Từ đường lớn rẽ vào cánh đồng Trà Kiệu, quý vị thấy trước tiên một ngôi nhà thờ hai tầng nằm thấp giữa ruộng, tháp chuông không cao lắm, tường quét sáng. Nhưng mắt quý vị sẽ bị kéo lên chỗ khác: phía sau nhà thờ, một quả đồi đứng lẻ nhô lên khỏi mặt ruộng chừng sáu chục mét, và trên đỉnh đồi ấy có một ngôi nhà nguyện nhỏ. Từ dưới nhìn lên chỉ thấy một khối trắng giữa tán cây.
Đó là đồi Bửu Châu, và hai công trình ấy làm thành một nơi thờ tự có nhịp riêng. Người về đây không dừng ở một chỗ mà đi hai chặng: dự lễ ở nhà thờ dưới đồng trước, rồi theo đường bậc leo lên đền trên đồi. Trà Kiệu là Trung tâm Thánh Mẫu của giáo phận Đà Nẵng, nơi kính Đức Mẹ dưới tước hiệu Đức Bà Phù Hộ Các Giáo Hữu.
ITước Hiệu Đức Bà Phù Hộ Các Giáo Hữu Và Vai Trò Trung Tâm Thánh Mẫu
Đức Mẹ được kính ở Trà Kiệu dưới một tước hiệu rất cụ thể: Đức Bà Phù Hộ Các Giáo Hữu, tiếng Latinh là Maria Auxilium Christianorum. Trong Công giáo, Đức Mẹ có nhiều tước hiệu khác nhau, mỗi tước hiệu nhấn một khía cạnh và kéo theo một ngày lễ riêng, một lối cầu nguyện riêng, một kiểu ảnh tượng riêng. Chọn tước hiệu nào cho một nơi thờ tự là chọn cách người ta đến với Đức Mẹ ở nơi ấy.
Tước hiệu này nhấn vào việc chở che và nâng đỡ. Nó là một trong các lời cầu trong kinh cầu Đức Bà, và ngày lễ kính theo lịch phụng vụ là ngày 24 tháng 5. Ở Trà Kiệu, tước hiệu ấy không phải chọn theo sở thích mà gắn với mốc khởi đầu của lòng sùng kính tại chỗ, và điều đó giải thích vì sao lời kinh quen thuộc nhất của người hành hương về đây là lời xin Đức Mẹ phù hộ.
Chữ trung tâm Thánh Mẫu cũng cần nói cho rõ, vì nhiều người hiểu đó là một cách khen. Thực ra đây là một cách tổ chức việc đạo. Trong Công giáo, lòng sùng kính Đức Mẹ ở mỗi vùng thường quy về một nơi được chọn làm điểm đến chung, gọi là trung tâm Thánh Mẫu hoặc trung tâm hành hương. Việc chọn do thẩm quyền của Giáo hội quyết định: giám mục giáo phận chọn cho phạm vi giáo phận mình, còn hàng giám mục cả nước thì chọn cho phạm vi toàn quốc.
Một nơi được chọn như vậy nhận thêm mấy việc cụ thể. Nó phải đủ chỗ cho đám đông về trong những dịp lớn, nên bao giờ cũng có sân rộng ngoài trời chứ không chỉ có lòng nhà thờ. Nó phải giữ một nhịp hành hương đều đặn để các giáo xứ xa biết đường mà tổ chức đoàn. Và nó thường có một đài hoặc một đền riêng kính Đức Mẹ, tách khỏi ngôi nhà thờ giáo xứ, để việc cầu nguyện riêng không vướng vào giờ cử hành của xứ.
Xin ghi mấy mốc thuộc về thờ tự. Các tư liệu của giáo phận đều ghi năm 1885 là mốc khởi đầu của lòng sùng kính Đức Mẹ tại Trà Kiệu. Mười ba năm sau, năm 1898, giáo dân trong xứ dựng trên đỉnh đồi Bửu Châu một ngôi nhà nguyện để tạ ơn Đức Mẹ, dâng kính Đức Bà Phù Hộ Các Giáo Hữu. Ngôi nhà nguyện ấy là hạt nhân của cả nơi hành hương về sau, và tới nay vẫn là chặng cuối của mỗi chuyến đi.
Năm 1971, giám mục giáo phận Đà Nẵng bấy giờ là Đức cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi chính thức chọn Trà Kiệu làm Trung tâm Thánh Mẫu của giáo phận. Phần mộ của ngài về sau đặt ngay trong khuôn viên nơi này. Giáo phận Đà Nẵng được lập ngày 18 tháng 1 năm 1963, nay coi sóc 50 giáo xứ cùng 6 giáo họ biệt lập với khoảng 72.495 giáo dân, và Trà Kiệu là điểm quy tụ chung của cả địa bàn ấy.
Chỗ hay hiểu lầm về nơi này nằm ở hai chữ trung tâm, xin nói bằng giọng sử liệu. Trà Kiệu là trung tâm Thánh Mẫu của một giáo phận, tức giáo phận Đà Nẵng, chứ không phải trung tâm Thánh Mẫu của cả nước. Nơi được hàng giám mục chọn cho phạm vi toàn quốc là La Vang ở Quảng Trị, và thư viện có trang riêng về nơi ấy. Hai cấp này khác nhau về thẩm quyền quyết định và khác nhau về phạm vi quy tụ, nên gọi lẫn thì sai cả hai.
Một chỗ nữa cũng hay lẫn: Trà Kiệu không phải nhà thờ chính tòa của giáo phận Đà Nẵng. Nhà thờ chính tòa là ngôi có đặt ngai tòa của giám mục, và ngôi ấy ở trong thành phố. Trà Kiệu là một giáo xứ lâu năm ở vùng đồng bằng phía nam, được giao thêm vai trò làm nơi hành hương chung. Hai vai trò ấy thuộc hai hệ khác nhau và có thể nằm ở hai nơi khác nhau, như trường hợp này.
IIMột Họ Đạo Bốn Trăm Năm Và Ngôi Đền Trên Đồi
Trà Kiệu thuộc lớp họ đạo lâu năm nhất ở miền Trung. Các tư liệu ghi những thừa sai đầu tiên tới giảng trong vùng vào khoảng cuối thế kỷ 16, và một ngôi nhà thờ đã có ở đây từ nửa đầu thế kỷ 17. Các mốc dưới đây chỉ thuộc việc lập họ đạo, việc xây dựng và các quyết định của Giáo hội về nơi này.
- 1628Ngôi nhà thờ đầu tiênCác tư liệu ghi nhà thờ đầu tiên ở Trà Kiệu dựng trong năm này, do những gia đình Công giáo từ phía bắc vào lập nghiệp. Họ đạo hình thành quanh đó vào khoảng năm 1630.
- 1872Dựng lại ngôi nhà thờ dưới đồngNgôi nhà thờ chính của xứ được dựng lại theo lối châu Âu. Các nguồn ghi mốc khác nhau, xem phần ghi chú dưới bảng mốc.
- 1885Khởi đầu lòng sùng kính Đức MẹTư liệu của giáo phận ghi năm này là mốc khởi đầu của lòng sùng kính Đức Mẹ tại Trà Kiệu, dưới tước hiệu Đức Bà Phù Hộ Các Giáo Hữu.
- 1898Dựng nhà nguyện trên đồi Bửu ChâuGiáo dân trong xứ dựng một ngôi nhà nguyện trên đỉnh đồi Bửu Châu để tạ ơn Đức Mẹ. Đây là hạt nhân của cả nơi hành hương về sau, quen gọi là nhà thờ Núi hoặc đền Bửu Châu.
- 1927 tới 1928Dựng lại ngôi đền trên đồiNgôi nhà nguyện trên đồi được dựng lại chắc chắn hơn, giữ đúng vị trí cũ trên đỉnh. Hình dáng thấy hôm nay phần lớn định hình từ lần dựng này.
- 1963Lập giáo phận Đà NẵngNgày 18 tháng 1, Tòa Thánh lập giáo phận Đà Nẵng, tách từ địa bàn trước đó. Trà Kiệu từ đây thuộc giáo phận mới.
- 1970Ngôi nhà thờ hai tầng dưới đồngNgôi nhà thờ chính được làm mới thành công trình hai tầng đang thấy, tầng trên là lòng nhà thờ, tầng dưới dùng làm chỗ hội họp và tiếp các đoàn.
- 1971Trung tâm Thánh Mẫu của giáo phậnGiám mục giáo phận Đà Nẵng chính thức chọn Trà Kiệu làm Trung tâm Thánh Mẫu của giáo phận, từ đó định nhịp hành hương chung cho cả địa bàn.
Mấy chỗ nguồn ghi khác nhau, xin nêu thẳng.
Mốc dựng lại ngôi nhà thờ dưới đồng. Bảng tra của thư viện và nhiều bài phổ thông ghi năm 1872. Tư liệu của chính giáo xứ lại ghi việc dựng lại nhà thờ theo lối châu Âu thuộc nhiệm kỳ một vị linh mục quản xứ trong khoảng 1869 tới 1877, rồi ghi thêm một đợt dựng lại bằng đá trong khoảng 1889 tới 1892. Nhiều khả năng đây là hai lần khác nhau bị các bài phổ thông gộp làm một, nhưng chưa tư liệu nào nói dứt điểm nên chúng tôi ghi cả ba mốc.
Mốc các thừa sai đầu tiên. Có nguồn ghi việc giảng đạo trong vùng bắt đầu khoảng năm 1596, có nguồn ghi khoảng 1596 tới 1602. Cả hai cùng nói về một quãng, chỉ khác ở chỗ ghi một năm hay ghi một khoảng.
Xếp hạng di tích. Bảng tra của thư viện ghi nơi này chưa có quyết định xếp hạng di tích, và chúng tôi cũng chưa tra được văn bản xếp hạng nào. Xin ghi đúng như vậy. Cần phân biệt nơi thờ tự này với khu di tích khảo cổ Trà Kiệu nằm cùng vùng, vốn là dấu tích một kinh đô cũ của vương quốc Chămpa và được nghiên cứu như một đối tượng riêng.
IIIHai Chặng, Dưới Đồng Và Trên Đỉnh Đồi
Trà Kiệu không phải một công trình mà là hai công trình cách nhau một quả đồi, và chính khoảng cách ấy làm nên cách người ta đi lễ ở đây. Ngôi thứ nhất nằm dưới đồng, là nhà thờ của giáo xứ, nơi cử hành thánh lễ cho đám đông. Ngôi thứ hai nằm trên đỉnh đồi Bửu Châu, nhỏ hơn nhiều, là đền kính Đức Mẹ. Ai về hành hương cũng đi đủ hai chặng, và chặng thứ hai phải leo.
Ngôi nhà thờ dưới đồng hiện nay là công trình làm mới năm 1970, cao hai tầng. Các bản mô tả ghi tầng trên là lòng nhà thờ với cung thánh và bàn thờ, tầng dưới để trống làm chỗ hội họp và tiếp các đoàn hành hương. Cách bố trí hai tầng như vậy không quen thuộc với nhà thờ quê Việt Nam, và nó có lý do thực dụng: một nơi đón khách quanh năm thì cần một mái che lớn ngoài giờ lễ.
Công trình làm mới năm 1970, tầng trên là lòng nhà thờ và cung thánh, tầng dưới là không gian hội họp. Đây là nơi cử hành thánh lễ chính trong các kỳ hành hương.
Quả đồi đứng lẻ giữa cánh đồng, các nguồn ghi cao chừng sáu chục mét. Đây là điểm cao duy nhất trong tầm mắt, nên từ trên đỉnh nhìn được suốt cánh đồng Trà Kiệu.
Ngôi nhà nguyện dựng năm 1898 để tạ ơn Đức Mẹ, dựng lại trong khoảng 1927 tới 1928. Quy mô nhỏ, quen gọi là nhà thờ Núi. Bên trong đặt tượng Đức Mẹ dưới tước hiệu Đức Bà Phù Hộ Các Giáo Hữu.
Lối bậc từ chân đồi lên đỉnh, là chặng hành hương chính của nơi này. Người đi thường lần hạt Mân Côi suốt dọc đường lên, và với nhiều người thì chính việc leo mới là phần cầu nguyện.
Một giếng nước cũ trong khuôn viên mà khách hành hương tin là có ơn chữa lành, thường lấy nước mang về. Đây là lệ thuộc lòng sùng kính bình dân, không phải nghi thức phụng vụ.
Khoảng sân ngoài trời trước nhà thờ, dùng cho các nghi lễ đông người vượt sức chứa của lòng nhà thờ. Trong khuôn viên còn mấy gốc cổ thụ được giữ lại.
Trong khuôn viên có phần mộ Đức cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, vị giám mục đã chọn nơi này làm Trung tâm Thánh Mẫu của giáo phận năm 1971.
Một nhận xét về quan hệ giữa hai công trình. Ở phần lớn nhà thờ Việt Nam, mọi thứ quy về một khối: lòng nhà thờ là trung tâm, các hạng mục khác vây quanh. Ở đây thì trọng tâm bị tách làm hai và đặt ở hai độ cao. Ngôi dưới đồng lo phần phụng vụ chung, có bàn thờ, có cung thánh, đủ chỗ cho đông người. Ngôi trên đỉnh lo phần cầu nguyện riêng, nhỏ, chỉ đủ cho vài chục người một lúc, và ai lên tới nơi cũng đã mất công leo. Cách chia ấy khiến chuyến hành hương có hai nhịp rõ rệt, một nhịp tập thể và một nhịp cá nhân, và đó là điều làm Trà Kiệu khác các nơi hành hương chỉ có một điểm dừng.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này cần rào trước cho rõ. Công giáo không dạy phong thủy, và hướng của một ngôi nhà thờ theo truyền thống là hướng phụng vụ, tức hướng đặt bàn thờ và cung thánh theo quy tắc của việc cử hành. Lối cổ của Giáo hội là quay cung thánh về hướng đông, phía mặt trời mọc, vì mặt trời mọc được hiểu như hình ảnh của Chúa Phục Sinh. Đó là quy tắc của đạo chứ không phải một lựa chọn theo la bàn của thầy địa lý. Những gì viết dưới đây hoàn toàn là cách đọc thế đất theo lối cổ truyền của người Việt, do thư viện đưa ra làm chỗ đối chiếu cho bạn đọc quen lối ấy, không phải điều chép trong tư liệu của Giáo hội.
Một, một ngọn nổi giữa đồng bằng. Đây là điều đáng đọc nhất ở Trà Kiệu. Cả vùng là ruộng phẳng, riêng đồi Bửu Châu nhô lên chừng sáu chục mét và đứng lẻ, không nối vào dãy nào. Lối xem đất cổ truyền gọi dạng này là cô phong, tức ngọn đơn giữa đồng, và sách xưa coi đó là thế rất dễ nhận ra nhưng khó dùng: nó nổi bật, thu hết tầm mắt của cả vùng, song lại thiếu mạch nối nên không có chỗ tựa cho chính nó. Cái khó ấy trong phép xem đất lại thành cái lợi cho một nơi hành hương: một điểm cao duy nhất giữa đồng là mốc mà đi hướng nào cũng trông thấy.
Hai, cao và thấp chia vai. Trong lối cũ, đất cao ứng với phần dương, đất thấp bằng ứng với phần âm, và người xưa quen đặt việc tế tự lên chỗ cao còn việc tụ họp ở chỗ bằng. Trà Kiệu chia đúng như vậy, tuy vì lý do khác hẳn: ngôi đền kính Đức Mẹ ở trên đỉnh, ngôi nhà thờ cho đám đông ở dưới đồng. Xin nói rõ rằng đây là sự trùng khớp về kết quả, không phải về chủ ý, vì lý do đặt đền lên đỉnh đồi là lý do của lòng sùng kính chứ không phải của thuật xem đất.
Ba, đường lên như một trục. Lối bậc từ chân đồi lên đỉnh, đọc theo phép cũ, là một trục dẫn nối hai điểm của khu đất và buộc người ta đi theo một chiều nhất định. Sách địa lý xưa chuộng lối lên có bậc rõ ràng hơn là lối mòn tự phát, vì nó làm cho việc đi lên thành một quá trình có thứ tự. Ở đây điều ấy trùng khớp với nếp lần hạt dọc đường lên: bước chân và lời kinh cùng chia thành từng chặng.
Bốn, nước trong khuôn viên. Giếng nước cũ trong khuôn viên, theo lối đọc cổ truyền, là điểm tụ thủy của khu đất. Trong phép xem đất, nước là thứ giữ khí, và một mạch nước còn dùng được ở chân một quả đồi được coi là dấu của đất còn sống. Thư viện ghi lối đọc ấy như một cách đối chiếu, và xin nhắc rằng việc lấy nước ở đây là lệ thuộc lòng sùng kính bình dân, không phải một nghi thức của phụng vụ.
Năm, một lớp đất có trước. Cánh đồng này từng là chỗ đặt một kinh đô cũ của vương quốc Chămpa, và các nhà khảo cổ vẫn tìm thấy dấu tích trong vùng. Người xưa gọi mảnh đất được chọn nhiều lần, qua nhiều đời và nhiều tộc người, cho những việc trọng là đất có duyên. Đây là nhận xét về sự trùng chỗ, không phải một kết luận về quan hệ giữa hai lớp ấy, vốn cách nhau hơn một nghìn năm và thuộc hai truyền thống khác hẳn nhau.
VNgày Hành Hương Và Nếp Đi Hai Chặng
Nhịp của Trà Kiệu gồm ba lớp. Lớp thứ nhất là lịch phụng vụ chung của Giáo hội, tính theo dương lịch, như mọi ngôi nhà thờ khác. Lớp thứ hai là tháng Năm, tháng dành riêng kính Đức Mẹ, mà ngày hành hương lớn của nơi này đặt đúng vào ngày cuối. Lớp thứ ba là các đoàn về quanh năm, không theo ngày cố định. Bài chỉ ghi những ngày cố định, không ghi giờ cử hành.
| Thời điểm | Lễ hoặc nếp đạo | Nội dung |
|---|---|---|
| Ngày 31 tháng 5 | Lễ Đức Mẹ Thăm Viếng và ngày hành hương chính | Ngày quy tụ lớn nhất trong năm của nơi này, khép lại tháng Hoa. Các giáo xứ trong giáo phận và nhiều đoàn từ các tỉnh miền Trung cùng về. |
| Ngày 24 tháng 5 | Lễ Đức Bà Phù Hộ Các Giáo Hữu | Lễ theo đúng tước hiệu của ngôi đền trên đồi Bửu Châu. |
| Cả tháng Năm | Tháng Hoa | Tháng dành riêng kính Đức Mẹ. Các giáo xứ tổ chức dâng hoa và lần hạt, nhiều đoàn chọn tháng này để đi hành hương. |
| Cả tháng Mười | Tháng Mân Côi | Tháng thứ hai trong năm dành kính Đức Mẹ, với việc lần hạt Mân Côi làm trọng tâm. Ở đây việc lần hạt thường làm dọc đường bậc lên đồi. |
| Theo chu kỳ vài năm | Đại hội hành hương | Kỳ hành hương lớn của giáo phận, mỗi kỳ một chủ đề, gồm thánh lễ khai mạc, đêm canh thức và chầu Thánh Thể, rồi cuộc rước và thánh lễ tạ ơn bế mạc. |
| Quanh năm | Các đoàn về kính viếng | Ngoài các dịp trên, các đoàn từ những giáo xứ xa về rải rác quanh năm, thường đi đủ hai chặng, dưới nhà thờ rồi lên đền trên đồi. |
Về cách giáo dân giữ lòng sùng kính ở đây, xin ghi đúng những gì quan sát được. Nếp thường thấy của một đoàn hành hương là: tới nơi thì vào nhà thờ dưới đồng dự thánh lễ hoặc đọc kinh chung trước, sau đó mới theo đường bậc lên đền Bửu Châu trên đỉnh, lần hạt Mân Côi dọc đường lên, cầu nguyện riêng trước tượng Đức Mẹ, rồi xuống. Nhiều người ghé giếng nước cổ lấy nước mang về. Trong các kỳ đông người, phần rước và phần thánh lễ đều cử hành ngoài trời, vì lòng nhà thờ không đủ chỗ.
Một điểm riêng đáng ghi: ở Trà Kiệu việc leo đồi được nhiều người coi là một phần của lời cầu chứ không phải một quãng đường phải đi cho xong. Đó là lý do người ta ít khi lên nhanh, và cũng là lý do đường bậc luôn có người dừng lại giữa chừng.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên cũ, thành phố Đà Nẵng
- Đường tới
- Nơi này ở xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên cũ, thành phố Đà Nẵng, giữa cánh đồng Trà Kiệu phía nam trung tâm thành phố. Quả đồi Bửu Châu đứng lẻ giữa ruộng là mốc nhận ra từ xa.
- Toạ độ
- 15.8241, 108.2337
Đây là nơi cử hành phụng vụ và là nơi người ta về để cầu nguyện, không phải điểm tham quan, nên lệ của nơi thờ tự là lệ phải theo: ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào trong, giữ im lặng trong lòng nhà thờ và trong đền trên đồi. Khi đang có thánh lễ, xin quý vị không đi lại giữa các hàng ghế và không chụp ảnh. Đền trên đỉnh chật, nên lệ ở đây là lên xuống theo hàng và nhường chỗ cho người tới sau. Lấy nước ở giếng thì xếp hàng và dùng đồ đựng mang theo.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Trung tâm Thánh Mẫu Trà Kiệu
Contribute photos, information or video for Tra Kieu Marian CenterThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Trung tâm Thánh Mẫu Trà Kiệu ở đâu
Ở xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên cũ, thành phố Đà Nẵng, giữa cánh đồng Trà Kiệu. Nơi này gồm một ngôi nhà thờ hai tầng dưới đồng và một ngôi đền nhỏ trên đỉnh đồi Bửu Châu, được giáo phận Đà Nẵng chọn làm Trung tâm Thánh Mẫu của giáo phận từ năm 1971.
Đức Mẹ Trà Kiệu được kính dưới tước hiệu nào
Dưới tước hiệu Đức Bà Phù Hộ Các Giáo Hữu, tiếng Latinh là Maria Auxilium Christianorum, tức tước hiệu nhấn vào việc chở che và nâng đỡ. Ngày lễ kính theo lịch phụng vụ là ngày 24 tháng 5. Ngôi nhà nguyện dựng năm 1898 trên đồi Bửu Châu dâng kính chính tước hiệu này.
Ngày hành hương Trà Kiệu là ngày nào
Ngày hành hương chính là 31 tháng 5, lễ Đức Mẹ Thăm Viếng, cũng là ngày khép lại tháng Hoa. Kỳ đại hội lớn của giáo phận thì nguồn ghi khác nhau, có nguồn ghi lệ hai năm một lần, có nguồn ghi ba năm một lần, và khi ngày 31 tháng 5 trùng một lễ trọng thì kỳ hành hương được dời sớm hơn vài ngày.
Đồi Bửu Châu có gì
Trên đỉnh đồi, cao chừng sáu chục mét so với cánh đồng chung quanh, có ngôi nhà nguyện dựng năm 1898 để tạ ơn Đức Mẹ, quen gọi là nhà thờ Núi hoặc đền Bửu Châu, dựng lại trong khoảng 1927 tới 1928. Lối lên là một đường bậc, và đó là chặng hành hương chính của nơi này.
Trà Kiệu có phải nhà thờ chính tòa Đà Nẵng không
Không phải. Nhà thờ chính tòa là ngôi có đặt ngai tòa của giám mục giáo phận, và ngôi ấy nằm trong thành phố. Trà Kiệu là một giáo xứ lâu năm ở vùng đồng bằng phía nam, mang vai trò Trung tâm Thánh Mẫu của giáo phận. Cũng xin phân biệt với La Vang ở Quảng Trị, vốn là trung tâm Thánh Mẫu của cả nước.