Rời ốc đảo Đôn Hoàng đi về phía đông nam hai mươi lăm cây số giữa mênh mông sỏi xám của sa mạc Gobi, quý vị bất chợt nghe tiếng gió lùa qua rặng bạch dương xanh mướt ven dòng suối Đãng Tuyền cạn nước theo mùa. Ngước nhìn lên bờ tây của lòng suối ấy, ngay dưới chân những đụn cát vàng biết ngân vang của núi Minh Sa, một vách đá cuội kết dựng đứng dài gần mười bảy trăm mét hiện ra chi chít hàng trăm ô cửa hang xếp chồng thành bốn tới năm tầng, nổi bật ở chính giữa là tòa lầu gỗ chín tầng mái cong sơn đỏ tựa lưng thẳng vào vách núi.
Đó là Hang đá Mạc Cao (Mạc Cao Khố, 莫高窟, còn gọi quen trong dân gian là Thiên Phật Động, 千佛洞) thuộc thành phố Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc. Suốt một nghìn năm liên tục từ thế kỷ thứ 4 tới thế kỷ 14, các tăng nhân, thợ vẽ, thương buôn lữ hành và các bậc vương hầu tại ngã tư Yết Hầu của Con đường Tơ lụa đã biến vách đá khô cằn này thành bảo tàng sống động bậc nhất thế giới của Phật giáo Bắc truyền và Kim Cương thừa, một trong số rất ít di tích trên địa cầu được UNESCO ghi danh Di sản Thế giới với trọn vẹn cả sáu tiêu chí văn hóa.

IHào Quang Nghìn Phật Trên Đỉnh Tam Nguy Và Vũ Trụ Kinh Biến Giữa Sa Mạc
Hang đá Mạc Cao là quần thể thạch khố hành trì và chiêm bái của Phật giáo Bắc truyền qua các thời kỳ Thập Lục Quốc, Bắc Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Chu, Tùy, Đường, Ngũ Đại, Tống, Tây Hạ, rồi tiếp nhận thêm truyền thống Kim Cương thừa Tây Tạng dưới triều đại nhà Nguyên. Khác với những ngôi chùa thờ một vị bản tôn cố định, hơn bốn trăm chín mươi hang thờ tự của Mạc Cao hợp thành một pháp giới toàn diện: các hang thời kỳ đầu tôn thờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Quá Khứ Đa Bảo và Bồ Tát Di Lặc ở cung trời Đâu Suất, các hang thời Tùy và Đường rực rỡ hình tượng Đức Phật A Di Đà cõi Tây Phương Cực Lạc, Phật Dược Sư cõi Đông Phương Tịnh Lưu Ly, Bồ Tát Quán Thế Âm, Văn Thù, Phổ Hiền, trong khi các hang thời Tây Hạ và Nguyên xuất hiện mạn đà la Đại Nhật Như Lai cùng Quán Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn.
Vì vách đá núi Minh Sa cấu tạo bằng đá cuội kết sỏi cát thô rời (lịch nham), hoàn toàn không thể đẽo gọt trực tiếp thành tượng đá mịn như đá sa thạch ở Vân Cương hay đá vôi ở Long Môn, các nghệ nhân Đôn Hoàng cổ đại đã sáng tạo ra kỹ thuật tượng đất đắp cốt gỗ tô màu (thải tố) kết hợp với bích họa phủ kín bốn vách và trần tảo tỉnh. Từng pho tượng được dựng khung gỗ liễu hoặc gỗ hồng liễu sa mạc, bó cỏ lau trộn bùn suối Đãng Tuyền và sợi gai mịn rồi thếp vàng, tô khoáng sắc thanh kim thạch, chu sa, thạch lục, khiến không gian bên trong mỗi thạch thất bừng sáng như một cõi Tịnh Độ thu nhỏ giữa lòng cát nóng.
Đóng góp vĩ đại nhất của Đôn Hoàng đối với mỹ thuật và giáo nghĩa Phật giáo Đông Á là hệ thống hàng trăm bức Kinh Biến Đồ (bianxiang, tức tranh biến tướng diễn giải kinh điển). Đối diện với những đoàn thương nhân Hồ, Hán, Thổ Phồn, Hồi Cốt nói nhiều thứ tiếng khác nhau dừng chân bên ốc đảo trước khi vượt sa mạc Taklamakan đầy hiểm nguy, chư tăng Mạc Cao đã chuyển hóa những bộ kinh Đại thừa đồ sộ thành các bức bích họa khổng lồ rộng hàng chục mét vuông: Pháp Hoa Kinh Biến với phẩm Phổ Môn cứu nạn đường xa, A Di Đà Kinh Biến và Quán Vô Lượng Thọ Kinh Biến vẽ lầu các bảy báu cùng dàn nhạc chư thiên và vũ nữ Phi Thiên (apsaras) bay lượn không cần cánh mà chỉ nương theo dải lụa mềm, hay Duy Ma Cật Kinh Biến khắc họa cuộc đối pháp sắc sảo giữa cư sĩ Duy Ma Cật và Bồ Tát Văn Thù. Người hành hương chỉ cần bước vào hang, tay cầm đèn dầu đi nhiễu một vòng quanh trụ tháp trung tâm (nhiễu tháp quán tượng) là có thể quán chiếu trọn vẹn giáo lý vô thường và phát tâm Bồ đề.
Nguồn gốc khai sơn của Mạc Cao được chép chuẩn xác trên tấm bia đá Đại Chu Lý Quân Mạc Cao Khố Phật khám bi lập năm Thánh Lịch nguyên niên thời Võ Chu (698 SCN, hiện còn lưu dấu tại hang số 332). Văn bia ghi rằng vào năm Kiến Nguyên thứ hai thời Tiền Tần (366 SCN), vị tăng nhân du phương tên là Lạc Tôn (Lezun) chống tích trượng đi qua vùng núi này lúc hoàng hôn, bỗng thấy trên đỉnh núi Tam Nguy ở phía đối diện bừng lên ánh kim quang rực rỡ, trong vầng sáng hiện ra hình bóng hàng nghìn Đức Phật. Cho rằng đây là thánh địa ứng hiện giữa chốn sa mạc không làng mạc cao hơn (Mạc Cao), ngài Lạc Tôn bèn đục hang đá đầu tiên vào vách núi phía tây để ngồi thiền. Ít lâu sau, thiền sư Pháp Lương (Faliang) từ phương đông đi tới, dựng tiếp hang thứ hai ngay kế bên. Từ hai thạch thất nhỏ bé ấy, tới thời Võ Tắc Thiên nhà Đường trên vách đá đã có hơn một nghìn khám Phật.
Nhiều người khi đọc tin tức quốc tế về việc các đoàn thám hiểm của Aurel Stein, Paul Pelliot, Sergey Oldenburg hay Langdon Warner đầu thế kỷ 20 mang đi hàng vạn cuộn kinh văn khỏi Tàng Kinh Động (hang số 17) thường lầm tưởng rằng toàn bộ các hang Mạc Cao ngày nay chỉ còn là những hốc đá trống rỗng. Thực tế hoàn toàn khác: các văn thư cổ bị phân tán chủ yếu xuất phát từ duy nhất một mật thất nhỏ (hang phụ số 17 rộng chưa đầy ba mét vuông), còn 492 hang thờ tự chính của khu Nam vẫn giữ nguyên tại chỗ khoảng 45.000 mét vuông bích họa (nếu nối liền thành dải cao một mét sẽ dài tới 45 cây số) và hơn 2.400 pho tượng đất tô màu nguyên bản từ thế kỷ 4 tới thế kỷ 14.
IIMột Thiên Niên Kỷ Đục Đá Vẽ Tranh Và Phát Hiện Chấn Động Năm 1900
Đôn Hoàng vốn là quận biên thùy mở ra từ thời Hán Vũ Đế (năm 111 TCN), nơi hai nhánh Nam đạo và Bắc đạo của Con đường Tơ lụa tách nhau ôm vòng quanh bồn địa Tarim. Nhờ vị trí giao thương huyết mạch rồi về sau lại biệt lập giữa khí hậu cực kỳ khô hạn của vùng Hà Tây, Mạc Cao đã trải qua mười triều đại bồi đắp liên tiếp trước khi ngủ yên trong cát để bảo toàn nguyên vẹn kho tàng cổ vật cho hậu thế.
- 366 SCNTăng nhân Lạc Tôn và Pháp Lương đục những hang đầu tiênNăm Kiến Nguyên thứ 2 nhà Tiền Tần, tăng nhân Lạc Tôn cảm ứng ánh hào quang nghìn Phật trên núi Tam Nguy nên khai đục thạch thất thiền định đầu tiên trên vách núi Minh Sa, mở đầu lịch sử tạo tác tại Mạc Cao.
- 439 tới 581Định hình bích họa Bổn Sinh thời Bắc Ngụy, Tây Ngụy và Bắc ChuCác vương công trấn thủ qua châu và tăng đoàn cho đục hàng chục hang có trụ tháp vuông ở giữa (như hang 254, 257, 428), vẽ tích Cửu Sắc Lộc, Thái Tử Thí Thân Cho Hổ theo bút pháp Tây Vực pha nét thanh thoát Nam Bắc triều.
- 581 tới 907Thời đại hoàng kim dưới hai triều Tùy và ĐườngĐôn Hoàng bước vào thời kỳ cực thịnh. Hơn một nửa số hang hiện còn được khai mở hoặc vẽ lại trong giai đoạn này, chuyển sang không gian điện đường rộng lớn với các bức Kinh Biến tráng lệ và hai pho Đại Phật khổng lồ ở hang 96 và hang 130.
- 695Kiến tạo Bắc Đại Tượng cao 35,5 mét tại hang số 96Năm Diên Tải thứ 2 dưới triều Võ Tắc Thiên, thiền sư Linh Ẩn và Cư sĩ Âm Tổ chủ trì tạc pho tượng Phật Di Lặc ngồi cao 35,5 mét dựa vào vách đá và dựng lầu gỗ nhiều tầng che chở bên ngoài.
- Đầu thế kỷ 11Niêm phong Tàng Kinh Động (hang số 17) cuối thời Quy Nghĩa QuânKhoảng sau năm 1002 (trước khi vương triều Tây Hạ kiểm soát Đôn Hoàng năm 1036), chư tăng chùa Tam Giới đem khoảng 5 vạn cuộn kinh thư, khế ước, tranh lụa từ thế kỷ 4 tới thế kỷ 11 xếp đầy mật thất cạnh hành lang hang 16 rồi xây tường trát vữa vẽ bích họa bít kín.
- 1227 tới 1368Lớp nghệ thuật cuối cùng thời Nguyên và ngừng đục hang mớiDưới triều Nguyên, các hang Mật giáo như hang số 3 (vẽ Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Âm) và hang số 465 được hoàn thiện. Khi giao thương đường biển thay thế đường bộ thời Minh (đóng cửa ải Gia Dục Quan năm 1372), Mạc Cao dần vắng bóng người.
- 1900 và 1944Phát hiện Tàng Kinh Động và thành lập Viện Nghiên cứu Đôn HoàngNgày 22 tháng 6 năm 1900 (26 tháng 5 âm lịch năm Quang Tự thứ 26), đạo sĩ Vương Viên Lục khi dọn cát ở hành lang hang 16 tình cờ phát hiện vết nứt dẫn vào Tàng Kinh Động số 17, khai sinh ngành Đôn Hoàng học quốc tế. Năm 1944, Viện Nghiên cứu Nghệ thuật Quốc lập Đôn Hoàng (tiền thân Viện Nghiên cứu Đôn Hoàng ngày nay) được thành lập dưới sự dẫn dắt của Thường Thư Hồng.
- 1987Đợt đầu tiên Trung Quốc được ghi danh Di sản Thế giới UNESCOTháng 12 năm 1987, Hang đá Mạc Cao trở thành một trong sáu di sản đầu tiên của Trung Quốc được UNESCO ghi danh Di sản Thế giới, đạt đồng thời cả sáu tiêu chí đánh giá văn hóa từ (i) tới (vi).
Về con số 492 hang và 735 hang trong các tài liệu. Khi tra cứu sử liệu và cẩm nang quốc tế, độc giả thường thấy hai con số khác nhau về tổng số hang ở Mạc Cao. Các ấn phẩm xuất bản trước thập niên 1990 thường ghi 492 hang: đây là số lượng các hang thờ tự tập trung ở Khu Nam (dài khoảng 1.000 mét) có lưu giữ bích họa và tượng đắp tô màu. Trong khi đó, hồ sơ cập nhật của Viện Nghiên cứu Đôn Hoàng và UNESCO ghi tổng cộng 735 hang vì tính gộp cả 243 hang ở Khu Bắc (dài khoảng 680 mét), vốn là nơi tăng nhân cổ đại sinh hoạt, tọa thiền, cất lương thực và an táng xá lợi sau khi viên tịch, phần lớn không tô vẽ bích họa.
Về chiều cao Đại Phật hang số 96 và Lầu Chín Tầng. Pho tượng Phật Di Lặc ngồi trong hang số 96 (Bắc Đại Tượng) được Viện Nghiên cứu Đôn Hoàng đo đạc chính xác là cao 35,5 mét (một số sách cũ làm tròn là 33 mét hoặc 34,5 mét). Tòa lầu gỗ bên ngoài che tượng ban đầu thời Đường chỉ có bốn tầng mái, sang thời Tống sửa thành năm tầng, và tới năm 1935 mới được trùng tu thành kết cấu Lầu Chín Tầng (Cửu Tầng Lầu) cao 45 mét dựa lưng vào vách đá như diện mạo biểu tượng ngày nay.
IIIThạch Thất Đấu Đỉnh, Trụ Tháp Trung Tâm Và Lầu Gỗ Chín Tầng Che Đại Phật
Trải dọc 1.680 mét vách đá từ nam lên bắc, kiến trúc bên trong các hang Mạc Cao phản ánh trọn vẹn quá trình bản địa hóa không gian thờ tự Phật giáo từ Ấn Độ sang Trung Hoa. Ở giai đoạn Bắc Lương và Bắc Ngụy thế kỷ 5, nhiều hang được đục theo kiểu hang trụ tháp trung tâm (trung tâm tháp trụ khố, bắt nguồn từ hang thờ chaitya như tại Hang động Ajanta ở Ấn Độ): giữa lòng hang chừa lại một cột đá vuông nối từ nền lên trần khoét các khám thờ Phật bốn mặt để chư tăng đi nhiễu thuận chiều kim đồng hồ.
Từ thời Tây Ngụy, Tùy sang thời Đường, trụ đá giữa hang dần được lược bỏ để nhường chỗ cho kiểu hang điện đường trần đấu đỉnh (phúc đấu đính khố): mặt bằng hình vuông rộng thoáng, bốn vách nghiêng chụm lên trên thành hình chiếc đấu đong thóc úp ngược (mô phỏng trần gỗ tảo tỉnh của cung điện Trung Hoa với họa tiết hoa sen hoặc ba con thỏ chung tai ở chính tâm), còn vách chính diện phía tây khoét một khám thờ lớn đặt quần thể tượng một Phật, hai đệ tử Ca Diếp, A Nan, hai Bồ Tát và hai Thiên Vương hộ pháp. Trước cửa nhiều hang thời Tống và Tây Hạ vốn còn dựng những mái hiên gỗ (khố diêm) gắn mộng vào vách núi, đến nay vẫn còn giữ nguyên năm tòa hiên gỗ cổ thời Tống cực kỳ quý hiếm tại các hang 427, 431, 437, 444 và 196.
Công trình biểu tượng ở chính tâm vách đá Mạc Cao. Bên dưới chín tầng mái gỗ cong vút cao 45 mét là pho tượng Phật Di Lặc ngồi buông chân (ỷ tọa) cao 35,5 mét tạo tác năm 695 thời Võ Tắc Thiên bằng cốt đá núi bồi đất sét trộn rơm gai, hiện là tượng Phật trong nhà lớn nhất Trung Quốc và tượng Phật cổ lớn thứ ba thế giới.
Hang số 16 là đại điện ba tầng rộng lớn do Đô tăng thống Hồng Biện khai đục giữa thế kỷ 9 sau khi Trương Nghị Triều khôi phục vùng Hà Tây về nhà Đường. Ở vách bắc hành lang lối vào hang 16 mở ra cửa nhỏ dẫn vào hang số 17 (vốn là ảnh đường đặt tượng chân dung thiền sư Hồng Biện ngồi thiền đầy thần thái), nơi cất giấu khoảng 5 vạn cuộn kinh thư, trong đó có bản in Kinh Kim Cương năm Hàm Thông thứ 9 (868 SCN), cuốn sách in khắc gỗ có ghi niên đại cổ nhất nhân loại.
Một trong những thạch thất có bố cục cảm xúc sâu lắng nhất ở đầu cực nam Mạc Cao. Hang có mặt bằng chữ nhật nằm ngang để ôm trọn pho tượng Đức Phật Thích Ca nằm nghiêng bên sườn phải trên bệ đá dài tới 15,8 mét với gương mặt an nhiên tự tại, phía sau trên bích họa là hình ảnh hàng chục vị đệ tử và quốc vương các nước Tây Vực đang bi thương tiễn biệt.
Tiêu biểu cho kiến trúc trụ tháp trung tâm và mái sườn dốc giả xà gỗ (nhân tự phi) buổi đầu. Bích họa trên vách hang 257 lưu giữ bức Lộc Vương Bổn Sinh (tích Hươu Chín Màu cứu người trên nền đất đỏ nâu), còn hang 254 khắc họa tích Thái Tử Thí Thân Cho Hổ Đói bằng bút pháp tô đậm nhạt chuyển màu từ Tây Vực truyền sang.
Hang số 220 hoàn thành năm Trinh Quán thứ 16 (642) của gia tộc họ Địch nổi tiếng với bức Dược Sư Kinh Biến có dàn đại nhạc 28 nhạc công dưới ánh đèn cửu liên và bức Duy Ma Cật Kinh Biến hào sảng. Hang số 45 thời Thịnh Đường lưu giữ bộ bảy pho tượng đất tô màu nguyên vẹn tuyệt mỹ, với dáng đứng uyển chuyển chữ S của Bồ Tát và thần sắc trầm tĩnh của tôn giả A Nan, Ca Diếp.
Hang số 130 đục trong niên hiệu Khai Nguyên thời Đường Huyền Tông (khoảng năm 721 tới 741), tôn trí pho tượng Phật Di Lặc cao 26 mét. Dọc tầng cao vách đá khu trung tâm, năm tòa hiên gỗ đấu củng dựng từ thế kỷ 10 thời Bắc Tống (hang 427, 431, 437, 444, 196) vẫn đứng vững nhờ khí hậu sa mạc khô ráo suốt hơn một nghìn năm.
| Hạng mục | Thông số và dữ kiện | Nguồn kiểm chứng |
|---|---|---|
| Chiều dài vách đá | 1.680 m chạy hướng nam bắc (Khu Nam dài ~1.000 m, Khu Bắc dài ~680 m) | Hồ sơ UNESCO số 440, Viện Nghiên cứu Đôn Hoàng |
| Tổng số hang bảo tồn | 735 hang động (492 hang thờ tự có bích họa ở Khu Nam và 243 hang tu cư ở Khu Bắc) | Viện Nghiên cứu Đôn Hoàng (dha.ac.cn), UNESCO |
| Khối lượng bích họa và tượng | Khoảng 45.000 m² bích họa và hơn 2.400 pho tượng đất đắp tô màu (thế kỷ 4 tới 14) | UNESCO, Encyclopædia Britannica |
| Đại Phật lớn nhất (Hang 96) | Tượng Di Lặc ngồi cao 35,5 m (tạo tác năm 695), che bởi Lầu Chín Tầng cao 45 m | Viện Nghiên cứu Đôn Hoàng, Smarthistory |
| Di vật Tàng Kinh Động (Hang 17) | Phát hiện ngày 22 tháng 6 năm 1900, khoảng 50.000 văn thư, tranh lụa, ấn phẩm từ thế kỷ 4 tới 11 | International Dunhuang Project (idp.bl.uk), UNESCO |
IVThế Đất Và Hướng
Trong kinh điển Phật giáo, việc chọn vách núi vắng lặng bên dòng suối xa xóm làng để đục thạch thất vốn xuất phát từ truyền thống tịnh xá Aranya (A Lan Nhã, chốn vắng vẻ yên tĩnh thuận lợi cho việc thiền quán), chứ không xuất phát từ thuật phong thủy cầu phúc lộc thế gian. Dù vậy, khi đặt giữa địa hình tự nhiên khắc nghiệt của hành lang Hà Tây, ốc đảo Mạc Cao lại hội tụ một cục thế che gió giữ nước hiếm có giữa sa mạc. Phần dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép hình thế cổ truyền của thư viện.
Xét trên đại cuộc địa hình tại tọa độ 40,0372 độ vĩ bắc, 94,8042 độ kinh đông, quần thể Hang đá Mạc Cao nằm lọt trong một thung lũng ốc đảo hẹp kẹp giữa hai dãy núi đối xứng nhau giữa lòng hoang mạc. Ngay phía sau lưng các hang động ở hướng tây là dãy Minh Sa Sơn (núi Cát Kêu, cao tới hơn 1.700 mét so với mực nước biển) đóng vai trò làm hậu chẩm che chắn toàn bộ luồng bão cát khô rát thổi từ bồn địa Tarim và sa mạc Kumtag tới. Phía trước cửa hang là thung lũng suối Đãng Tuyền (còn gọi là Đại Tuyền Hà) bắt nguồn từ nước băng tan núi Kỳ Liên chảy từ nam lên bắc, uốn lượn ngay dưới chân vách đá như một dải ngọc đới thủy tưới mát hàng liễu và bạch dương, tạo ra vi khí hậu êm dịu và cung cấp nguồn nước cùng đất bùn mịn để đắp tượng suốt mười thế kỷ.
Xét về sơn hướng, toàn bộ 492 hang thờ tự khu Nam đều được khoét vào vách đá phía đông của núi Minh Sa theo thế tọa Tây hướng Đông (lưng tựa dãy Minh Sa ở phương Đoài, cửa hang mở thẳng về phương Chấn đón ánh bình minh). Nhìn thẳng qua khoảng minh đường suối Đãng Tuyền ở phía trước mặt là ba ngọn đỉnh đá sẫm màu của dãy Tam Nguy Sơn đứng sừng sững làm tiền án và triều sơn khép kín tầm nhìn, ngăn gió lùa trực xung vào cửa động. Điều kỳ thú về mặt quang học và hình thế nằm ở chỗ: đá trên đỉnh Tam Nguy chứa nhiều tinh thể thạch anh và vân mẫu lấp lánh, nên mỗi buổi chiều tà khi mặt trời lặn xuống sau lưng núi Minh Sa ở hướng tây, tia nắng cuối ngày chiếu vọt qua đỉnh đồi rọi thẳng vào vách núi Tam Nguy ở hướng đông, phản chiếu ánh vàng rực rỡ ngược trở lại thung lũng. Chính hiện tượng phản quang tự nhiên giữa hậu chẩm Minh Sa và tiền án Tam Nguy này là nền tảng thực địa cho cảnh tượng hào quang nghìn Phật mà tăng nhân Lạc Tôn đã chiêm ngưỡng vào chiều thu năm 366.
VTục Hành Tượng Tháng Tư, Hội Thắp Đèn Đôn Hoàng Và Dấu Ấn Sử Liệu Giao Châu
Hiện nay Hang đá Mạc Cao là khu bảo tồn di sản đặc biệt do Viện Nghiên cứu Đôn Hoàng quản lý nghiêm ngặt về vi khí hậu nên không đốt nhang đèn bên trong các hang cổ. Tuy nhiên, dựa trên hàng trăm văn bản lịch sử tìm thấy trong chính Tàng Kinh Động số 17 kết hợp với sinh hoạt văn hóa truyền thống của cư dân ốc đảo Đôn Hoàng quanh Lầu Chín Tầng mỗi độ xuân hạ, các kỳ lễ tiết cổ truyền theo âm lịch tại Thiên Phật Động được ghi chép rất rõ ràng.
| Thời điểm | Theo lịch nào | Tên lễ hội cổ truyền | Ý nghĩa và nghi thức gắn với Mạc Cao |
|---|---|---|---|
| Mùng 8 tháng Tư | Âm lịch (lịch Phật giáo Bắc truyền) | Đại lễ Tắm Phật và Hội Hành Tượng Nhiễu Phật (Miếu hội Thiên Phật Động) | Ngày lễ lớn nhất trong năm của cư dân Đôn Hoàng từ thời Đường, Tống tới nay. Người dân địa phương và tín đồ hành hương tập trung trước quảng trường Lầu Chín Tầng (hang 96) để lễ Phật và đi bộ nhiễu hành cầu bình an dưới rặng bạch dương bên suối Đãng Tuyền. |
| Rằm tháng Giêng (15 tháng 1) | Âm lịch | Đêm hội Nhiên Đăng Thượng Nguyên trên vách Thiên Phật | Các văn thư thời Đường, Ngũ Đại trong hang 17 ghi lại lệ chư tăng và các hội hữu (Xã ấp) thắp hàng nghìn ngọn đèn bơ và dầu gai trong các khám đá trên vách Mạc Cao suốt đêm rằm tháng Giêng để mô phỏng hào quang nghìn Phật. |
| Rằm tháng Bảy (15 tháng 7) | Âm lịch | Lễ Vu Lan Bồn và Pháp hội Báo Ân | Kỳ lễ gắn liền với hàng loạt bức Báo Ân Kinh Biến và Mục Liên Biến Văn nổi tiếng tìm thấy ở Đôn Hoàng, khi Phật tử tụng kinh báo hiếu cha mẹ và hồi hướng cho những người lữ hành đã nằm lại trên Con đường Tơ lụa. |
| Mùng 8 tháng Chạp (8 tháng 12) | Âm lịch | Lễ Phật Thành Đạo (Lạp Bát) | Tục nấu cháo Lạp Bát từ hạt kê, đậu, táo đỏ vùng ốc đảo Hà Tây để tưởng niệm ngày Đức Phật Thích Ca thành đạo, tiếp nối lệ phát cháo từ các tu viện cổ Đôn Hoàng. |
Mối liên hệ sử liệu đặc biệt với Phật giáo Giao Châu và hành hương Việt Nam. Ít người biết rằng kho văn thư Tàng Kinh Động số 17 ở Đôn Hoàng lưu giữ những tư liệu quý giá bậc nhất thế giới giúp soi sáng lịch sử Phật giáo và giao thương hàng hải của Việt Nam thời thuộc Đường. Chính tại hang số 17 vào năm 1908, học giả Paul Pelliot đã tìm thấy bản chép tay duy nhất còn tồn tại của tập Vãng Ngũ Thiên Trúc Quốc Truyện do cao tăng Tân La Huệ Siêu viết năm 727, cùng nhiều bản chép kinh Thiền tông buổi đầu (như Đàn Kinh bản Đôn Hoàng, văn bản hệ Bồ Đề Đạt Ma và Thần Hội) và sổ sách hành chính nhà Đường có nhắc tới tuyến đường cầu pháp nối Tràng An, Lạc Dương với An Nam Đô Hộ Phủ (Giao Châu) để ra biển Nam Hải sang Ấn Độ. Ngày nay, các phái đoàn chư tăng, học giả Hán Nôm, nhà nghiên cứu mỹ thuật và Phật tử Việt Nam trên hành trình chiêm bái Con đường Tơ lụa đều coi Đôn Hoàng là điểm dừng chân trọng yếu để tận mắt chiêm ngưỡng diện mạo nguyên bản của nghệ thuật Phật giáo thời Bắc Ngụy và Thịnh Đường từng ảnh hưởng sâu đậm tới điêu khắc chùa tháp Đại Việt thời Lý, Trần.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Vách đông núi Mingsha (Minh Sa Sơn), ốc đảo Dunhuang (Đôn Hoàng), thành phố cấp địa khu Jiuquan (Tửu Tuyền), tỉnh Cam Túc (甘肃省酒泉市敦煌市东南25公里鸣沙山东麓莫高窟)
- Đường tới
- Khu di tích nằm cách trung tâm thành phố Đôn Hoàng khoảng 25 km về phía đông nam (tất cả khách tham quan tập trung trước tại Trung tâm Du khách Số Mạc Cao nằm cách trung tâm thành phố 9 km trên quốc lộ 314, sau đó đi xe trung chuyển chuyên dụng của khu bảo tồn vào chân vách đá). Quý vị có thể bay tới sân bay Quốc tế Mạc Cao Đôn Hoàng hoặc đi tàu cao tốc Lan Tân, tàu hỏa tới ga Đôn Hoàng rồi bắt xe buýt chuyên tuyến vào Trung tâm Du khách.
- Toạ độ
- 40.0372, 94.8042
Các bức bích họa và tượng đất tô màu nghìn năm tuổi trong hang Mạc Cao cực kỳ nhạy cảm với hơi ẩm, khí cacbonic từ hơi thở người và ánh sáng tử ngoại. Vì vậy du khách không thể tự do đi lẻ vào từng hang mà được chia theo nhóm nhỏ đi cùng chuyên viên hướng dẫn của Viện Nghiên cứu Đôn Hoàng để mở khóa tham quan luân phiên một số hang đại diện (kết hợp xem phim vòm cầu độ phân giải cao tại Trung tâm Trưng bày Số trước khi vào khu hang). Khi bước vào lòng thạch thất, quý vị tuyệt đối không mang máy ảnh, không bật đèn điện thoại chiếu lên tranh tường, không chạm tay vào vách đất và giữ trật tự để rút ngắn thời gian lưu khí ẩm trong hang.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Hang đá Mạc Cao (Đôn Hoàng), Cam Túc
Contribute photos, information or video for Mogao Caves, DunhuangThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Hang đá Mạc Cao ở Đôn Hoàng có từ năm nào và do ai khai mở?
Theo văn bia thời Võ Chu năm 698 lưu tại hang 332, Hang đá Mạc Cao được khai đục lần đầu vào năm Kiến Nguyên thứ 2 nhà Tiền Tần (366 SCN) bởi tăng nhân du phương Lạc Tôn sau khi ngài chiêm ngưỡng ánh hào quang nghìn Phật phản chiếu trên đỉnh núi Tam Nguy. Sau đó thiền sư Pháp Lương đục hang thứ hai kế bên, mở đầu quá trình tạo tác kéo dài suốt mười triều đại tới thời nhà Nguyên thế kỷ 14.
Vì sao tượng Phật ở Mạc Cao làm bằng đất đắp tô màu chứ không tạc thẳng vào đá núi?
Vách núi Minh Sa ở Đôn Hoàng cấu tạo từ đá cuội kết (lịch nham) gồm sỏi và cát thô kết dính lỏng lẻo, dễ vỡ vụn nên không thể đục đẽo chi tiết mịn như đá vôi ở Long Môn hay đá sa thạch ở Vân Cương. Do đó nghệ nhân cổ đại đã dựng cốt gỗ liễu sa mạc, bó cỏ lau, đắp bùn lắng từ suối Đãng Tuyền trộn sợi gai rồi thếp vàng và tô màu khoáng vật lên bề mặt tượng.
Tàng Kinh Động (hang số 17) được phát hiện như thế nào và chứa những bảo vật gì?
Tàng Kinh Động là một thạch thất nhỏ đục ở vách bắc hành lang hang số 16, bị xây tường trát bích họa bít kín từ đầu thế kỷ 11. Ngày 22 tháng 6 năm 1900, đạo sĩ Vương Viên Lục khi quét dọn cát đã tình cờ phát hiện căn phòng chứa khoảng 50.000 cuộn văn thư bằng chữ Hán, Tạng, Phạn, Khotan, Duy Ngô Nhĩ cùng tranh lụa Phật giáo, nổi bật nhất là bản in Kinh Kim Cương năm 868 SCN.
Hiện nay Hang đá Mạc Cao còn bảo tồn được bao nhiêu hang và pho tượng lớn nhất cao bao nhiêu?
Theo kiểm kê chính thức của Viện Nghiên cứu Đôn Hoàng và UNESCO, toàn vách đá dài 1.680 mét hiện bảo tồn 735 hang động, gồm 492 hang thờ tự ở khu Nam (chứa 45.000 mét vuông bích họa và hơn 2.400 pho tượng đất tô màu) và 243 hang tu cư ở khu Bắc. Pho tượng lớn nhất là Bắc Đại Tượng (Phật Di Lặc ngồi) trong hang số 96 cao 35,5 mét, dựng năm 695 và được che bởi Lầu Chín Tầng cao 45 mét.
Vì sao UNESCO ghi danh Hang đá Mạc Cao với trọn cả sáu tiêu chí văn hóa?
Khi được ghi danh Di sản Thế giới năm 1987 (hồ sơ số 440), Mạc Cao là một trong số hiếm hoi di tích toàn cầu đáp ứng đủ cả sáu tiêu chí văn hóa từ (i) tới (vi) vì hội tụ đồng thời kiệt tác hội họa điêu khắc liên tục suốt 1.000 năm, bằng chứng giao thoa văn minh Đông Tây trên Con đường Tơ lụa, hình mẫu kiến trúc thạch khố tiêu biểu và kho tư liệu lịch sử vô giá từ Tàng Kinh Động.