VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Khu lăng mộ Konye-Urgench (lăng Najm ad-Din Kubra)

Kunya-Urgench, Köneürgenç, Old Urgench, Gurganj, Najm al-Din Kubra Mausoleum, Куня-Ургенч, نجم الدين كبرى

Kinh đô xưa của xứ Khorezm bên sông Amu Darya, nay là một cánh đồng lăng mộ gạch nung, nơi người Turkmen tới viếng vị tổ của dòng Sufi Kubrawiyya.

Lăng Kubra
Thế kỷ 14
dựng hơn 100 năm sau khi ngài mất năm 1221
Tháp Kutlug-Timur
Cao 60 m
đáy 12 m, đỉnh 2 m, theo hồ sơ ICOMOS
Xếp hạng
Di sản Thế giới UNESCO
ghi danh năm 2005, tiêu chí ii và iii

Ở rìa thị trấn Köneürgenç, sau một bức tường bao thấp, quý vị bước vào một khoảnh sân lát gạch có hai ngôi lăng đứng đối mặt nhau. Ngôi bên này có cổng gạch vàng đã nghiêng hẳn về phía trước, mặt cổng còn sót vài mảng gạch men lam, phía sau nhô lên mấy chỏm vòm tròn thấp. Những người phụ nữ trùm khăn hoa đi chậm quanh tường lăng, đưa tay chạm gạch rồi chạm lên trán.

Đây là Konye-Urgench (Köneürgenç), kinh đô xưa của xứ Khorezm, và ngôi lăng có cổng nghiêng là lăng Najm ad-Din Kubra, vị tổ của dòng Sufi Kubrawiyya. Turkmenistan là nước mà phần lớn dân theo Hồi Giáo Sunni, và nếp đạo ở đây gắn chặt với việc viếng lăng các bậc thánh. Thư viện chọn nơi này làm đại diện duy nhất của Turkmenistan vì nó vừa là Di sản Thế giới, vừa là chỗ mà theo hồ sơ ICOMOS phần lớn người tới là khách hành hương trong vùng chứ không phải khách du lịch.

INajm ad-Din Kubra Và Dòng Sufi Kubrawiyya

Tên Konye-Urgench nghĩa là Urgench Cũ. Sử sách Ả Rập và Ba Tư gọi thành này là Gurganj. Theo UNESCO, thành nằm bên bờ trái sông Amu Darya, từng là kinh đô của xứ Khorezm, và các công trình còn lại chủ yếu có từ thế kỷ 11 tới thế kỷ 16. Thành bị tàn phá vào thế kỷ 13 rồi thế kỷ 14, về sau dân cư dời đi, để lại một vùng đất rộng chỉ còn lăng mộ, cổng và tháp.

Người nằm trong ngôi lăng thiêng nhất của khu di tích là Ahmed ibn Omar Najm ad-Din al-Kubra. Theo trang karakalpak.com, ngài sinh năm 1145 ở Khiva, học ở Khiva, ở Dizful xứ Ba Tư và ở Ai Cập, trở về Khorezm trong khoảng 1185 tới 1190 rồi lập ra dòng tu mang tên mình. Ngài để lại bảy cuốn sách và hai mươi bốn bài thơ, và mất năm 1221. Hồ sơ ICOMOS ghi thêm rằng ngài còn là họa sĩ, thầy thuốc và một tay cờ giỏi.

Theo giáo nghĩa

Sufi là con đường tu hướng nội của đạo Hồi, lấy việc gột rửa tâm và nhớ tới Thượng Đế làm gốc. Người theo Sufi tụ thành các dòng (tariqa), mỗi dòng có một vị tổ và một chuỗi thầy trò nối nhau. Dòng Kubrawiyya lấy tên từ Najm ad-Din Kubra. Theo karakalpak.com, ngài dạy môn đồ bằng chay tịnh, cầu nguyện và tĩnh tâm, và mô tả con đường ấy như một chuỗi bậc, mỗi bậc ứng với một màu mà người tu thấy trong lúc nhập định: màu đen là bậc thấp nhất, màu lục là bậc cao nhất.

Viếng lăng một bậc thầy, tiếng Ả Rập gọi là ziyarat, là nếp lâu đời của Hồi Giáo Trung Á. Người viếng đọc kinh, tưởng nhớ và cầu phúc, còn lời cầu thì vẫn dâng lên Thượng Đế chứ không dâng lên người nằm trong mộ. Các nguồn đã mở không ghi cộng đồng quanh Konye-Urgench theo trường luật nào trong Hồi Giáo Sunni, nên thư viện không ghi.

Chỗ hay hiểu lầm

Chỗ dễ nhầm thứ nhất là tên. Thành phố Urgench ngày nay nằm ở Uzbekistan, là nơi dân cũ dời tới về sau. Khu di tích trong bài này là Urgench Cũ, nằm ở tỉnh Daşoguz của Turkmenistan, hai nơi không phải là một.

Chỗ thứ hai là tục cầu con ở đồi Kyrk Molla. Trang central-asia.guide ghi ở gò đất này người ta lăn mình xuống dốc và buộc vải lên cây để xin có con. Đây là tín ngưỡng dân gian của vùng, không phải giáo lý của đạo Hồi, và cũng không phải lời dạy của dòng Kubrawiyya. Thư viện ghi lại như một nếp sống có thật, không bàn đúng sai.

Trong thư viện, Konye-Urgench đứng cùng miền viếng lăng Sufi Trung Á với Lăng Khoja Ahmed Yasawi ở Turkistan và Quần thể lăng Shah-i-Zinda ở Samarkand. Tục tới một nơi thiêng để cầu con thì quý vị gặp lại ở Núi thiêng Sulayman-Too. Phần riêng của Konye-Urgench là vai đất tổ: dòng Kubrawiyya khởi từ chính nơi này.

IITừ Kinh Đô Khorezm Tới Cánh Đồng Lăng Mộ

Các mốc dưới đây chỉ ghi đời của vị tổ, việc dựng và tu sửa các công trình. Chính sự và binh đao của thành không thuộc phạm vi của thư viện.

  • 1145Najm ad-Din Kubra ra đời
    Ngài sinh ở Khiva, theo karakalpak.com, rồi đi học ở Dizful và Ai Cập.
  • Khoảng 1150 và 1195Hai lăng thời Khorezm
    Hồ sơ ICOMOS ghi lăng Il-Arslan dựng khoảng năm 1150 và lăng Tekesh dựng năm 1195, hai công trình sớm nhất còn đứng trong khu di tích.
  • 1185 tới 1190Lập dòng Kubrawiyya
    Kubra trở về Khorezm trong quãng này và lập dòng tu, dạy môn đồ tại Gurganj.
  • 1221Kubra mất
    Ngài mất tại Gurganj. Thành bị tàn phá trong thế kỷ 13, mộ ngài vẫn được người trong vùng tìm tới.
  • 1321 tới 1333Dựng lăng Kubra
    Theo karakalpak.com, lăng được dựng hơn 100 năm sau khi ngài mất, vào thời Qutlugh Timur trấn nhậm Khorezm. Hai hàng gạch men chữ Kufic trên cổng nhắc tên ông.
  • 1360 tới 1380Lăng Turabek-Khanum
    Niên đại theo hồ sơ ICOMOS. Trang central-asia.guide ghi sớm hơn, đầu thế kỷ 14.
  • 1950Tu sửa lăng Kubra
    Vòm giữa của lăng bị sập và được tu sửa một phần trong năm này, theo karakalpak.com.
  • 2005Di sản Thế giới UNESCO
    Ghi danh theo tiêu chí ii và iii, khu di sản rộng 353,24 ha, vùng đệm 883,3 ha, gồm ba khu rời nhau.
Theo sử liệu

Có ba chỗ nguồn vênh nhau. Thứ nhất là niên đại tháp Kutlug-Timur. Hồ sơ ICOMOS ghi phần thân tháp có từ khoảng năm 1000 tới 1030. Trang central-asia.guide ghi thế kỷ 11 tới 12, hoặc tháp được dựng lại ở thế kỷ 14. Tên tháp thì gắn với Qutlugh Timur của thế kỷ 14.

Thứ hai là niên đại lăng Kubra. Karakalpak.com ghi cả ngôi lăng dựng ở thế kỷ 14. Hồ sơ ICOMOS cũng ghi lăng thế kỷ 14, nhưng lại xếp phần cổng vào thế kỷ 12 tới 13. Thư viện ghi cả hai, chưa có căn cứ để chọn.

Thứ ba là lăng Turabek-Khanum: 1360 tới 1380 theo ICOMOS, đầu thế kỷ 14 theo central-asia.guide. Hồ sơ ICOMOS cũng nói rõ phần lớn công trình còn đứng đã được dựng lại một phần hay toàn bộ, nên thứ quý vị thấy hôm nay là gạch cũ lẫn gạch mới.

IIIGạch Nung Vàng, Men Lam Và Ngọn Tháp Sáu Mươi Mét

Lăng Kubra không lớn. Theo karakalpak.com, lăng xây bằng gạch nung vàng loại mỏng, mái là những vòm tròn, mặt trước là một cổng cao hơn hẳn thân lăng. Cổng xưa ốp gạch men lam và gạch lục giác quanh vòm cửa, nay lớp men phần nhiều đã rơi, chỗ còn giữ tốt nhất nằm quanh cánh cửa gỗ làm lại. Trên cổng còn đọc được dòng El Mulku-lillah, nghĩa là mọi sự thuộc về Thượng Đế. Bên trong, ở góc tây bắc, có một quách đôi hình chữ nhật, bên cạnh là một quách nhỏ hơn.

Đối diện lăng Kubra, trong cùng khoảnh sân có tường bao, là lăng Sultan Ali. Trang central-asia.guide ghi lăng này thuộc thế kỷ 14 tới 16 và chưa xây xong. Gần đó là lăng Piryarvali với bốn ngôi mộ tượng trưng. Ba công trình hợp thành cụm thiêng nhất của khu di tích, tách khỏi cụm lăng và tháp lớn ở phía nam.

Lăng Najm ad-Din Kubra

Gạch nung vàng mỏng, mái vòm tròn, cổng cao từng ốp men lam có chữ Kufic. Quách đôi đặt ở góc tây bắc bên trong. Nơi thiêng nhất vùng theo karakalpak.com.

Lăng Sultan Ali

Đứng đối diện lăng Kubra trong cùng sân, thế kỷ 14 tới 16, chưa hoàn thành theo central-asia.guide.

Tháp Kutlug-Timur

Tháp gọi cầu nguyện bằng gạch cao 60 mét, đường kính đáy 12 mét, thu dần còn 2 mét ở đỉnh. Thánh đường mà tháp từng thuộc về nay không còn.

Lăng Tekesh

Dựng năm 1195 theo ICOMOS, mỗi cạnh 18,5 mét, vòm cao 30 mét theo central-asia.guide, nhận ra từ xa nhờ chóp nón phủ men lam.

Lăng Il-Arslan

Dựng khoảng năm 1150 theo ICOMOS, công trình nhỏ có mái chóp nhiều mặt, sớm nhất trong các lăng còn đứng.

Lăng Turabek-Khanum

Công trình lớn nhất còn lại của thế kỷ 14, niên đại 1360 tới 1380 theo ICOMOS. Lòng vòm ghép gạch men nhiều màu thành hoa văn hình học.

Số đo chính kèm tên nguồn. Thư viện chưa mở được nguồn nào ghi kích thước của riêng lăng Kubra nên không đưa vào bảng. Nguồn: Hồ sơ UNESCO số 1199, hồ sơ thẩm định ICOMOS, central-asia.guide..
Hạng mụcSố liệuNguồn
Khu di sản353,24 ha, vùng đệm 883,3 haUNESCO
Ba khu rời nhau333,90 ha, 14,17 ha và 5,17 haHồ sơ ICOMOS
Tháp Kutlug-TimurCao 60 m, đáy 12 m, đỉnh 2 mHồ sơ ICOMOS
Lăng TekeshCạnh 18,5 m, vòm cao 30 mcentral-asia.guide
Đồi Kyrk MollaRộng 3 ha, cao tối đa 12 mcentral-asia.guide

IVThế Đất Và Hướng

Một ngôi lăng Hồi Giáo không được đặt theo phép xem đất nào. Lăng Kubra nằm ở chỗ ấy vì đó là nơi ngài được an táng, và đạo Hồi không dạy phong thủy. Điều duy nhất đạo ấy quy định về hướng là qibla: người lễ nguyện quay mặt về Kaaba ở Mecca, người mất được đặt nằm quay về phía ấy. Từ Konye-Urgench, Mecca nằm về phía tây nam. Thư viện chưa có bản đo thực địa nên không ghi độ hướng của từng công trình.

Phần dưới là cách thư viện nhìn vùng đất này bằng con mắt phong thủy cổ truyền của người Việt, viết ra để quý vị quen lối ấy có cái đối chiếu. Hồ sơ UNESCO, hồ sơ ICOMOS và các tư liệu về lăng không có dòng nào như vậy.

Thế đất và hướng

Cái nền của mọi thứ là đồng bằng châu thổ. Konye-Urgench nằm ở bờ trái sông Amu Darya, trên vùng đất bồi phẳng lì, bốn phía không có núi. Sách xem đất của người Việt gọi thế ấy là bình dương, và dạy rằng ở đất bằng thì lấy nước làm mạch: sông lớn đi tới đâu, khí theo tới đó. Cả kinh đô Khorezm xưa sống nhờ dòng sông này, và khi dòng nước đổi lối thì thành cũng vắng dần. Lối cổ truyền đọc đó là khí đi theo nước. Người chép sử thì chỉ thấy một lẽ thường: đất khô hạn không có nước thì không giữ được người.

Thứ hai là chỗ cao giữa đất phẳng. Trên đồng bằng này, một gò đất cao mười hai mét như Kyrk Molla đã là điểm nổi nhất. Phép cũ nói ở đất bằng thì cao một tấc cũng là núi, và coi gò cao là chỗ khí dừng. Việc dân trong vùng chọn chính gò ấy làm nơi cầu con cho thấy con mắt dân gian ở nhiều xứ thường gặp nhau ở cùng một chỗ đất, dù không chung một lý thuyết nào.

Thứ ba là ngọn tháp đứng riêng. Tháp Kutlug-Timur cao sáu mươi mét, thon dần về đỉnh, đứng một mình giữa đồng. Lối Việt gọi dáng ấy là văn bút, ngọn bút chỉ trời, và coi là điềm của chữ nghĩa. Gurganj quả có một thời là đất học, nhưng người dựng tháp chỉ cần một chỗ cao để tiếng gọi cầu nguyện đi xa. Sự trùng khớp là của hình dáng.

Cuối cùng là màu. Gạch nung vàng là sắc của Thổ, men lam là sắc của Thủy. Một cánh đồng những khối đất vàng điểm chóp màu nước, trên vùng châu thổ khô, là hình ảnh mà người quen ngũ hành dễ đọc thành lời nhắc về dòng sông. Người thợ Khorezm chọn men lam theo truyền thống nghề gốm của xứ mình, không theo ngũ hành.

VViếng Lăng Quanh Năm Và Các Lễ Theo Lịch Hồi Giáo

Lăng Kubra không có một ngày hội riêng được các nguồn đã mở ghi lại. Nhịp của nơi này là viếng lăng quanh năm. Trang central-asia.guide tả cách người hành hương làm ở các lăng trong khu di tích: đi vòng quanh lăng ba lần, chạm tay vào tường rồi chạm lên trán, sau đó đọc kinh. Những ngày đông nhất rơi vào các lễ lớn của lịch Hồi giáo (Hijri), lịch thuần âm, mỗi năm lùi khoảng mười một ngày so với dương lịch. Bảng chỉ ghi ngày theo lịch, không ghi giờ.

Ba hàng cuối là lễ chung của Hồi Giáo Sunni, ngày dương lịch đổi theo từng năm. Thư viện chưa có nguồn ghi ngày giỗ Kubra hay một lễ riêng nào tại lăng nên không đưa vào bảng. Nguồn: central-asia.guide và hồ sơ ICOMOS về việc viếng lăng, lịch lễ chung của Hồi Giáo Sunni..
DịpTheo lịch nàoNội dung
Viếng lăng Kubra và lăng Sultan AliQuanh nămĐi vòng quanh lăng ba lần, chạm tường rồi chạm trán, đọc kinh. Theo hồ sơ ICOMOS, phần lớn người tới là khách hành hương trong vùng.
Lên đồi Kyrk MollaQuanh nămTục dân gian cầu con: lăn xuống dốc, buộc vải lên cây, theo central-asia.guide. Không phải nghi lễ của đạo Hồi.
Lễ nguyện thứ SáuHằng tuầnNgày lễ chung hằng tuần của tín đồ, nhiều người kết hợp đi viếng lăng.
Tháng RamadanLịch Hồi giáo, tháng thứ chínTháng nhịn chay từ rạng đông tới hoàng hôn.
Eid al-FitrLịch Hồi giáo, ngày 1 tháng ShawwalLễ mừng hết tháng chay, người Turkmen gọi là Oraza Bayramy.
Eid al-AdhaLịch Hồi giáo, ngày 10 tháng Dhu al-HijjahLễ hiến sinh, trùng mùa hành hương Mecca, người Turkmen gọi là Gurban Bayramy.

Thư viện chưa tìm được nguồn nào về sinh hoạt của người Việt tại Konye-Urgench nên không ghi.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Khu di tích Kunya-Urgench, thị trấn Köneürgenç, tỉnh Daşoguz, tây bắc Turkmenistan
Đường tới
Khu di tích nằm ở thị trấn Köneürgenç, tỉnh Daşoguz, tây bắc Turkmenistan. Đường thường đi là đường bộ từ thành phố Daşoguz. Cụm lăng Kubra nằm sát thị trấn, cụm tháp và các lăng lớn nằm cách đó một quãng về phía nam.
Toạ độ
42.3258, 59.146
Khi tới nơi

Sân lăng Kubra là nơi người ta đang cầu nguyện, không phải một điểm khảo cổ bỏ trống. Lệ ở đây: ăn mặc kín tay chân, phụ nữ che tóc, bỏ giày khi bước vào trong lăng, không chen ngang người đang đi vòng hay đang đọc kinh. Không trèo lên tường gạch cũ và các nấm mộ quanh sân. Ở đồi Kyrk Molla, xin đứng ngoài nhìn, không gỡ những dải vải người khác đã buộc.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Khu lăng mộ Konye-Urgench (lăng Najm ad-Din Kubra)

Contribute photos, information or video for Konye-Urgench

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

konye-urgench ở đâu, có phải urgench của uzbekistan không

Không phải. Konye-Urgench nghĩa là Urgench Cũ, nằm ở tỉnh Daşoguz, tây bắc Turkmenistan, bên bờ trái sông Amu Darya. Thành phố Urgench ngày nay ở Uzbekistan là nơi dân cũ dời tới về sau. Khu di tích ở Turkmenistan được UNESCO ghi danh Di sản Thế giới năm 2005.

najm ad-din kubra là ai

Najm ad-Din Kubra là bậc thầy Sufi sinh năm 1145 ở Khiva, mất năm 1221, người lập dòng Kubrawiyya. Ngài học ở Khiva, Dizful và Ai Cập, về Khorezm khoảng 1185 tới 1190 rồi dạy môn đồ bằng chay tịnh, cầu nguyện và tĩnh tâm. Hồ sơ ICOMOS ghi ngài còn là họa sĩ, thầy thuốc và tay cờ giỏi.

lăng najm ad-din kubra xây năm nào

Karakalpak.com ghi lăng dựng hơn 100 năm sau khi ngài mất, vào thời Qutlugh Timur trấn nhậm Khorezm, tức khoảng 1321 tới 1333. Hồ sơ ICOMOS cũng ghi lăng thế kỷ 14 nhưng xếp phần cổng vào thế kỷ 12 tới 13. Vòm giữa sập và được tu sửa một phần năm 1950.

tháp kutlug-timur cao bao nhiêu mét

Tháp cao 60 mét, đường kính đáy 12 mét, thu dần còn 2 mét ở đỉnh, theo hồ sơ ICOMOS. Niên đại thì nguồn vênh nhau: ICOMOS ghi thân tháp khoảng năm 1000 tới 1030, central-asia.guide ghi thế kỷ 11 tới 12 hoặc dựng lại ở thế kỷ 14.

người hành hương làm gì ở konye-urgench

Theo central-asia.guide, người viếng đi vòng quanh lăng ba lần, chạm tay vào tường rồi chạm lên trán và đọc kinh. Ở đồi Kyrk Molla có tục dân gian cầu con bằng cách lăn xuống dốc và buộc vải lên cây. Tục sau là tín ngưỡng của vùng, không phải giáo lý đạo Hồi.

›Đọc Tiếp