 km về phía đông theo tuyến cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết rẽ vào Quốc lộ 55.
- Toạ độ
- 11.13783, 107.73072
Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Tà Pao là không gian cầu nguyện và cử hành phụng vụ tôn nghiêm, vì vậy quý vị khi tới viếng cần mặc trang phục lịch sự, kín đáo, giữ trật tự và nói khẽ trên đường bậc đá cũng như tại khu vực Linh đài. Do lượng người lên xuống 400 bậc đá vào ngày 12 và 13 hằng tháng rất đông, quý vị nên đi đúng làn bên phải, không chen lấn hoặc dừng chụp ảnh chắn lối giữa cầu thang, và tuyệt đối không tự ý đốt nhang hay đặt tiền lẻ lên bệ tượng Đức Mẹ.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Tà Pao
Contribute photos, information or video for Our Lady of Tà Pao Pilgrimage CenterThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Tà Pao thuộc tỉnh nào và giáo phận nào?
Về mặt hành chính sau đợt sắp xếp năm 2025, trung tâm tọa lạc tại xã Đồng Kho, tỉnh Lâm Đồng (trước ngày 1 tháng 7 năm 2025 là xã Đồng Kho, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận). Về mặt quản trị tôn giáo của Giáo hội Công giáo, nơi đây là Trung tâm Thánh Mẫu trực thuộc Giáo phận Phan Thiết.
Tên gọi Tà Pao có ý nghĩa là gì?
Tà Pao là địa danh bắt nguồn từ ngôn ngữ của người dân tộc thiểu số K'Ho bản địa sinh sống lâu đời tại vùng núi rừng bên sông La Ngà, mang ý nghĩa là một giấc mơ đẹp. Tên gọi này được đặt cho cả ngọn núi Tà Pao và dòng suối chảy qua chân núi.
Pho tượng Đức Mẹ Tà Pao được dựng năm nào và cao bao nhiêu?
Pho tượng được khởi công ngày 22 tháng 8 năm 1959 và làm phép khánh thành ngày 8 tháng 12 năm 1959 nhân dịp Năm Thánh Mẫu Toàn quốc. Tượng đúc bằng xi măng trắng cao 3 m, đặt trên bệ vuông cao 2 m, tổng chiều cao là 5 m. Sau thời gian bị hư hại trong rừng, tượng được điêu khắc gia Lê Phát phục chế nguyên vẹn vào năm 1991.
Đường lên Linh đài Đức Mẹ Tà Pao có bao nhiêu bậc đá?
Lối bậc thang từ khu vực chân núi lên tới sân Linh đài Đức Mẹ trên lưng chừng núi Tà Pao dài khoảng 250 m với khoảng 400 bậc đá, chia thành nhiều đoạn có chiếu nghỉ dưới bóng cây rừng. Ngoài ra trung tâm còn có tuyến đường dốc thoai thoải dành cho người cao tuổi và xe lăn.
Ngày lễ hành hương lớn nhất ở Đức Mẹ Tà Pao là ngày nào?
Hoạt động hành hương định kỳ đông đúc nhất diễn ra vào đêm ngày 12 và sáng sớm ngày 13 dương lịch hằng tháng. Trong năm, các kỳ đại lễ lớn nhất rơi vào ngày 13 tháng 5 (Lễ Đức Mẹ Fatima trong Tháng Hoa), ngày 13 tháng 10 (Tháng Mân Côi) và ngày 8 tháng 12 (kỷ niệm ngày khánh thành tượng đài năm 1959).