VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Nan Madol

Nan Madol: Ceremonial Centre of Eastern Micronesia, Nan Madol Ruins, Venice of the Pacific, Nandauwas (Nan Douwas, Nandowas, tên khu lăng mộ chính)

Khoảng một trăm đảo nhỏ do người dựng trên rạn san hô ngoài đảo Pohnpei, tường xếp bằng cột đá bazan, xưa là nơi tế lễ và lăng mộ của dòng Saudeleur, nay vẫn là đất thiêng.

Niên đại
Khoảng 1200 tới 1500
theo UNESCO, nguồn khác kéo tới 1600 hay 1700
Đảo nhân tạo
Khoảng một trăm
UNESCO ghi hơn 100, ICOMOS ghi 99
Xếp hạng
Di sản Thế giới UNESCO
2016, cùng năm vào danh sách bị đe dọa

Thuyền nhỏ men theo rừng đước ở bờ đông nam đảo Pohnpei. Sau một khúc quanh, giữa đám rễ đước hiện ra một bức tường đen. Nó không xây bằng gạch hay đá đẽo, mà bằng những cột đá dài nhiều cạnh, xếp ngang một lớp, dọc một lớp như xếp củi, cao gấp mấy lần đầu người. Chung quanh là kênh nước.

Đó là Nan Madol, khoảng một trăm đảo nhỏ do người dựng lên trên rạn san hô, xưa là nơi tế lễ và đặt lăng mộ của dòng tù trưởng Saudeleur. Liên bang Micronesia ngày nay gần như toàn dân theo Kitô giáo, nhưng lớp tin cổ hơn, tin vào tổ tiên và các thần của đất, vẫn còn đó, và không đâu dày bằng ở đây. Thư viện chọn Nan Madol làm nơi duy nhất của nước này vì UNESCO đã ghi danh nó, và vì người Pohnpei tới nay vẫn coi là đất thiêng. Xin nói rõ: đây là di tích khảo cổ, không còn đền miếu nào đang hành lễ.

IĐất Thiêng Của Tổ Tiên Dòng Tù Trưởng Pohnpei

Tên Nan Madol, theo bài của Smarthistory dẫn tư liệu Smithsonian, nghĩa là ở khoảng giữa các vật, chỉ những kênh nước len giữa các đảo. Sách báo tiếng Anh hay gọi nơi này là Venice của Thái Bình Dương, một cách ví chỉ đúng về hình, vì Nan Madol không phải phố buôn mà là nơi của tư tế, của dòng chủ và của người chết.

Thư viện xếp Nan Madol vào nhóm thờ cúng tổ tiên và tín ngưỡng bản địa. Tín ngưỡng ấy là của người Pohnpei, gắn với tổ tiên dòng tù trưởng và các thần của đất, của biển. Hồ sơ thẩm định của ICOMOS chia di tích làm hai khu. Madol Powe ở đông bắc là khu của tư tế và mộ táng, với các miếu thờ và đảo Nandowas mang ba ngôi mộ của dòng chủ. Madol Pah là khu ở của Saudeleur, có đền Nankieilmwahu. Riêng vị trí Madol Pah, ICOMOS ghi ở đông nam còn Smarthistory ghi tây nam, bài chép cả hai.

Theo giáo nghĩa

Lễ được các nguồn tả kỹ nhất là lễ sám tạ hằng năm Pwung en Sapw, theo Cultural Site Research and Management Foundation và sacred-sites.org. Trung tâm của lễ là đảo Idehd. Các tư tế khép lễ bằng việc dâng một con rùa đã nấu chín cho Nan Samol, con lươn biển thiêng sống dưới đảo. Lươn nhận lễ thì được hiểu là thần linh đã chấp thuận. Rùa dùng cho lễ được nuôi sẵn trong ao trên hai đảo Peikapw và Paseid.

Vị thần mà dòng Saudeleur thờ là Nahnisohnsapw, theo pohnpei-adventure.com. Cơ quan Công viên Quốc gia Hoa Kỳ ghi đó là thần nông nghiệp. Ngoài Idehd, nguồn còn nhắc đảo Darong có ao thiêng và đảo Kohnderek là nơi làm lễ tang.

Theo sử liệu

Về người dựng, cần tách hai lớp. Lớp khảo cổ: UNESCO ghi các công trình đá dựng từ khoảng năm 1200 tới 1500, là trung tâm tế lễ của dòng Saudeleur. Lớp truyền khẩu: người Pohnpei kể rằng hai anh em pháp sư Olosohpa và Olosihpa đã dùng phép đưa đá bay tới mà dựng nên, và về sau người anh hùng văn hóa Isokelekel thay ngôi Saudeleur, lập ra lệ Nahnmwarki còn tới nay. Cả hai chuyện đều là lời kể truyền đời, không phải sử chép, và bài ghi lại với đúng tư cách ấy.

Chỗ hay hiểu lầm

Vì gọi là di tích, Nan Madol dễ bị coi như một đống đá hoang không còn chủ. Không phải. ICOMOS ghi rằng dù tới thập niên 1820 không còn ai ở, nơi này vẫn giữ ý nghĩa tôn giáo và tập tục, và Nahnmwarki xứ Madolenihmw, vị tù trưởng theo tục lệ, vẫn giữ quyền trông coi. UNESCO coi chính sự tiếp nối ấy là một phần giá trị của di sản.

Chỗ lẫn thứ hai là tưởng Nandauwas là một ngôi đền. Cơ quan Công viên Quốc gia Hoa Kỳ gọi nó là đền, nhưng ICOMOS, Smarthistory và các nguồn khác đều gọi là lăng mộ, nơi đặt mộ của dòng chủ. Thư viện theo số đông và ghi chỗ khác ấy.

Trong thư viện, Nan Madol đứng cùng nhóm nơi thiêng gắn với tổ tiên và dòng chủ xưa với Đồi thiêng hoàng gia Ambohimanga ở Madagascar, nơi cũng có lăng mộ của dòng vua, và Đồi thiêng Tsodilo ở Botswana. Chỗ riêng của Nan Madol là nó dựng trên mặt nước. Cùng đợt này thư viện mở thêm một di tích mộ táng khác là Vòng đá Wassu ở Gambia.

IITừ Trung Tâm Tế Lễ Tới Di Sản Đang Bị Đe Dọa

Người Pohnpei xưa không có chữ viết, nên lịch sử Nan Madol đứng trên hai chân: niên đại của khảo cổ học và lời kể truyền đời. Hai thứ ấy không phải lúc nào cũng khớp, và giữa các nhà nghiên cứu cũng có độ vênh. Các mốc dưới đây ghi theo nguồn nào nói, mốc nào thuộc truyền khẩu thì ghi rõ.

  • Thuở đầu, theo truyền khẩuHai anh em pháp sư dựng đảo
    Người Pohnpei kể hai anh em Olosohpa và Olosihpa tìm chỗ lập nơi thờ thần, rồi dùng phép dựng nên các đảo đá. Đây là truyền thuyết, do Smarthistory chép lại.
  • Khoảng 1200 tới 1500Thời xây dựng chính
    UNESCO ghi các cung thất, đền, mộ và khu ở bằng đá dựng trong quãng này, khi Nan Madol là trung tâm tế lễ của dòng Saudeleur. ICOMOS ghi việc xây bắt đầu khoảng 1200 tới 1300 và kéo tới 1500 hay 1600.
  • Về sau, theo truyền khẩuLệ Nahnmwarki ra đời
    Lời kể truyền đời nói Isokelekel thay ngôi Saudeleur và lập lệ Nahnmwarki. Cơ quan Công viên Quốc gia Hoa Kỳ ghi các Nahnmwarki hiện nay truy dòng về các tù trưởng của ông.
  • Trước thập niên 1820Không còn người ở
    ICOMOS ghi tới thập niên 1820 các đảo đã vắng cư dân, nhưng nơi này vẫn giữ ý nghĩa tôn giáo và tập tục.
  • Cuối những năm 1800Những nghi lễ sau cùng
    Smarthistory ghi nghi lễ còn được làm tại Nan Madol tới cuối những năm 1800.
  • 2016Di sản Thế giới UNESCO
    Ghi danh với tên Nan Madol: Trung tâm tế lễ của miền đông Micronesia, theo tiêu chí i, iii, iv và vi. Khu di sản rộng 76,7 hecta, vùng đệm 664 hecta.
  • 2016Vào danh sách bị đe dọa
    Cùng năm ghi danh, Nan Madol được đưa vào Danh sách Di sản Thế giới đang bị đe dọa vì kênh bị bồi lắng, rừng đước lan ra và làm hỏng nền công trình. ICOMOS ghi hơn 80 phần trăm công trình có vấn đề bảo tồn.
Theo sử liệu

Nguồn về Nan Madol vênh nhau ở mấy con số chính. Số đảo: hơn 100 theo UNESCO, 99 theo ICOMOS, 92 theo báo postguam.com, hơn 90 theo Cơ quan Công viên Quốc gia Hoa Kỳ. Thư viện viết khoảng một trăm. Niên đại: 1200 tới 1500 theo UNESCO, kéo tới 1600 theo ICOMOS và Smarthistory, 1200 tới 1700 theo nps.gov, còn sacred-sites.org lùi mốc đầu về năm 500. Thư viện theo UNESCO.

Diện tích: 76,7 hecta theo UNESCO, khoảng 200 mẫu Anh tức chừng 81 hecta theo Smarthistory. Tường lăng Nandauwas: cao 6 tới 7 mét theo ICOMOS, 25 foot tức khoảng 7,6 mét theo Smarthistory. Các độ lệch ấy không lớn, và phần nhiều do mỗi đợt khảo sát đo một cách.

IIICột Bazan Xếp Ngang Dọc, Kênh Nước Và Lăng Nandauwas

Nan Madol dựng trên rạn san hô ngoài bờ đảo Temwen, thuộc khu Madolenihmw. Người xưa đổ đá tảng san hô làm nền cho từng đảo, rồi dựng tường bao bằng cột đá bazan. Bazan khi nguội tự nứt thành những cột dài nhiều cạnh, và người Pohnpei dùng nguyên các cột ấy, không đẽo. UNESCO tả kỹ thuật là xếp cột theo lối ngang dọc xen nhau: một lớp nằm dọc theo tường, một lớp gác ngang qua, cứ thế lên cao, không vữa. Smarthistory dẫn ước tính tổng khối đá của cả di tích vào khoảng 750.000 tấn, có viên đá góc nặng chừng 50 tấn.

Giữa các đảo là kênh. Xưa thuyền đi lại trong kênh theo con nước, nay nhiều kênh đã cạn vì bồi lắng. Pohnpei-adventure.com ghi chỉ khoảng một phần ba số đảo còn vào thăm được, có chỗ phải đi thuyền.

Lăng Nandauwas

Còn viết Nan Douwas, Nandowas. Lăng mộ chính của dòng chủ ở khu Madol Powe, tường cao 6 tới 7 mét theo ICOMOS, bên trong có ba ngôi mộ. Pohnpei-adventure.com ghi rộng 3.400 mét vuông.

Đảo Idehd

Trung tâm tế lễ, nơi các tư tế dâng rùa cho lươn thiêng Nan Samol trong lễ Pwung en Sapw.

Pahn Kadira

Đảo lớn thuộc khu Madol Pah, khu ở của Saudeleur. Pohnpei-adventure.com ghi rộng 12.770 mét vuông.

Peikapw và Paseid

Hai đảo có ao nuôi rùa dùng cho lễ. Đảo Darong gần đó có ao thiêng.

Đảo Kohnderek

Nơi làm lễ tang, theo các nguồn về nghi lễ của Nan Madol. Nguồn không tả nghi thức.

Số đo kèm tên nguồn. ICOMOS ghi khách rất thưa, có ngày chỉ ba người. Nguồn: Hồ sơ UNESCO số 1503, hồ sơ thẩm định ICOMOS, smarthistory.org, pohnpei-adventure.com..
Hạng mụcSố liệuNguồn
Khu di sản76,7 hectaUNESCO, Smarthistory ghi khoảng 200 mẫu Anh
Vùng đệm664 hectaUNESCO
Số đảoHơn 100UNESCO, ICOMOS ghi 99, postguam ghi 92
Số đảo khu Madol Powe58Smarthistory
Tường NandauwasCao 6 tới 7 mICOMOS, Smarthistory ghi 25 foot
Tổng khối đáƯớc 750.000 tấnSmarthistory dẫn Smithsonian
Khách mỗi nămKhông quá 3.000 tới 4.000ICOMOS

IVThế Đất Và Hướng

Người Pohnpei đã có sẵn cách hiểu của họ về chỗ này, và nó phải đi trước. Với họ, Nan Madol là đất thiêng. Báo postguam.com ghi nhiều người Pohnpei tin linh hồn ở khắp đảo và đông nhất là ở Nan Madol, không ít người cả đời chưa từng đặt chân tới vì kiêng sợ. Cách họ chia không gian là theo người và việc: Madol Powe cho tư tế và người chết, Madol Pah cho dòng chủ. Cái thiêng nằm ở những gì sống dưới nước và trong đá, như con lươn dưới đảo Idehd. Đó không phải phong thủy. Họ không bàn long mạch hay phương vị, và thư viện không khoác cho họ lối nghĩ của người Việt.

Những đoạn tiếp theo là chuyện khác. Thư viện thử nhìn Nan Madol như một thầy địa lý người Việt xưa nhìn một khu lăng, để quý vị quen lối ấy tiện đối chiếu. Thế đất ở đây rất rõ nên đáng đọc kỹ, nhưng không một điều nào trong đó có trong tư liệu về Nan Madol.

Thế đất và hướng

Nét trước hết là dựng trên nước. Người Việt đặt lăng mộ trên đất cao, lấy nước làm cảnh phía trước. Nan Madol làm ngược: nền là rạn san hô, nước bao bốn phía mỗi đảo. Sách địa lý có một chữ cho thế đất nổi giữa nước là thủy trung, và coi là thế hiếm, khí tụ được nhờ nước vây kín chứ không nhờ núi che. Mỗi đảo ở đây là một thủy trung nhỏ, cả trăm đảo ghép lại thành một khu.

Nét thứ hai là lưng tựa đảo lớn, mặt hướng ra khơi. Sau lưng Nan Madol, về phía tây bắc, là đảo Temwen rồi tới khối núi rừng của Pohnpei. Trước mặt, về phía đông nam, là rạn và biển. Lối Việt gọi đó là tọa sơn hướng thủy. Vành rạn ngoài cùng và các tường chắn sóng bằng đá làm việc của một lớp án, chặn sóng lớn lại trước khi nước vào tới các kênh. Người dựng làm tường chắn vì sóng, người xem đất gọi tên nó theo sách, cùng một vật.

Nét thứ ba là nước trong kênh. Phép xem nước của người Việt chuộng nước đi chậm, quanh co, vào rồi ở lại. Kênh Nan Madol lên xuống theo thủy triều, nước tới rồi lui mỗi ngày, không xiết. Nhưng sách cũng dặn nước phải thông. UNESCO ghi kênh đang bị bồi, đước mọc lấn. Thầy địa lý sẽ gọi đó là thủy bế, nước tắc, và người làm bảo tồn gọi đó là mối nguy cho nền công trình. Hai cách gọi cùng chỉ một việc cần làm: khơi kênh.

Nét thứ tư là khu người chết ở đông bắc. Madol Powe, khu mộ và tư tế, nằm ở đông bắc. Trong la bàn của người Việt, đông bắc là cung Cấn, sách gọi là quỷ môn, cửa của cõi âm. Sự trùng ấy là trùng hợp về phương, thư viện ghi lại cho quý vị biết chứ không coi là chủ ý của người Pohnpei.

VLễ Xưa Đã Thôi, Tục Lệ Còn Giữ

Cần nói thẳng: ngày nay không có lễ định kỳ nào được các nguồn ghi là còn làm tại Nan Madol. Các nghi lễ của thời Saudeleur và sau đó đã dừng từ cuối những năm 1800 theo Smarthistory. Người Pohnpei xưa cũng không có lịch viết, nên ngay cả lễ Pwung en Sapw các nguồn chỉ ghi là làm mỗi năm một lần, không ghi tháng nào. Bảng dưới chép lại lễ xưa mà nguồn có tả, cùng những dịp người ta tới đây ngày nay. Thư viện không thêm lễ nào ngoài nguồn.

Bảng này không phải lịch lễ hiện hành. Hai dòng đầu là lễ thời xưa do nguồn chép lại, nay đã thôi. Nguồn: csrmfoundation.org, sacred-sites.org, smarthistory.org, hồ sơ thẩm định ICOMOS, postguam.com..
DịpTheo lịch nàoAi làmNội dung
Mỗi năm một lần, thời xưaLịch truyền khẩu của người Pohnpei, nguồn không ghi thángCác tư tếLễ sám tạ Pwung en Sapw trên đảo Idehd, khép lại bằng việc dâng rùa đã nấu chín cho lươn thiêng Nan Samol. Nay không còn làm.
Khi có người trong dòng chủ qua đời, thời xưaKhông theo lịchTư tế và thân tộcLễ tang trên đảo Kohnderek. Mộ của dòng chủ đặt ở khu Madol Powe. Nguồn không tả nghi thức.
Ngày nay, quanh nămKhông theo lịchNahnmwarki Madolenihmw và người đại diệnTrông coi đất thiêng theo tục lệ. Khách tới phải qua phép của các gia đình có đất dọc lối vào và của người đại diện vị tù trưởng.
Ngày nay, quanh nămKhông theo lịchKhách thămĐi bộ hoặc đi thuyền theo con nước tới lăng Nandauwas và các đảo còn vào được.

Thư viện không tìm được nguồn nào về người Việt sinh sống tại Pohnpei hay tới Nan Madol hành lễ nên không viết phần kiều bào.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Ngoài bờ đảo Temwen, khu Madolenihmw, bờ đông nam đảo Pohnpei, Liên bang Micronesia
Đường tới
Nan Madol nằm ngoài bờ đảo Temwen, khu Madolenihmw, bờ đông nam đảo Pohnpei. Từ thị trấn Kolonia đi đường bộ vòng theo đảo tới Temwen rồi đi bộ qua rừng đước, hoặc đi thuyền theo con nước.
Toạ độ
6.8397, 158.3308
Khi tới nơi

Nan Madol là đất thiêng dưới quyền trông coi theo tục lệ của Nahnmwarki xứ Madolenihmw, và lối vào đi qua đất của các gia đình địa phương. Quý vị xin phép theo đúng lệ của họ trước khi vào. Không trèo lên tường, không rút hay xê dịch các cột đá, không mang đá và san hô ra khỏi di tích. Lăng Nandauwas là nơi đặt mộ, xin giữ ý như ở một nghĩa trang. Nhiều người Pohnpei kiêng sợ nơi này, khách nên tôn trọng điều kiêng ấy khi trò chuyện.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Nan Madol

Contribute photos, information or video for Nan Madol

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Nan Madol ở đâu

Ở ngoài bờ đảo Temwen, khu Madolenihmw, bờ đông nam đảo Pohnpei thuộc Liên bang Micronesia, giữa tây Thái Bình Dương. UNESCO ghi tọa độ 6 độ 50 phút 23 giây Bắc, 158 độ 19 phút 51 giây Đông. Di tích dựng trên rạn san hô, gồm khoảng một trăm đảo nhân tạo cách nhau bằng kênh nước.

Nan Madol xây từ bao giờ

UNESCO ghi các công trình đá dựng từ khoảng năm 1200 tới 1500. Hồ sơ ICOMOS và Smarthistory kéo mốc cuối tới 1600, Cơ quan Công viên Quốc gia Hoa Kỳ ghi 1200 tới 1700, còn một trang khác lùi mốc đầu về năm 500. Tới thập niên 1820 các đảo đã không còn người ở.

Ai xây Nan Madol

Theo khảo cổ học, đây là trung tâm tế lễ và nơi đặt lăng mộ của dòng tù trưởng Saudeleur trên đảo Pohnpei. Theo lời kể truyền đời của người Pohnpei, hai anh em pháp sư Olosohpa và Olosihpa đã dùng phép dựng nên các đảo. Chuyện sau là truyền thuyết, không phải sử chép.

Nan Madol có bao nhiêu đảo

Các nguồn ghi khác nhau: hơn 100 theo UNESCO, 99 theo hồ sơ thẩm định ICOMOS, 92 theo báo postguam.com, hơn 90 theo Cơ quan Công viên Quốc gia Hoa Kỳ. Thư viện viết khoảng một trăm. Riêng khu Madol Powe ở đông bắc có 58 đảo theo Smarthistory.

Vì sao Nan Madol nằm trong danh sách di sản bị đe dọa

UNESCO đưa Nan Madol vào Danh sách Di sản Thế giới đang bị đe dọa ngay năm ghi danh 2016. Lý do là các kênh nước bị bồi lắng khiến rừng đước lan rộng, rễ cây phá nền và tường đá. Hồ sơ ICOMOS ghi hơn 80 phần trăm công trình có vấn đề về bảo tồn.

›Đọc Tiếp