Bước qua cánh cổng vòm đá trên phố Magdalene ngay giữa lòng thị trấn Glastonbury của hạt Somerset, quý vị đột ngột rời khỏi nhịp phố buôn bán để đi vào một thảm cỏ xanh phẳng lặng rộng tới ba mươi sáu mẫu Anh, nơi những trụ đá vôi màu vàng mật ong cao vút đứng lặng lẽ dưới bầu trời miền Tây Nam nước Anh. Dù phần mái vòm đã sụp đổ từ bốn thế kỷ trước, hai trụ đá khổng lồ còn sót lại ở giao đường trung tâm cùng tòa Nhà nguyện Đức Mẹ chạm khắc tinh xảo ở đầu phía tây vẫn đủ cho thấy tầm vóc của một đại giáo đường từng dài hơn 175 mét, chỉ xếp sau Nhà thờ chính tòa Thánh Phaolô tại London thời Trung cổ. Đó là Phế tích Tu viện cổ Glastonbury (Glastonbury Abbey), thánh địa từng được mệnh danh là Roma thứ hai của vương quốc Anh.
Không một tu viện nào trên quần đảo Anh lại quy tụ nhiều tầng huyền sử và biến cố lịch sử đậm đặc như mảnh đất này. Trong tâm thức Kitô giáo Trung cổ, đây là nơi Thánh Giuse người Arimathêa đặt bước chân đầu tiên lên đảo Anh vào thế kỷ 1 SCN để dựng ngôi nhà thờ bằng cành cây đan cổ nhất phương Bắc, là nơi Thánh Dunstan khởi xướng cuộc chấn hưng đan tu dòng Biển Đức thế kỷ 10, nơi an nghỉ của ba vị Quốc vương Anglo-Saxon cùng tấm biển đánh dấu huyệt mộ của Vua Arthur và Hoàng hậu Guinevere dưới chân bàn thờ chính.

IThánh Giuse Người Arimathêa, Cây Gai Thánh Và Thánh Dunstan
Truyền thống thiêng liêng của Tu viện Glastonbury xoay quanh sự tôn kính Đức Trinh Nữ Maria gắn liền với huyền tích về Thánh Giuse người Arimathêa (Joseph of Arimathea), vị nghị viên Do Thái giàu có được nhắc tới trong cả bốn sách Phúc Âm là người đã xin Tổng trấn Philatô cho hạ xác Chúa Giêsu xuống khỏi thập giá và an táng trong ngôi mộ đá mới của mình. Theo bộ sử De Antiquitate Glastoniensis Ecclesiae (Về sự cổ xưa của Giáo hội Glastonbury) do sử gia William xứ Malmesbury biên soạn vào khoảng năm 1129 cùng các bản chép bổ sung thế kỷ 13, vào năm 63 SCN, Thánh Tông đồ Philipphê đang truyền giáo tại xứ Gaul (Pháp) đã cử Giuse người Arimathêa dẫn đầu mười một môn đệ vượt biển sang đảo Anh. Vua bản địa Arviragus đã ban cho đoàn truyền giáo mười hai khoảnh đất (Twelve Hides) giữa vùng đầm lầy đảo Yniswitrin (Glastonbury), nơi Giuse và các bạn đạo đã đan cành cây trát đất sét dựng nên ngôi Nhà thờ Cũ (Vetusta Ecclesia) đầu tiên trên đất Anh để dâng kính Đức Mẹ Đồng Trinh.
Từ cuối thế kỷ 12, nhà thơ Pháp Robert de Boron trong tác phẩm Joseph d'Arimathie đã kết nối câu chuyện Glastonbury với truyền thuyết Chén Thánh (Holy Grail) hoặc hai bình bạc đựng máu và mồ hôi của Chúa Giêsu trên thập giá mà Thánh Giuse mang theo tới các thung lũng của Avalon. Dân gian vùng Somerset còn lưu truyền rằng khi Thánh Giuse cùng đoàn tùy tùng leo lên ngọn đồi Wearyall ở phía tây nam thị trấn, vì quá mỏi mệt nên ngài đã chống cây gậy gỗ gai của mình xuống đất rồi nằm nghỉ. Sáng hôm sau, cây gậy khô đã bén rễ đâm chồi thành Cây Gai Thánh Glastonbury (Glastonbury Holy Thorn, thuộc giống táo gai Crataegus monogyna 'Biflora' có nguồn gốc vùng Cận Đông), mang đặc tính sinh học kỳ lạ là nở hoa trắng hai lần mỗi năm: một lần vào mùa xuân và một lần ngay giữa giá băng của dịp lễ Giáng Sinh.
Trong hệ thống phân loại của thư viện, Phế tích Tu viện cổ Glastonbury được xếp vào nhánh Công Giáo vì toàn bộ lịch sử hình thành, phát triển kiến trúc và đời sống phụng vụ của đan viện từ thế kỷ 8 cho tới ngày bị cưỡng bức giải thể năm 1539 đều thuộc về Dòng Biển Đức (Order of Saint Benedict) trong lòng Giáo hội Công giáo Rôma, trước khi trở thành nơi tử đạo của các chân phúc Công giáo thời Cải cách Anh.
Về mặt lịch sử giáo hội học, nếu truyền thuyết Thánh Giuse người Arimathêa tạo nên hào quang thần thoại cho Glastonbury thì nhân vật lịch sử đặt nền móng cho kỷ luật tu trì và vị thế chính trị của đan viện chính là Thánh Dunstan (khoảng 909 đến 988 SCN). Sinh ra trong một gia đình quý tộc vùng Wessex ngay gần Glastonbury, Dunstan được Vua Edmund I bổ nhiệm làm Viện phụ Glastonbury vào khoảng năm 940. Ngài đã áp dụng trọn vẹn Tu luật Thánh Biển Đức (Regula Benedicti) với phương châm Cầu nguyện và Lao động (Ora et Labora), mở rộng trường học, thư viện và xưởng chế tác kim hoàn, biến Glastonbury thành trung tâm đào tạo hàng loạt giám mục và viện phụ cải cách khắp nước Anh. Khi Dunstan được tấn phong làm Tổng giám mục tại Nhà thờ chính tòa Canterbury năm 960, ngài đã cùng Vua Edgar Hòa Bình ban hành quy điển Regularis Concordia lấy mô hình từ Glastonbury để thống nhất đời sống đan viện toàn vương quốc, đồng thời soạn nghi thức lễ đăng quang cho Vua Edgar năm 973 mà cấu trúc cốt lõi vẫn được dùng trong lễ đăng quang của các Quốc vương Anh tại Tu viện Westminster cho tới tận ngày nay.
Các cuộc khai quật khảo cổ học hiện đại (được tổng hợp và phân tích lại bởi nhóm nghiên cứu của Giáo sư Roberta Gilchrist thuộc Đại học Reading từ năm 2009 đến 2015) đã chứng minh rằng dù câu chuyện năm 63 SCN thuộc về lớp truyền thuyết trung cổ, Glastonbury thực sự đã có sự hiện diện định cư và tôn giáo từ thời hậu La Mã (thế kỷ 5 và thế kỷ 6). Các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều mảnh gốm vò rượu amphora loại Bii nhập khẩu trực tiếp từ vùng Đông Địa Trung Hải (Đế quốc Đông La Mã) có niên đại khoảng năm 450 đến 550 SCN cùng dấu vết của một hội trường gỗ lớn thời kỳ người Briton cổ, cho thấy trước cả khi người Anglo-Saxon đặt chân tới vùng Somerset, ốc đảo Glastonbury đã là một trung tâm quyền lực và tu viện cổ của Kitô giáo bản địa.
Nhiều người khi đọc về việc các đan sĩ Glastonbury khai quật được mộ Vua Arthur năm 1191 thường chỉ xem đó là một trò dựng chuyện đơn thuần để quyên tiền xây lại nhà thờ sau đám cháy lớn năm 1184. Tuy nhiên theo biên niên sử của học giả đương thời Gerald xứ Wales (Giraldus Cambrensis, người trực tiếp tới thăm Glastonbury khoảng năm 1193), cuộc khai quật diễn ra ở độ sâu mười sáu feet giữa hai cột đá kim tự tháp cổ trong nghĩa trang tu viện: ở độ sâu bảy feet, các đan sĩ tìm thấy một phiến đá kèm một cây thánh giá bằng chì khắc dòng chữ Latinh Hic iacet sepultus inclitus rex Arturius in insula Avalonia (Nơi đây an táng vị vua lừng danh Arthur trên đảo Avalon), và sâu hơn chín feet bên dưới là một quan tài đục từ thân cây sồi rỗng chứa bộ xương của một người đàn ông cao lớn có hộp sọ mang vết chém chí mạng cùng bộ xương nhỏ hơn có lọn tóc vàng của Hoàng hậu Guinevere. Dù cây thánh giá chì (được vẽ lại trong sách Britannia của William Camden năm 1607 trước khi thất lạc) mang kiểu chữ thế kỷ 11 hoặc 12, các cuộc khai quật của nhà khảo cổ Ralegh Radford năm 1962 xác nhận rằng tại đúng vị trí ấy thực sự từng có một hố mộ cổ thời tiền Norman đã được đào lên vào cuối thế kỷ 12, nhiều khả năng là mộ của một vị thủ lĩnh hoặc quân vương người Briton thế kỷ 6 được các đan sĩ đồng nhất với Vua Arthur.
IITừ Nhà Thờ Đá Của Vua Ine Đến Cuộc Tử Đạo Trên Đỉnh Đồi Năm 1539
Lịch sử hơn tám thế kỷ được ghi chép bằng văn bản của Tu viện Glastonbury là bản biên niên sử thu nhỏ của vương quốc Anh thời Trung cổ: từ sự bảo trợ của các vị vua xứ Wessex chống lại quân Viking Đan Mạch, cuộc đại hỏa hoạn xóa sổ toàn bộ kiến trúc gỗ và đá cổ năm 1184, thời kỳ tái thiết huy hoàng thế kỷ 13 và 14, cho tới kết cục bi tráng dưới triều Vua Henry VIII.
- Khoảng 712Vua Ine xứ Wessex xây dựng nhà thờ đá đầu tiênVua Ine của vương quốc Wessex ban hiến chương đất đai và cho xây dựng ngôi nhà thờ bằng đá cung hiến cho hai Thánh Phêrô và Phaolô nằm ngay phía đông ngôi Nhà thờ Cũ (Vetusta Ecclesia) bằng gỗ đan.
- 940 tới 975Thánh Dunstan cải cách dòng Biển Đức và an táng ba vị vua AnhViện phụ Dunstan mở rộng tu viện theo chuẩn dòng Biển Đức. Ba vị Quốc vương nước Anh lần lượt được an táng trọng thể trong nhà thờ tu viện: Vua Edmund I (băng hà năm 946), Vua Edred (năm 955) và Vua Edgar Hòa Bình (năm 975).
- 1016An táng Vua Edmund Ironside và sắc chỉ của Vua CnutTháng 11 năm 1016, Vua Edmund II (Edmund Ironside, Sườn Sắt) qua đời và được chôn cất cạnh ông nội là Vua Edgar tại cung thánh Glastonbury. Vua Cnut Đại đế của Đan Mạch và Anh đã tới viếng mộ người đối thủ cũ, phủ tấm áo choàng thêu chim công lên mộ và ký sắc chỉ xác nhận quyền tự trị của tu viện.
- 1184Trận đại hỏa hoạn ngày 25 tháng 5 năm 1184Một trận cháy khủng khiếp vào ngày lễ Thánh Urbanô đã thiêu rụi gần như toàn bộ khu tu viện Norman, bao gồm cả ngôi Nhà thờ Cũ bằng gỗ đan và kho thánh tích. Vua Henry II lập tức cử quan thị thần Ralph FitzStephen tới chỉ đạo xây dựng lại Nhà nguyện Đức Mẹ ngay trên nền Nhà thờ Cũ, thánh hiến năm 1186.
- 1191 và 1278Khai quật và cải táng mộ Vua Arthur trước bàn thờ chínhNăm 1191 các đan sĩ công bố tìm thấy hài cốt Vua Arthur và Hoàng hậu Guinevere. Tới lễ Phục Sinh tháng 4 năm 1278, Vua Edward I và Hoàng hậu Eleanor đích thân tới Glastonbury chủ sự đại lễ di dời hai bộ hài cốt vào ngôi mộ đá cẩm thạch đen đặt ngay trước bàn thờ chính của đại thánh đường.
- 1303 tới 1524Hoàn thiện Đại giáo đường, Bếp Viện phụ và dưới thời Viện phụ Richard BereĐại giáo đường dài hơn 175 mét được hoàn thiện suốt thế kỷ 13 và 14 cùng tòa Bếp Viện phụ hình bát giác (khoảng năm 1330). Dưới thời Viện phụ Richard Bere (1493 đến 1524), tu viện xây thêm Nhà nguyện Đức Mẹ Loreto, Nhà nguyện Mộ Thánh và hầm mộ Thánh Giuse người Arimathêa dưới Nhà nguyện Đức Mẹ.
- 1539Giải thể tu viện và hành quyết Viện phụ Richard WhitingTrong cuộc Giải thể các Tu viện của Vua Henry VIII, Viện phụ cuối cùng là Richard Whiting (gần 80 tuổi) bị khép tội phản quốc. Ngày 15 tháng 11 năm 1539, ngài cùng hai đan sĩ John Thorne và Roger James bị kéo lê trên ván gỗ lên đỉnh đồi Glastonbury Tor để xử treo cổ và phanh thây, còn tu viện bị tịch biên và tháo dỡ lấy đá.
- 1895 tới 1924Tuyên Chân phúc các vị tử đạo và tái lập các cuộc hành hươngNăm 1895, Giáo hoàng Lêô XIII tuyên phong Chân phúc cho Viện phụ Richard Whiting và hai đan sĩ tử đạo. Năm 1907 khu phế tích được quỹ tín thác thuộc Giáo hội Anh mua lại để bảo tồn khảo cổ, và từ năm 1924 các cuộc hành hương thường niên của cả Công giáo lẫn Anh giáo được khôi phục trong khuôn viên tu viện.
Khi đối chiếu các nguồn tài liệu lịch sử, có hai điểm tranh luận học thuật nổi bật được ghi nhận thẳng thắn. Điểm thứ nhất là sự khác biệt giữa biên niên sử tu viện thế kỷ 12 đến 14 và sử học phê phán hiện đại: trong khi học giả John xứ Glastonbury thế kỷ 14 khẳng định tu viện được thành lập năm 63 SCN để giành quyền ưu tiên chỗ ngồi cao nhất cho Viện phụ Glastonbury tại các Công đồng chung châu Âu (như Công đồng Pisa năm 1409 và Công đồng Siena năm 1423), thì bản thảo gốc năm 1129 của chính William xứ Malmesbury lại dè dặt hơn khi chỉ ghi các nhà truyền giáo La Mã do Giáo hoàng Eleutherius phái tới vào thế kỷ 2 mới tìm thấy một ngôi nhà thờ cổ dựng sẵn từ trước, và các đoạn nói chi tiết về Thánh Giuse người Arimathêa cùng Vua Arthur là phần chép thêm của các tu sĩ sau trận cháy năm 1184.
Điểm thứ hai là về tài sản và kết cục năm 1539 của tu viện. Theo sổ tổng kiểm kê thuế giáo hội Valor Ecclesiasticus do quan thượng thư Thomas Cromwell lập năm 1535 dưới triều Vua Henry VIII, thu nhập ròng hằng năm của Tu viện Glastonbury đạt tới hơn 3.311 bảng Anh (tương đương hàng chục triệu bảng ngày nay), chỉ đứng ngay sau Tu viện Westminster ở London trong số toàn bộ các đan viện trên đất Anh. Tháng 9 năm 1539, các ủy viên hoàng gia của Cromwell đột kích tu viện, tịch thu kho báu vàng bạc đá quý chở trên nhiều đoàn xe ngựa về Ngân khố nhà vua và bắt giam Viện phụ Richard Whiting tại Tháp London. Trong sổ ghi nhớ cá nhân, chính Thomas Cromwell đã viết sẵn dòng chữ nổi tiếng Xét xử và hành quyết Viện phụ Glastonbury ngay trước cả khi phiên tòa hình thức diễn ra tại Wells ngày 14 tháng 11 năm 1539, khép lại hơn tám trăm năm hoạt động liên tục của đại đan viện.
IIINhà Nguyện Đức Mẹ Năm 1186, Đại Giáo Đường 175 Mét Và Bếp Viện Phụ Bát Giác
Toàn bộ khu di tích Glastonbury Abbey hiện được cơ quan Historic England xếp hạng Di tích Lịch sử Cấp I (Grade I Listed Building, mã số 1345447) và Di tích Quốc gia được bảo vệ (Scheduled Monument, mã số 1021077). Điểm độc đáo bậc nhất trong bố cục mặt bằng của đại thánh đường Glastonbury là vị trí của Nhà nguyện Đức Mẹ (Lady Chapel): trong khi ở hầu hết các đại giáo đường Anh như Nhà thờ chính tòa Đức Trinh Nữ Maria tại Salisbury hay Westminster, Nhà nguyện Đức Mẹ luôn được xây ở đầu cực đông phía sau bàn thờ chính, thì tại Glastonbury, Nhà nguyện Đức Mẹ lại nằm ở đầu cực tây nối liền trước cửa chính của gian giữa thông qua một tiền sảnh gọi là Galilee. Lý do là vì Nhà nguyện Đức Mẹ được dựng đè lên chính nền đất thiêng không thể di dời của ngôi Nhà thờ Cũ (Vetusta Ecclesia) từng bị cháy năm 1184.
Vật liệu xây dựng chủ đạo của tu viện là đá vôi Doulting (Doulting stone) có sắc vàng kem ấm áp khai thác từ mỏ đá St Andrew's Quarry cách Glastonbury khoảng mười hai cây số về phía đông, kết hợp với loại đá vôi xanh xám Lias địa phương và những trụ đá cẩm thạch xanh (Blue Lias shafts) đánh bóng tạo hiệu ứng tương phản màu sắc đặc trưng của giai đoạn chuyển tiếp từ kiến trúc Romanesque Norman sang kiến trúc Gothic Anh Sớm.
Khởi công ngay sau đám cháy tháng 5 năm 1184 và thánh hiến ngày 25 tháng 3 năm 1186, đây là công trình nguyên vẹn và lộng lẫy nhất của khu đại giáo đường với bốn tháp góc thanh mảnh. Hai cổng vòm tròn phía bắc và phía nam được chạm trổ những vòng hoa văn dây leo đan xen các cảnh Truyền Tin, Chúa Giêsu Giáng Sinh, Ba Vua Bái Lạy và Cuộc Trốn Sang Ai Cập, vẫn còn lưu giữ vết tích màu sơn đỏ, xanh lam và vàng nguyên bản thế kỷ 12. Phía dưới sàn nhà nguyện là Hầm mộ Thánh Giuse người Arimathêa (St Joseph's Crypt) được Viện phụ Richard Bere đào thêm khoảng năm 1500 kèm một giếng nước thánh cổ thông với mạch nước ngầm dưới nền tu viện.
Khi được nối thông với Nhà nguyện Đức Mẹ qua sảnh Galilee vào thế kỷ 13 và mở rộng thêm Nhà nguyện Thánh Edgar ở đầu phía đông vào thế kỷ 16, toàn bộ trục nhà thờ đạt tổng chiều dài khoảng 580 feet (hơn 176 mét). Hai trụ đá phía đông của giao đường trung tâm hiện còn vươn cao tới 30 mét, mang dấu tích của hệ thống vòm đỡ hình kéo (scissor arches, tương tự Nhà thờ chính tòa Wells gần đó) từng được lắp đặt vào thế kỷ 14 để gia cố cho ngọn tháp trung tâm khổng lồ.
Giữa phần nền cỏ của khu cung thánh (Quire) phía đông giao đường là tấm bảng đánh dấu chính xác vị trí ngôi mộ đá cẩm thạch đen nơi Vua Edward I và Hoàng hậu Eleanor đã tái an táng hài cốt Vua Arthur và Hoàng hậu Guinevere vào tháng 4 năm 1278. Xung quanh khu vực bàn thờ chính này cũng là nơi từng đặt lăng mộ của ba vị vua vương quốc Anh thế kỷ 10 và 11 là Vua Edmund I, Vua Edgar Hòa Bình và Vua Edmund Ironside.
Nằm ở góc tây nam khuôn viên, Nhà Bếp của Viện phụ xây dựng vào khoảng thập niên 1330 dưới thời Viện phụ John de Breynton là công trình nguyên vẹn hoàn hảo nhất còn tồn tại của toàn bộ tu viện và được giới kiến trúc đánh giá là nhà bếp thời Trung cổ đẹp nhất châu Âu. Tòa nhà có mặt bằng hình vuông bên ngoài chuyển thành hình bát giác bên trong với bốn lò nướng khổng lồ đặt ở bốn góc, phía trên lợp mái đá vôi hình chóp tám cạnh đỉnh nhọn cao 22 mét có hai tầng lồng đèn thoát khói và hơi nóng thông minh.
Ở rìa phía tây giáp phố Magdalene là Cổng Tu viện thế kỷ 14 (hiện là nơi đặt bảo tàng trưng bày các mảnh điêu khắc đá, gạch lát sàn tráng men thời Trung cổ và mô hình phục dựng tu viện năm 1539). Gần đó là Nhà nguyện Thánh Patrick (St Patrick's Chapel) xây lại khoảng năm 1512 bởi Viện phụ Richard Bere dành cho các cư dân trong nhà tế bần, nơi hiện nay vẫn được cộng đoàn Công giáo sử dụng để cử hành thánh lễ hành hương.
Trong khu vườn cỏ phía nam Nhà nguyện Đức Mẹ là những cây táo gai thánh được chiết ghép trực tiếp từ gốc Cây Gai Thánh cổ truyền gắn với Thánh Giuse người Arimathêa. Hằng năm vào đầu tháng 12, học sinh trường tiểu học Thánh Gioan tại thị trấn Glastonbury cùng đại diện nhà thờ vẫn cử hành nghi thức cắt một cành hoa Gai Thánh đang nở giữa mùa đông để gửi lên đặt trên bàn ăn ngày lễ Giáng Sinh của Quốc vương Vương quốc Anh tại Điện Buckingham hoặc Lâu đài Windsor.
Một chi tiết kiến trúc và lịch sử khoa học ít người biết là chính tại Tu viện Glastonbury vào khoảng năm 1325, đan sĩ kiêm nhà thiên văn học Peter Lightfoot đã chế tạo chiếc đồng hồ cơ khí điểm chuông và chỉ tuần trăng nổi tiếng là Đồng hồ Thiên văn Glastonbury. Sau khi tu viện bị giải thể năm 1539, chiếc đồng hồ này đã được chuyển sang lắp đặt tại cánh ngang phía bắc của Nhà thờ chính tòa Wells cách đó mười cây số (còn bộ máy gốc thế kỷ 14 hiện trưng bày tại Bảo tàng Khoa học London), trở thành chiếc đồng hồ cơ khí cổ thứ hai trên thế giới còn hoạt động chỉ sau chiếc đồng hồ năm 1386 của Nhà thờ chính tòa Đức Trinh Nữ Maria tại Salisbury.
IVThế Đất Và Hướng
Trước khi đọc địa thế, cần khẳng định rõ rằng Công giáo Rôma và Dòng Biển Đức không dạy phong thủy Á Đông. Việc chọn vị trí lập đan viện tại Glastonbury bắt nguồn từ địa hình ốc đảo phòng thủ tự nhiên giữa vùng đầm lầy cổ Somerset Levels kết hợp với mạch nước ngọt tinh khiết từ chân đồi, còn trục kiến trúc của đại thánh đường và Nhà nguyện Đức Mẹ hoàn toàn tuân theo quy tắc định hướng phụng vụ Kitô giáo với bàn thờ chính quay về phương Đông Mặt Trời mọc. Phần phân tích dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép hình thế cổ truyền của thư viện để bạn đọc quen thuộc với học thuật phương Đông có thêm một lăng kính tham khảo trên thực địa.
Xét trên đại cuộc địa hình vùng Tây Nam nước Anh tại tọa độ 51,1461 độ vĩ bắc và 2,7153 độ kinh tây, thị trấn và Tu viện Glastonbury tọa lạc trên một cụm gò đồi đá vôi và đất sét kỷ Jura trồi lên giữa bình nguyên ngập nước rộng lớn Somerset Levels. Trước khi các đan sĩ dòng Biển Đức đào hệ thống kênh tiêu nước và đắp đê trị thủy cho dòng sông Brue từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 14, toàn bộ vùng đất thấp xung quanh đều là đầm lầy sương mù và hồ nước nông thông ra cửa biển Bristol Channel, biến cụm đồi Glastonbury thành một quần đảo thực thụ mang tên cổ Ynys yr Afalon (Đảo Táo Avalon). Trong phép xem đất cổ truyền, một vùng gò cao khô ráo nổi lên giữa bốn bề nước bao bọc phẳng lặng được gọi là thế thủy trung liên hoa huyệt (huyệt hoa sen nở giữa đầm nước): nước bao quanh bốn phía giúp giữ chặt toàn bộ sinh khí của vùng đồng bằng mà không để gió thổi tán loạn.
Xét về long mạch và chủ sơn, khu đất 36 mẫu Anh của Tu viện Glastonbury nằm ngay dưới chân sườn phía tây của cụm đồi Chalice Hill và ngọn đồi hình nón Glastonbury Tor (cao 158 mét so với mực nước biển, cách tu viện khoảng một cây số rưỡi về phía đông). Trong bố cục hình thế, ngọn đồi Glastonbury Tor vươn cao đột ngột ở phía đông chính là tổ sơn và hậu chẩm (núi dựa lưng) khổng lồ. Mạch đất từ đỉnh Tor hạ thấp dần qua đồi Chalice Hill để chảy êm xuống thung lũng phẳng nơi dựng đại thánh đường, đồng thời dẫn theo các mạch nước ngầm giàu khoáng chất đổ thẳng vào giếng nước thánh dưới hầm mộ Nhà nguyện Đức Mẹ và hệ thống ao cá phía nam tu viện.
Trục chính của Đại giáo đường và Nhà nguyện Đức Mẹ được định vị chuẩn theo hướng tọa Đông hướng Tây (cung thánh và Nhà nguyện Thánh Edgar tựa lưng về phía đồi Chalice Hill và Glastonbury Tor ở phương Đông, cửa chính của Nhà nguyện Đức Mẹ và cổng Abbey Gatehouse mở ra phố Magdalene ở phương Tây). Ở hai bên cánh tả và cánh hữu, đồi Wearyall Hill chạy dài ở phía tây nam đóng vai trò làm cánh tả Thanh Long (khi nhìn từ phía đồi chủ hướng ra đồng bằng phía tây), trong khi gò Windmill Hill ở phía bắc tạo thành cánh hữu Bạch Hổ che chắn gió bắc. Sự kết hợp giữa thế núi cao che chở phía đông, các gò đồi ôm vòng hai sườn và vùng đầm nước sông Brue mở rộng ở phía tây đã tạo nên một huyệt đạo trù phú bậc nhất miền nam đảo Anh suốt hơn một thiên niên kỷ.
VHành Hương Mùa Hè, Lễ Thánh Dunstan Và Cành Gai Thánh Giáng Sinh
Mặc dù Tu viện Glastonbury hiện là một khu di tích khảo cổ do một quỹ tín thác độc lập quản lý, nơi đây vẫn duy trì đời sống tâm linh sống động qua các cuộc đại hành hương mùa hè được khôi phục từ đầu thế kỷ 20. Mỗi năm vào tháng Bảy, hàng ngàn tín hữu Công giáo và Anh giáo từ khắp Vương quốc Anh lại quy tụ về thảm cỏ giữa những bức tường đá cổ của gian giữa và cung thánh để cử hành thánh lễ ngoài trời và đi kiệu kính Đức Mẹ Glastonbury cùng các vị tử đạo.
| Thời điểm | Theo lịch nào | Lễ tiết và sự kiện | Ý nghĩa và nghi thức tại Tu viện Glastonbury |
|---|---|---|---|
| 17 tháng 3 | Dương lịch, lịch phụng vụ Kitô giáo | Lễ Thánh Giuse người Arimathêa và Lễ Thánh Patrick | Tưởng niệm hai vị thánh gắn liền với truyền thuyết khởi nguyên của tu viện, có thánh lễ tại Nhà nguyện Thánh Patrick trong khuôn viên. |
| 19 tháng 5 | Dương lịch, lịch Công giáo và Anh giáo | Lễ Thánh Dunstan (Feast of St Dunstan) | Kính nhớ vị Viện phụ vĩ đại thế kỷ 10 của Glastonbury và Tổng giám mục Canterbury, người cải cách dòng Biển Đức và bảo trợ các nghệ nhân kim hoàn. |
| Thứ Bảy và Chủ Nhật tuần thứ hai của tháng 7 | Chu kỳ hành hương thường niên mùa hè | Đại Hành hương Anh giáo và Công giáo (Glastonbury Pilgrimages) | Thứ Bảy diễn ra cuộc Hành hương Anh giáo toàn quốc, và Chủ Nhật kế tiếp diễn ra cuộc Hành hương Công giáo Giáo phận Clifton đi kiệu từ đồi Tor về cử hành Thánh lễ tại nền Đại giáo đường. |
| 15 tháng 8 | Dương lịch, lịch phụng vụ Kitô giáo | Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (Assumption of the Blessed Virgin Mary) | Lễ bổn mạng lịch sử của Đại Tu viện Đức Bà Glastonbury, cầu nguyện đặc biệt tại Nhà nguyện Đức Mẹ năm 1186 và Hầm mộ Thánh Giuse. |
| 15 tháng 11 | Dương lịch, lịch các thánh tử đạo Anh | Lễ Chân phúc Richard Whiting, John Thorne và Roger James | Tưởng niệm cuộc tử đạo ngày 15 tháng 11 năm 1539 của vị Viện phụ cuối cùng và hai đan sĩ dòng Biển Đức trên đỉnh đồi Glastonbury Tor. |
| Đầu tháng 12 (Mùa Vọng) | Truyền thống hoàng gia và thị trấn Glastonbury | Nghi lễ cắt Cành Gai Thánh Giáng Sinh (Cutting of the Holy Thorn) | Nghi thức cắt cành hoa nở mùa đông từ Cây Gai Thánh Glastonbury để gửi tặng Quốc vương Anh đặt trên bàn tiệc Giáng Sinh hoàng gia. |
Ngay đối diện cổng phế tích tu viện trên phố Magdalene hiện nay là Đền thánh Công giáo Đức Mẹ Glastonbury (Shrine of Our Lady of Glastonbury, được khánh thành năm 1940 ngay trên nền đất xưa của tu viện và bức tượng Đức Mẹ được Giáo hoàng Phaolô VI cho đội triều thiên giáo hoàng năm 1965). Nhờ vậy, khách hành hương khi tới Glastonbury có thể vừa đi dạo chiêm niệm giữa những trụ đá 800 năm tuổi và giếng nước cổ dưới hầm Nhà nguyện Đức Mẹ, vừa sang tham dự các giờ chầu Thánh Thể và thánh lễ thường nhật tại ngôi đền thánh liền kề.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đường tới
- Khu di tích tọa lạc ngay trung tâm thị trấn Glastonbury, hạt Somerset, với cổng vào chính nằm trên phố Magdalene. Từ ga tàu hỏa Castle Cary hoặc ga Bristol Temple Meads (có tàu trực tiếp từ ga London Paddington), quý vị đón xe buýt tuyến 376 (Mendips Explorer) từ Bristol qua thành phố Wells để tới thẳng điểm dừng trước Tòa thị chính Glastonbury ngay sát cổng tu viện.
- Toạ độ
- 51.1461, -2.7153
Phế tích Tu viện cổ Glastonbury nằm giữa một công viên cỏ rộng 36 mẫu Anh có hồ nước, vườn cây ăn quả cổ truyền và khu bảo tồn động vật hoang dã, nhưng đồng thời vẫn là đất thánh nơi an nghỉ của nhiều thế hệ đan sĩ và quân vương. Quý vị khi tham quan cần lưu ý không trèo lên các bức tường đá vôi đang được bảo tồn khảo cổ, giữ sự trang nghiêm khi bước xuống Hầm mộ Thánh Giuse người Arimathêa dưới Nhà nguyện Đức Mẹ và tuyệt đối không bẻ cành hoặc hái hoa từ những gốc Cây Gai Thánh trong khuôn viên. Vào các ngày cuối tuần giữa tháng Bảy khi diễn ra hai cuộc đại hành hương thường niên, khu vực nền Đại giáo đường được dành riêng cho các đoàn rước và thánh lễ ngoài trời.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Phế tích Tu viện cổ Glastonbury (Glastonbury Abbey)
Contribute photos, information or video for Glastonbury AbbeyThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Truyền thuyết Thánh Giuse người Arimathêa và Cây Gai Thánh tại Glastonbury có nguồn gốc như thế nào
Theo truyền thống Kitô giáo Anh được học giả William xứ Malmesbury ghi chép từ thế kỷ 12 và bổ sung vào thế kỷ 13, Thánh Giuse người Arimathêa đã cùng các môn đệ đến đảo Anh vào thế kỷ 1 SCN và dựng ngôi Nhà thờ Cũ (Vetusta Ecclesia) bằng cành cây đan để kính Đức Trinh Nữ Maria. Khi ngài cắm cây gậy gỗ gai xuống đất trên đồi Wearyall, cây gậy đã đâm chồi thành Cây Gai Thánh Glastonbury có đặc tính nở hoa trắng vào cả mùa xuân lẫn dịp lễ Giáng Sinh giữa mùa đông.
Thực hư việc tìm thấy ngôi mộ của Vua Arthur và Hoàng hậu Guinevere tại tu viện năm 1191 ra sao
Năm 1191, các đan sĩ công bố đã đào sâu 16 feet giữa hai cột đá cổ trong nghĩa trang và tìm thấy một quan tài gỗ sồi rỗng chứa hai bộ hài cốt cùng một cây thánh giá bằng chì khắc chữ Latinh ghi nơi an táng Vua Arthur trên đảo Avalon. Năm 1278, Vua Edward I đã cho tái an táng hai bộ hài cốt này vào một lăng mộ đá cẩm thạch đen trước bàn thờ chính. Khảo cổ học hiện đại năm 1962 xác nhận tại đúng vị trí đó thực sự có một hố mộ cổ thời tiền Norman đã được khai quật vào cuối thế kỷ 12.
Thánh Dunstan đã đóng vai trò gì trong lịch sử Tu viện Glastonbury
Thánh Dunstan (khoảng 909 đến 988) được bổ nhiệm làm Viện phụ Glastonbury khoảng năm 940 và đã biến nơi đây thành trung tâm khởi phát cuộc cải cách đan viện dòng Biển Đức trên toàn nước Anh, đồng thời là nơi an táng ba vị vua Edmund I, Edred và Edgar Hòa Bình. Sau khi trở thành Tổng giám mục Canterbury năm 960, ngài đã soạn thảo nghi thức đăng quang cho Vua Edgar năm 973, trở thành khuôn mẫu cho mọi lễ đăng quang của Hoàng gia Anh suốt hơn một thiên niên kỷ.
Những công trình kiến trúc nào còn nguyên vẹn nhất tại khu phế tích Glastonbury hiện nay
Dù phần lớn Đại giáo đường dài hơn 175 mét chỉ còn lại các bức tường và trụ đá giao đường cao 30 mét, khu di tích vẫn giữ được hai kiệt tác kiến trúc gần như nguyên vẹn: thứ nhất là Nhà nguyện Đức Mẹ (Lady Chapel, xây từ 1184 đến 1186) ở đầu phía tây với các cổng vòm chạm khắc tinh xảo và hầm mộ giếng thánh bên dưới, và thứ hai là Nhà Bếp của Viện phụ (Abbot's Kitchen, thập niên 1330) hình bát giác có mái đá chóp nhọn thoát khói độc đáo.
Vì sao Tu viện Glastonbury bị biến thành phế tích vào năm 1539
Vào thời điểm năm 1535, Glastonbury là tu viện giàu thứ hai toàn nước Anh chỉ sau Tu viện Westminster. Trong chiến dịch Giải thể các Tu viện của Vua Henry VIII và quan thượng thư Thomas Cromwell năm 1539, Viện phụ cuối cùng là Chân phúc Richard Whiting (lúc ấy gần 80 tuổi) bị buộc tội phản quốc vì chống lại việc tịch biên tu viện, bị xử tử trên đỉnh đồi Glastonbury Tor ngày 15 tháng 11 năm 1539, và toàn bộ tu viện bị tịch thu rồi tháo dỡ lấy đá suốt nhiều thế kỷ.