Từ lúc trời cao nguyên còn mờ sương lạnh ở độ cao 3.650 mét trên mặt nước biển, khi mặt trời chưa kịp rọi lên bốn tòa mái đồng mạ vàng lấp lánh biểu tượng bánh xe Pháp luân và đôi hươu quỳ, quảng trường đá xanh trước khu phố cổ Barkhor của thành phố Lhasa đã vang lên tiếng gỗ chạm lách cách nhịp nhàng. Đó là âm thanh từ những tấm ván đeo tay của hàng trăm hành giả Tây Tạng đang vươn dài toàn thân sát mặt đá trong nghi thức ngũ thể đầu địa, trán chạm nền đá bóng nhẵn qua mười ba thế kỷ, miệng niệm chú trầm hùng giữa làn khói bách tùng thơm ngát tỏa ra từ hai tháp lò hương lớn.
Ngôi đền giữ vị trí tâm điểm của mọi bước chân hành hương ấy là Chùa Đại Chiêu (tiếng Tạng: Jo khang, ཇོ་ཁང་།, chữ Hán: 大昭寺, Hán Việt: Giác Khang Tự hay Đại Chiêu Tự). Nếu Cung Potala, Lhasa sừng sững trên đỉnh Hồng Sơn ở phía tây bắc là tòa thành cung điện mùa đông và lăng tháp của chư vị Đạt Lai Lạt Ma, thì Chùa Đại Chiêu nằm giữa lòng thung lũng lại là trái tim tâm linh xưa nhất và thiêng liêng nhất của Phật giáo Tây Tạng, nơi quy tụ lòng sùng mộ chung của hết thảy các tông phái Kim Cương thừa và được UNESCO ghi danh Di sản Thế giới vào năm 2000.

IBảo Tượng Jowo Shakyamuni Mười Hai Tuổi, Tích Dê Trắng Lấp Hồ Và Nguồn Gốc Tên Gọi Lhasa
Chùa Đại Chiêu thuộc hệ thống Phật giáo Tây Tạng (Kim Cương thừa hay Tạng truyền Phật giáo). Điểm đặc biệt làm nên vị thế độc tôn của ngôi chùa trên khắp vùng tuyết sơn là tính chất siêu tông phái: dù trải qua các triều đại khác nhau và được phái Cách Lỗ (Gelug, Mũ Vàng) chăm sóc nghi lễ chính từ thế kỷ 15 tới thế kỷ 17, Chùa Đại Chiêu vẫn luôn là thánh điện tối cao của cả bốn truyền thống lớn gồm Ninh Mã (Nyingma), Ca Cử (Kagyu), Tát Ca (Sakya) và Cách Lỗ. Tên gốc của ngôi chùa trong sử biên niên cổ Tây Tạng là Rasa Trulnang Tsuglagkhang (Ngôi thánh điện hiển hiện huyền diệu tại đất Rasa). Chính từ danh xưng Rasa (nghĩa là đất của loài dê, gắn với đàn dê trắng thồ đất lấp hồ dựng chùa) mà vùng thung lũng này về sau được đổi tên thành Lhasa (đất của chư Phật và chư thiên). Bởi thế, người Tây Tạng thường truyền tụng câu ngạn ngữ: Có Chùa Đại Chiêu trước rồi mới có thành phố Lhasa sau.
Tên gọi phổ biến ngày nay là Jokhang (Jo khang, nghĩa đen là Ngôi nhà của Đấng Tôn Quý) xuất phát trực tiếp từ tôn tượng trung tâm được cung phụng ở hậu cung tầng một: Jowo Shakyamuni (hay Jowo Rinpoche, Giác Ngộ Thích Ca Mâu Ni). Pho tượng đúc bằng hợp kim đồng quý mạ vàng cao khoảng 1,5 mét, khắc họa dung mạo từ hòa thanh tịnh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lúc mười hai tuổi trong tư thế kiết già trên tòa sen, tay trái kết ấn thiền định nâng bình bát, tay phải chạm đất trong ấn xúc địa hàng ma. Theo kinh truyền Tây Tạng, pho tượng này là một trong ba bản chân dung đẳng thân hiếm hoi được chế tác ngay khi Đức Phật còn tại thế ở Ấn Độ bởi thần thợ khéo Vishvakarma dưới sự chỉ dẫn của thần Đế Thích và được chính Đức Phật gia trì điểm nhãn. Vì vậy, đối với người con Phật vùng Hy Mã Lạp Sơn, được chiêm bái tận mắt bảo tượng Jowo Rinpoche có phước báu chẳng khác nào được diện kiến kim thân Đức Thế Tôn lúc sinh thời.
Bao quanh nội điện Jowo Khang là một hệ thống mạn đà la lập thể gồm hàng chục khám thờ chư Phật, Bồ Tát và Tổ sư. Phía trước chính điện tôn trí pho tượng Đại Sư Tông Khách Ba (Je Tsongkhapa) và bậc Đạo sư Liên Hoa Sinh (Guru Rinpoche Padmasambhava). Ở các khám bên cạnh có pho tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm (Chenrezig) tự sinh theo truyền thuyết, tượng pháp vương Songtsen Gampo ngồi giữa hai vị vương phi là công chúa Bhrikuti xứ Nepal và Văn Thành Công chúa nhà Đường, còn trên lầu cao thờ vị nữ hộ pháp uy mãnh Palden Lhamo (Cát Tường Thiên Mẫu), vị thần bảo hộ riêng cho cả Chùa Đại Chiêu lẫn thành phố Lhasa.
Theo các bộ cổ sử Tây Tạng như Trụ cột Di chúc (Kabche), Mani Kabum và hồ sơ Di sản Thế giới số 707bis của UNESCO, lịch sử ra đời của Chùa Đại Chiêu gắn liền với cuộc hôn nhân bang giao thế kỷ thứ 7 dưới triều Tán phổ thứ 33 của vương triều Thổ Phồn là Songtsen Gampo (Tùng Tán Can Bố, khoảng 617 tới 650). Công chúa Bhrikuti Devi (Xích Tôn Công chúa) của vương quốc Licchavi (Nepal) mang theo pho tượng Phật Bất Động Kim Cương (Jowo Mikyo Dorje, hình tướng Phật 8 tuổi), còn năm 641, Văn Thành Công chúa của vua Đường Thái Tông mang theo pho tượng Jowo Shakyamuni (hình tướng Phật 12 tuổi) từ Trường An vượt vạn dặm núi tuyết vào Lhasa. Ban đầu, tượng của công chúa Bhrikuti đặt ở Đại Chiêu còn tượng Jowo Shakyamuni đặt ở chùa Tiểu Chiêu (Ramoche) phía bắc. Tới đầu thế kỷ thứ 8 (khoảng năm 710, thời Kim Thành Công chúa nhà Đường vào Tạng), để bảo vệ bảo tượng và thuận tiện chiêm bái, triều đình Thổ Phồn đã hoán đổi vị trí hai pho tượng, đưa tôn tượng Jowo Shakyamuni 12 tuổi vào an vị vĩnh viễn tại hậu cung Chùa Đại Chiêu cho tới tận ngày nay.
Nhiều du khách lần đầu tới Tây Tạng thường nhầm Chùa Đại Chiêu là một tu viện thuộc quyền quản lý riêng của một tông phái hoặc nhầm vai trò của chùa với Cung Potala, Lhasa. Thực tế, Cung Potala mang chức năng kết hợp giữa pháo đài hành chính Ganden Phodrang và điện linh tháp của các đời Đạt Lai Lạt Ma, còn Chùa Đại Chiêu là ngôi thánh đường gốc mở cửa cho muôn dân. Ngoài ra, chữ Chiêu (昭) trong tên Hán Việt Đại Chiêu Tự không phải là chữ Chiêu gốc Hán tự có từ đời Đường, mà là cách phiên âm kiêm dịch nghĩa thời nhà Thanh từ chữ Tạng Jowo (Giác Ngộ, Tôn Quý) để phân biệt với chùa Tiểu Chiêu (Ramoche) ở cách đó hơn một cây số về phía bắc.
IIHơn Mười Ba Thế Kỷ Từ Ngôi Điện Gỗ Thời Thổ Phồn Tới Di Sản Thế Giới
Trải qua hơn 1.370 năm kể từ thời kỳ đầu vương triều Thổ Phồn qua các thời kỳ phân liệt, Phục hưng Phật giáo hậu kỳ, vương triều Phagmodrupa, thời đại Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 5 cho tới cận hiện đại, Chùa Đại Chiêu liên tục được mở rộng từ một tòa tự viện hai tầng mang bố cục tịnh xá Ấn Độ thành một quần thể rộng hơn hai mươi lăm nghìn mét vuông.
- 639 tới 647Tán phổ Songtsen Gampo lấp hồ Ngọa Đường khởi dựng tự việnTheo lời khuyên địa lý của Văn Thành Công chúa và nguyện ước của vương phi Bhrikuti, Tán phổ Songtsen Gampo cho dùng đàn dê trắng thồ đất lấp hồ Ngọa Đường (Wotang) để dựng ngôi điện Rasa Trulnang Tsuglagkhang bằng đá và gỗ bách xù.
- Khoảng 710Rước bảo tượng Jowo Shakyamuni 12 tuổi về ngự tại hậu cungDưới triều Tán phổ Tride Tsuktsen và Kim Thành Công chúa, pho tượng đồng mạ vàng Jowo Shakyamuni 12 tuổi được chuyển từ chùa Tiểu Chiêu (Ramoche) về tôn trí tại trung tâm chính điện Chùa Đại Chiêu.
- 823Dựng Bia đá Liên minh Đường và Thổ Phồn trước cổng TâyNăm Trường Khánh thứ 3 nhà Đường (823), triều đình nhà Đường và vương triều Thổ Phồn dựng tấm bia đá Đường Phồn Hội Minh Bi cao 4,78 mét khắc song ngữ Tạng và Hán ngay trước cửa chính Chùa Đại Chiêu, ghi lời thề hòa hiếu lâu dài giữa hai nước.
- Giữa thế kỷ 9Vượt qua biến cố diệt Phật thời LangdarmaKhi vua Langdarma đàn áp Phật giáo vào khoảng năm 841, các vị tăng nhân đã kịp thời chôn giấu bảo tượng Jowo Shakyamuni dưới lớp cát dày và bít kín cửa điện, nhờ đó ngôi chùa và tôn tượng thoát khỏi sự hủy hoại trước khi được phục hưng vào thế kỷ 10 và 11.
- 1409Đại sư Tông Khách Ba lập Đại lễ Monlam và dâng vương miện vàngMùa xuân năm 1409, Đại sư Tông Khách Ba quy tụ hàng vạn tăng sĩ tại Chùa Đại Chiêu mở Đại lễ Cầu nguyện Monlam Chenmo đầu tiên, đồng thời dâng chiếc vương miện Ngũ Phật bằng vàng ròng nạm ngọc quý lên đầu tượng Jowo Shakyamuni.
- 1645 tới cuối thế kỷ 17Đại trùng tu và hoàn thiện bốn mái Kim Đỉnh thời Đạt Lai Lạt Ma thứ 5Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 5 (Ngawang Lobsang Gyatso) cho mở rộng quy mô lớn các dãy hành lang Thiên Phật, sân giảng kinh, tăng xá và lợp mới hệ thống mái hiên đồng mạ vàng rực rỡ, định hình diện mạo bốn tầng rộng 25.100 mét vuông như hiện nay.
- 1961 và 2000Bảo hộ cấp Quốc gia đợt 1 và ghi danh Di sản Thế giới UNESCONăm 1961, chùa được xếp vào đợt đầu tiên các Đơn vị Bảo hộ Văn vật Trọng điểm Toàn quốc (đại trùng tu giai đoạn 1972 tới 1980). Tháng 11 năm 2000, UNESCO chính thức ghi danh Chùa Đại Chiêu là phần mở rộng của Di sản Thế giới Quần thể Lịch sử Cung điện Potala ở Lhasa.
Đối chiếu các nguồn khảo cổ học và sử liệu Tây Tạng cho thấy hai chi tiết đáng lưu ý. Thứ nhất, về niên đại khởi dựng chính xác: các bộ sử cổ Tây Tạng và tài liệu phổ biến ghi hai mốc là năm 639 (năm bắt đầu lấp hồ khởi công) và năm 647 (năm hoàn tất phần điện thờ cốt lõi), nên hồ sơ UNESCO và giới nghiên cứu học thuật thường định niên đại rộng là giữa thế kỷ thứ 7 (khoảng 639 tới 647). Thứ hai, về tuổi thật của kết cấu gỗ bên trong: các đợt xét nghiệm đồng vị phóng xạ carbon (C14) do các chuyên gia bảo tồn quốc tế thực hiện trên hệ cột và xà ngang bằng gỗ bách xù Tây Tạng tại tầng trệt chính điện đã xác nhận nhiều cấu kiện mộc và phù điêu chạm sư tử có cánh, nhân vật nhạc công kiểu Gupta và Licchavi của thợ Newar (Nepal) có niên đại thực sự từ thế kỷ thứ 7 và thứ 8, biến Chùa Đại Chiêu thành công trình kiến trúc khung gỗ cổ nhất còn đứng vững tại Tây Tạng.
IIIBố Cục Tịnh Xá Vihara Cổ Ấn Độ, Chạm Khắc Newar, Mái Vàng Đường Phong Và Ba Vòng Nhiễu Hành Kora
Toàn bộ quần thể Chùa Đại Chiêu trải rộng trên diện tích khoảng 25.100 mét vuông, phát triển mở rộng về phía tây từ hạt nhân là tòa chính điện cổ bốn tầng cao gần 30 mét. Khác hẳn với các ngôi chùa Hán truyền ở Trung Nguyên hay các tự viện ở Việt Nam luôn quay mặt về hướng Nam, trục chính của Chùa Đại Chiêu tọa Đông hướng Tây, mở cổng chính ra quảng trường Barkhor ở phía tây để hướng thẳng về phía vương quốc Nepal (quê hương vương phi Bhrikuti) và vùng đất Ấn Độ nơi Đức Phật Thích Ca thị hiện.
Giá trị kiến trúc độc nhất vô nhị của Chùa Đại Chiêu nằm ở sự dung hợp nhuần nhuyễn của bốn truyền thống mỹ thuật châu Á trong cùng một tòa nhà: mặt bằng hình vuông có các tịnh thất bao quanh sân giếng trời giữa điện phỏng theo nguyên mẫu tịnh xá Vihara thời Gupta của Ấn Độ (tương tự đại học cổ Nalanda), tường đá hoa cương vát nghiêng dày dặn sơn trắng viền dải cành liễu đỏ sẫm (penma) đặc trưng kiến trúc pháo đài Tây Tạng, hệ thống cột gỗ hình bình bầu và khung cửa chạm nổi hoa văn lá cuộn tinh xảo do nghệ nhân Newar vùng thung lũng Kathmandu chế tác từ thế kỷ thứ 7, và trên cùng là bốn tòa mái lầu gác lợp ngói đồng mạ vàng uốn cong đầu đao có hệ đấu củng mang phong cách cung điện nhà Đường.
Trái tim của ngôi chùa được bố cục như một mạn đà la vuông vức. Tầng trệt và tầng hai bảo lưu nguyên vẹn những hàng cột gỗ bách xù đen bóng thấm bơ yak qua mười ba thế kỷ, các đầu xà chạm khắc hình sư tử nằm, thần lùn nâng đỡ và các vũ nữ thiên giới mang đậm dấu ấn mỹ thuật Ấn Độ và Nepal sơ kỳ.
Nằm chính giữa bức tường phía đông của chính điện là khám thờ linh thiêng nhất Tây Tạng. Tôn tượng Đức Phật Thích Ca 12 tuổi bằng đồng mạ vàng ngự trên bảo tòa chạm khắc Kim Cương thừa, đầu đội vương miện Ngũ Phật vàng ròng do Đại sư Tông Khách Ba cúng dường năm 1409, phía trước đặt hàng chậu vàng bạc khổng lồ chứa đầy bơ yak tan chảy thắp sáng hàng trăm bấc đèn ngày đêm không tắt.
Trên sân thượng tầng bốn vươn lên bốn tòa mái đồng mạ vàng chói lọi ở bốn hướng. Chính giữa nóc mái phía tây hướng ra quảng trường Barkhor đặt biểu tượng kinh điển của Phật giáo Tây Tạng: bánh xe Pháp luân tám nan (Dharmachakra) bằng đồng mạ vàng đứng giữa hai con hươu một đực một cái quỳ chầu đối xứng, nhắc tích Đức Phật chuyển Pháp luân lần đầu tại vườn Lộc Uyển (Sarnath).
Phía trước chính điện cổ là đại sảnh tụ hội và sân đá lộ thiên rộng lớn dựng thêm vào các thế kỷ 14 tới 17, nơi hàng nghìn chư tăng ngồi tụng kinh trong các kỳ đại lễ. Dọc các bức tường hành lang bốn phía lưu giữ khoảng hơn 1.000 mét dài bích họa cổ rực rỡ sắc khoáng thạch, nổi tiếng nhất là bức tranh tường khổ lớn miêu tả đoàn xe ngựa của Văn Thành Công chúa rước tượng Jowo Shakyamuni vào Lhasa và cảnh vận chuyển gỗ đá xây chùa trên lưng dê.
Chùa Đại Chiêu là trục tâm của ba vòng đi nhiễu thuận chiều kim đồng hồ của người Tây Tạng. Vòng trong cùng là Nangkor dài khoảng 500 mét chạy ngay bên trong hành lang bao quanh chính điện với gần 380 ống chuyển kinh luân bằng đồng nối tiếp nhau. Vòng giữa là phố cổ Barkhor (Bát Khuế Nhai) dài khoảng 1 cây số bao quanh toàn bộ khuôn viên chùa. Vòng ngoài cùng là Lingkor dài khoảng 8 cây số ôm trọn cả thành cổ Lhasa, núi Dược Vương và Cung Potala.
Ngay trước hiên cổng phía tây có hàng trăm phiến đá xanh nhẵn bóng như gương do hàng triệu lượt người hành hương quỳ lạy trượt tay suốt nhiều thế kỷ. Bên ngoài cổng tây có bức tường đá vây quanh tấm Bia Liên minh Đường và Thổ Phồn dựng năm 823 cao 4,78 mét (tính cả bệ rùa đá và mũ bia chạm mây rồng), đứng cạnh gốc cây liễu cổ thụ tương truyền do Văn Thành Công chúa trồng gọi là Đường Liễu.
| Hạng mục | Thông số và đặc điểm | Nguồn đối chiếu |
|---|---|---|
| Tổng diện tích quần thể | Khoảng 25.100 m², phát triển từ điện gốc thế kỷ 7 ra bốn phía | UNESCO (hồ sơ 707bis), China.org.cn |
| Chính điện và mái vàng | Cao 4 tầng (khoảng 30 m), kết hợp mộc Thổ Phồn, chạm gỗ Newar và mái vàng nhà Đường | UNESCO, Encyclopaedia Britannica |
| Bảo tượng trung tâm | Jowo Shakyamuni (Phật Thích Ca lúc 12 tuổi), đồng mạ vàng cao khoảng 1,5 m, rước vào Tạng năm 641 | Britannica, Treasury of Lives, Travel China Guide |
| Bia đá Liên minh Đường Phồn | Dựng năm 823 trước cổng Tây, cao 4,78 m, khắc song ngữ chữ Tạng và chữ Hán | China.org.cn, Travel China Guide |
| Ba vòng nhiễu hành Kora | Nangkor (khoảng 0,5 km), Barkhor (khoảng 1 km), Lingkor (khoảng 8 km) | UNESCO, hồ sơ phố cổ Barkhor |
| Tọa độ và cao độ thực địa | 29,6531 độ vĩ Bắc, 91,1322 độ kinh Đông, cao độ khoảng 3.650 m | Wikidata (Q735914), dữ liệu vệ tinh Lhasa |
IVThế Đất Và Hướng
Trong lịch sử kiến trúc tôn giáo Á Đông, hiếm có ngôi chùa nào mà câu chuyện chọn đất lập tự lại gắn chặt với thuật địa lý quán sát sơn thủy ngay từ buổi khai sơn như Chùa Đại Chiêu. Truyền thống Tây Tạng kết hợp phép xem đất Mật thừa Sa-che (Sa dpyad) với dịch lý âm dương ngũ hành do Văn Thành Công chúa mang từ Trường An vào thế kỷ thứ 7. Phần dưới đây đối chiếu đồ hình địa lý cổ Tây Tạng ấy với phép xem hình thế thực địa của thư viện.
Xét trên đại cuộc thung lũng sông Kyi Chu (Lhasa Hà) tại tọa độ 29,6531 độ vĩ Bắc, 91,1322 độ kinh Đông, bình nguyên Lhasa nằm lọt giữa vòng vây tám ngọn núi lớn của dãy Nyenchen Tanglha tựa như tám cánh hoa sen khép lại che chắn gió tuyết cao nguyên, dưới đất có địa thế phẳng rộng như bánh xe Pháp luân tám nan. Ở rìa phía nam thành phố, dòng sông Kyi Chu uốn lượn chảy từ đông sang tây đóng vai trò là dải minh đường thủy hiền hòa ôm lấy toàn bộ khu vực phố cổ Barkhor ở bờ bắc. Theo các bản đồ Nữ La Sát Trấn Phục Đồ thời Thổ Phồn còn lưu truyền trên tranh cuộn thangka, Văn Thành Công chúa khi gieo quẻ dịch và khảo sát sơn mạch đã nhận định toàn bộ địa hình Tây Tạng giống hình một nữ thần đất khổng lồ nằm ngửa (rinmo), còn hồ nước ngầm Ngọa Đường (Wotang) giữa thung lũng Rasa chính là huyệt tâm tạng (trái tim mạch nước nơi muôn khe ngầm tụ hội). Việc dùng đất đá lấp hồ Ngọa Đường, dựng tháp nền đá rồi đặt tòa chính điện Chùa Đại Chiêu ngay trên tâm hồ chính là phép tỏa thủy điểm tâm: khóa mạch nước trũng dễ gây lụt lội để biến đầm lầy cổ thành tâm điểm hội tụ sinh khí cho cả kinh thành Lhasa suốt mười ba thế kỷ.
Xét về trục hướng và trường khí chuyển động, trong khi Cung Potala trên đỉnh Hồng Sơn ở cách đó khoảng 2 cây số về phía tây bắc xoay mặt về hướng chính Nam để nắm quyền trị vì hành chính, thì Chùa Đại Chiêu dưới đồng bằng lại đặt theo trục tọa Đông hướng Tây (cổng chính nhìn về phương Tây khoảng 270 độ, còn hậu điện nơi an vị bảo tượng Jowo Shakyamuni tựa vào phương Đông nơi thượng nguồn dòng Kyi Chu chảy tới). Trục hướng Tây này vừa hướng tâm linh về dãy Hy Mã Lạp Sơn, Nepal và xứ Phật Ấn Độ, vừa mở mặt tiền đón thẳng luồng mạch nối sang Hồng Sơn và núi Dược Vương (Chakpo Ri), tạo thành tam giác thánh địa vững chãi giữa lòng thung lũng. Độc đáo hơn cả, ba vòng đường nhiễu hành Nangkor, Barkhor và Lingkor nơi hàng vạn tín đồ đi bộ liên tục từ trái sang phải (thuận chiều kim đồng hồ) từ sáng sớm tới đêm khuya suốt hơn một thiên niên kỷ đã tạo ra một dòng nhân khí hoàn lưu xoay tròn quanh tâm điểm bảo tượng Jowo Shakyamuni, giữ cho ngôi thánh đường luôn ấm áp sinh khí ngay giữa mùa đông khắc nghiệt trên nóc nhà thế giới.
VĐại Lễ Cầu Nguyện Monlam, Tháng Thánh Saga Dawa Và Bước Chân Hành Hương Từ Việt Nam
Mọi đại lễ tại Chùa Đại Chiêu đều vận hành theo lịch Tây Tạng (âm dương lịch Phugpa tính theo chu kỳ mặt trăng và tiết khí cao nguyên, thường trùng hoặc lệch khoảng một ngày hay một tháng nhuận so với âm lịch Việt Nam tùy từng năm). Vào những ngày sóc vọng (mùng 1, mùng 8, ngày 10, ngày 15 và ngày 30 mỗi tháng Tạng lịch), dòng người mang phích đồng đựng bơ yak nóng chảy xếp hàng dài quanh phố Barkhor để châm thêm bơ vào các chậu đèn trường minh trước tượng Đức Phật mười hai tuổi.
| Thời điểm | Theo lịch nào | Tên đại lễ | Nghi thức cử hành tại Chùa Đại Chiêu |
|---|---|---|---|
| Từ mùng 4 tới 25 tháng Giêng (đỉnh cao ngày 15) | Lịch Tây Tạng | Đại lễ Cầu nguyện Monlam Chenmo và Lễ hội Hoa đăng bơ Chotrul Duchen | Do Đại sư Tông Khách Ba khởi lập năm 1409 kỷ niệm mười lăm ngày Đức Phật thi triển thần thông tại thành Xá Vệ. Chư tăng tụ hội tụng kinh cầu quốc thái dân an, tranh biện giáo lý và vào đêm rằm tháng Giêng trưng bày những tháp phù điêu nặn từ bơ yak nhuộm màu tinh xảo rực sáng quanh phố Barkhor. |
| Trọn tháng Tư (chính lễ ngày 15 tháng Tư) | Lịch Tây Tạng | Đại lễ Saga Dawa (Tháng Phật Đản, Thành đạo và Niết bàn) | Tháng công đức nhân lên gấp bội trong năm của người Tây Tạng, kỷ niệm cả ba sự kiện Đản sinh, Thành đạo và Nhập Niết bàn của Đức Phật Thích Ca vào đúng ngày trăng tròn tháng Tư. Hàng vạn hành giả khắp Tây Tạng, Thanh Hải, Tứ Xuyên về dập đầu lễ lạy kín vòng Barkhor và Lingkor. |
| Ngày 22 tháng Chín | Lịch Tây Tạng | Lễ Thiên Giáng (Lhabab Duchen) | Kỷ niệm ngày Đức Phật từ cung trời Đạo Lợi trở lại nhân gian sau ba tháng an cư thuyết pháp báo hiếu Hoàng hậu Ma Gia. Trước lễ này, các bức tường trắng và diềm cỏ đỏ của chùa được quét vôi sữa tu bổ tinh tươm. |
| Ngày 15 tháng Mười | Lịch Tây Tạng | Lễ hội Tiên Nữ (Palden Lhamo hay Bạch Lạp Mẫu Tiết) | Ngày lễ đặc thù chỉ có tại Chùa Đại Chiêu tôn vinh nữ hộ pháp Cát Tường Thiên Mẫu. Từ lúc tinh mơ, pho tượng hộ pháp Palden Lhamo được rước từ lầu trên xuống đi nhiễu vòng Barkhor để nhận lễ cúng dường rượu lúa mạch và khăn lụa trắng khata của cư dân thành Lhasa, đặc biệt là phụ nữ. |
| Ngày 25 tháng Mười | Lịch Tây Tạng | Lễ hội Đèn bơ Ganden Ngamchoe | Tưởng niệm ngày viên tịch của Đại sư Tông Khách Ba (năm 1419). Khi màn đêm buông xuống, hàng vạn ngọn đèn bơ đồng loạt thắp sáng rực các gờ cửa sổ, ban công mái vàng Chùa Đại Chiêu và khắp các nóc nhà quanh Barkhor. |
Gắn kết hành hương và đối chiếu mỹ thuật với Phật giáo Việt Nam. Từ cuối thế kỷ 20 tới nay, cùng với sự giao lưu sâu rộng giữa truyền thống Bắc truyền Việt Nam và Kim Cương thừa vùng Hy Mã Lạp Sơn, mỗi mùa thu và mùa xuân có rất nhiều đoàn chư tăng ni và cư sĩ Phật tử Việt Nam thực hiện chuyến hành hương vượt cao nguyên Thanh Tạng tới Lhasa để đảnh lễ bảo tượng Jowo Shakyamuni và hòa vào dòng người xoay chuyển kinh luân trên vòng Barkhor. Khi bước vào điện thờ Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm và ngắm các tòa tháp mạn đà la ở Chùa Đại Chiêu, người hành hương Việt Nam dễ dàng nhận ra mạch nguồn tương thông sâu sắc về biểu tượng học Mật giáo đã từng truyền vào nước Việt từ thời Lý, Trần cho tới thế kỷ 17, tiêu biểu như pho tượng Phật Bà Nghìn Mắt Nghìn Tay bằng gỗ sơn son thếp vàng tuyệt mỹ tại Chùa Bút Tháp (Bắc Ninh) hay các cây Cửu Phẩm Liên Hoa quay tròn tương đồng về triết lý chuyển Pháp luân với ống kinh luân Tây Tạng.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 2 đường Barkhor Xijie (Bát Khuế Tây Nhai), quảng trường Barkhor, quận Chengguan (Thành Quan), thành phố Lhasa, Khu tự trị Tây Tạng (西藏自治区拉萨市城关区八廓西街2号)
- Đường tới
- Chùa Đại Chiêu tọa lạc ngay trung tâm khu phố cổ Barkhor thuộc quận Thành Quan (Chengguan), thành phố Lhasa, cách Cung Potala khoảng 2 km về phía đông. Từ ga tàu Lhasa hoặc sân bay Gonggar Lhasa (đi xe buýt sân bay về trung tâm thành phố), quý vị có thể đi các tuyến xe buýt nội đô tới trạm Jiangsu Lu hoặc Lhasa Baihuo rồi đi bộ vào phố đi bộ Barkhor để tới quảng trường cổng Tây của chùa.
- Toạ độ
- 29.6531, 91.1322
Chùa Đại Chiêu nằm ở độ cao 3.650 mét, không khí loãng và bên trong các khám thờ thắp rất nhiều đèn bơ yak nên lượng oxy thấp hơn ngoài trời, quý vị nên di chuyển chậm rãi và hít thở đều. Khi hòa vào dòng người đi dạo trên phố cổ Barkhor bên ngoài hay hành lang Nangkor bên trong chùa, xin luôn đi theo chiều kim đồng hồ (từ trái sang phải), xoay các ống chuyển kinh luân cũng theo chiều kim đồng hồ. Khi bước vào nội điện chiêm bái tượng Jowo Shakyamuni, quý vị cần bỏ mũ nón, kính râm, mặc quần áo dài kín đáo, bước qua bậu cửa gỗ thay vì giẫm lên, không bước ngang qua trước mặt các hành giả đang quỳ lạy ngũ thể đầu địa ngoài sân, và tuyệt đối tuân thủ quy định không chụp ảnh hay quay phim bên trong toàn bộ các điện thờ.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Đại Chiêu (Jokhang), Lhasa
Contribute photos, information or video for Jokhang Temple, LhasaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao Chùa Đại Chiêu được coi là ngôi chùa linh thiêng nhất của Phật giáo Tây Tạng
Chùa Đại Chiêu được khởi dựng từ thế kỷ thứ 7 (khoảng 639 tới 647) dưới thời Tán phổ Songtsen Gampo và là nơi tôn trí bảo tượng Jowo Shakyamuni (hình tướng Đức Phật Thích Ca lúc 12 tuổi bằng đồng mạ vàng do Văn Thành Công chúa rước vào Tây Tạng năm 641), pho tượng được người Tây Tạng tôn sùng như chính kim thân Đức Phật còn tại thế. Khác với các tu viện thuộc riêng từng phái, Chùa Đại Chiêu là thánh tâm chung của mọi tông phái Phật giáo Tây Tạng.
Câu nói Có Chùa Đại Chiêu trước rồi mới có thành phố Lhasa sau có ý nghĩa lịch sử gì
Trước thế kỷ thứ 7, vùng thung lũng này được gọi là Rasa (nghĩa là vùng đất của dê). Khi Tán phổ Songtsen Gampo cho dùng đàn dê trắng thồ đất lấp hồ Ngọa Đường để xây dựng Chùa Đại Chiêu và rước tượng Phật về thờ, dân cư và các dòng người hành hương mới tụ họp quanh ngôi chùa tạo thành khu phố vòng tròn Barkhor, từ đó địa danh Rasa mới đổi thành Lhasa (nghĩa là vùng đất của Phật và chư thiên).
Vì sao cổng chính của Chùa Đại Chiêu lại quay về hướng Tây thay vì hướng Nam
Khác với đa số tự viện Hán truyền và cả Cung Potala đều tọa Bắc hướng Nam, tòa chính điện Chùa Đại Chiêu được đặt theo trục tọa Đông hướng Tây (mở cổng chính ra quảng trường Barkhor ở phía tây). Theo sử truyền Tây Tạng, hướng Tây này vừa hướng về vương quốc Nepal (quê hương công chúa Bhrikuti, người khởi xướng xây điện), vừa hướng tâm linh về vùng đất Ấn Độ ở phía tây nam nơi Đức Phật Thích Ca đản sinh và thành đạo.
Ba vòng nhiễu hành Kora xoay quanh Chùa Đại Chiêu gồm những vòng nào
Chùa Đại Chiêu nằm ở đúng tâm điểm của ba vòng hành hương đi bộ thuận chiều kim đồng hồ tại Lhasa: vòng trong cùng là Nangkor (dài khoảng 500 mét chạy dọc dãy chuyển kinh luân bao quanh chính điện bên trong chùa), vòng giữa là Barkhor (dài khoảng 1 km theo con phố cổ hình đa giác ôm quanh khuôn viên chùa), và vòng ngoài là Lingkor (dài khoảng 8 km bao quanh toàn bộ thành cổ Lhasa và cả Cung Potala).
Tấm bia đá cổ dựng trước cổng Tây của Chùa Đại Chiêu ghi chép sự kiện gì
Đứng trong tường đá bảo vệ trước cổng Tây của chùa là tấm Bia Liên minh Đường và Thổ Phồn (Đường Phồn Hội Minh Bi), dựng vào năm 823 (niên hiệu Trường Khánh thứ 3 nhà Đường, thời Tán phổ Ralpachen). Tấm bia cao 4,78 mét khắc song ngữ chữ Tạng và chữ Hán ghi lại hiệp ước hòa bình, xác lập ranh giới và tình thân cậu cháu giữa hai triều đại Đường và Thổ Phồn, là một trong những văn bia song ngữ quý giá nhất lịch sử châu Á.