Giữa đồng bằng khô nắng của tỉnh Balkh ở miền Bắc Afghanistan, nơi những cơn gió từ sa mạc Karakum thổi về chân dãy núi Hindu Kush, quý vị bước vào quảng trường trung tâm thành phố Mazar-i-Sharif và ngay lập tức bị choáng ngợp bởi một ốc đảo toàn sắc xanh lam và xanh ngọc bích tỏa sáng trên nền đá cẩm thạch trắng. Hàng ngàn con chim bồ câu trắng muốt vỗ cánh bay lên từ khoảng sân rộng, lượn vòng quanh hai mái vòm củ hành khổng lồ, những ngọn tháp giáo đường thon cao và các cổng vòm Iwan chạm khảm dày đặc hoa văn hình học cùng những dải thư pháp Ả Rập trắng tinh khôi.
Người dân bản địa gọi nơi này bằng cái tên đầy thành kính là Rawze-e-Sharif (Đền thánh cao quý), và chính tên gọi của cả thành phố Mazar-i-Sharif (Lăng mộ cao quý) cũng được đặt theo ngôi đền ấy. Khởi dựng lần đầu vào năm 1136 dưới thời Quốc vương Seljuk Ahmed Sanjar và được kiến tạo lại vô cùng tráng lệ vào năm 1481 bởi Quốc vương Timurid Husayn Bayqarah cùng đại thần học giả Ali-Shir Nava'i, quần thể này suốt gần chín thế kỷ là tâm điểm hành hương lớn nhất vùng Khorasan cổ đại, nơi cả tín đồ Hồi giáo Sunni lẫn Shia cùng hội tụ để tưởng niệm Đức Hazrat Ali.

ITruyền Thuyết Lạc Đà Trắng, Đức Hazrat Ali Và Tục Viếng Lăng
Tâm điểm tâm linh của Thánh đường Xanh Mazar-i-Sharif là ngôi mộ cổ nằm dưới mái vòm trung tâm, được truyền thống địa phương vùng Khorasan và Trung Á tôn kính là nơi an nghỉ của Ali ibn Abi Talib (khoảng 600 tới 661 SCN), thường được người dân Afghanistan và Ba Tư tôn xưng là Hazrat Ali (Đức Ali Cao Quý) hoặc Shah-e-Mardan (Vua của những bậc trượng phu). Trong lịch sử Hồi giáo, ngài là em họ và con rể của Nhà tiên tri Muhammad (phu quân của bà Fatimah), đồng thời là vị Khalip chính thống thứ tư (Rashidun, trị vì từ năm 656 tới 661) theo truyền thống Sunni và là vị Imam đầu tiên theo truyền thống Shia.
Theo ghi chép sớm nhất còn lưu lại của học giả kiêm nhà du hành người Andalusia thế kỷ 12 là Abu Hamid al-Gharnati (mất năm 1170) trong sách Tuhfat al-Albab cũng như các biên niên sử thời Timurid của Abd al-Ghafur Lari và Khwandamir, vào năm 530 theo lịch Hijri (tức năm 1136 SCN), hơn bốn trăm người từ bậc trưởng lão, giáo sĩ tới dân thường tại ngôi làng nhỏ Khwaja Khayran (nằm ở phía đông cố đô Balkh) đều cùng chiêm bao thấy một giấc mộng giống nhau. Trong mộng, chính Đức Ali hiện ra cho biết rằng sau khi ngài tử đạo tại Kufa (Iraq) năm 661, để tránh việc thi hài ngài bị kẻ thù xâm phạm, các tín đồ trung thành (có dị bản gắn với thủ lĩnh Abu Muslim vùng Khorasan thế kỷ 8) đã bí mật đặt linh cữu ngài lên lưng một con lạc đà trắng. Con lạc đà đi mãi về phương Đông cho tới khi quỳ xuống và trút hơi thở cuối cùng tại làng Khwaja Khayran, và thi hài ngài đã được chôn cất bí mật tại đó. Khi thống đốc vùng Balkh cho đào kiểm tra gò đất theo lời báo mộng năm 1136, người ta đã phát hiện một hầm mộ xây bằng gạch kiên cố cùng một phiến đá khắc dòng chữ xác nhận đây là mộ của Ali, người anh em của Nhà tiên tri.
Sự tồn tại của Rawze-e-Sharif mang một ý nghĩa hòa hợp tôn giáo đặc biệt tại Trung Á và Nam Á: đây là một trong số ít những thánh địa lớn mà cả cộng đồng Hồi giáo Sunni (chiếm đa số tại Afghanistan) lẫn cộng đồng Hồi giáo Shia (đặc biệt là người Hazara và người Ba Tư) đều cùng bước qua một cánh cổng để thực hành nghi thức viếng lăng (ziyarat). Giống như truyền thống tại Quần thể lăng Shah-i-Zinda ở Samarkand, người hành hương tới đây đi vòng quanh phòng lăng, đặt tay lên khung lưới bạc bao quanh ngôi mộ, đọc chương mở đầu Al-Fatihah của kinh Qur'an và hướng tâm cầu nguyện lên Thượng Đế (Allah) độc nhất, coi phẩm hạnh công chính và lòng dũng cảm của Đức Ali như nguồn cảm hứng đạo đức soi đường.
Khi tìm hiểu về nơi an táng của Đức Ali ibn Abi Talib, quý vị sẽ gặp một điểm khác biệt lớn giữa sử liệu chính thống toàn thế giới Hồi giáo và truyền thống bản địa vùng Balkh. Đa số tuyệt đối các học giả Hồi giáo cả Sunni lẫn Shia trên thế giới đều xác nhận Đức Ali được an táng tại Thánh đường Imam Ali ở thành phố Najaf (miền Trung Iraq, gần Kufa nơi ngài bị ám sát năm 661). Các nhà sử học hiện đại (như Robert D. McChesney trong chuyên khảo Waqf in Central Asia của Đại học Princeton) chỉ ra rằng khu đất tại Khwaja Khayran trước thế kỷ 12 vốn là nơi chôn cất Ali al-Balkhi, một học giả luật học phái Hanafi và hậu duệ dòng dõi thánh tộc sống tại Balkh vào thế kỷ 8 hoặc thế kỷ 9, hoặc là một gò thánh cổ đại của vùng Bactria được Hồi giáo hóa qua sự trùng tên Ali. Thư viện ghi nhận trung thực cả hai nguồn: Najaf ở Iraq là nơi an táng lịch sử được công nhận rộng rãi nhất, còn Mazar-i-Sharif ở Afghanistan là thánh địa tâm linh sinh thành từ đức tin bản địa vùng Khorasan từ năm 1136.
IIChín Thế Kỷ Từ Đền Thờ Seljuk Tới Tuyệt Tác Thời Timurid
Trải qua gần chín trăm năm, từ một gò mộ giữa làng quê Khwaja Khayran, quần thể Rawze-e-Sharif đã được các triều đại Seljuk, Timurid, Shaybanid và vương triều Afghanistan kế tiếp nhau bồi đắp, biến vùng đất xung quanh đền thành đô thị lớn nhất miền Bắc Afghanistan.
- 1136 (530 AH)Quốc vương Seljuk Ahmed Sanjar dựng ngôi đền đầu tiênSau khi hầm mộ cổ tại làng Khwaja Khayran được phát hiện, Quốc vương đế chế Seljuk là Sultan Ahmed Sanjar (trị vì 1118 tới 1157) đã ban lệnh xây dựng ngôi đền gạch đầu tiên trên nền mộ, biến nơi đây thành điểm hành hương sầm uất của vùng Balkh.
- 1220Đền Seljuk bị phá hủy và hầm mộ được lấp đất bảo vệKhi quân Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn tiến vào vùng Balkh năm 1220, kiến trúc đền trên mặt đất bị san phẳng vì lời đồn có kho báu bên dưới, nhưng cư dân địa phương đã kịp thời phủ đất cát và trồng cây bụi che kín vị trí hầm mộ ngầm suốt hơn hai thế kỷ rưỡi.
- 1357 - 1359Dấu ấn tu bổ thời Hãn quốc Kim TrướngTheo một số biên niên sử khu vực, Berdi Beg, vị Hãn của Hãn quốc Kim Trướng (trị vì 1357 tới 1359), đã từng cho thực hiện một số hạng mục trang trí nhỏ tại khu vực di chỉ này trước khi công trình lớn thời Timurid ra đời.
- 1480 - 1481Sultan Husayn Bayqarah và Ali-Shir Nava'i đại trùng tuDưới triều đại Timurid đóng đô tại Herat, sau khi xác minh lại vị trí hầm mộ năm 1480, Quốc vương Sultan Husayn Bayqarah cùng vị đại thần kiêm thi hào lỗi lạc Ali-Shir Nava'i đã khởi công xây dựng tòa lăng mộ mái vòm đôi đồ sộ năm 1481 và đào kênh đào Nahr-i Shahi dẫn nước về nuôi sống thị trấn Mazar-i-Sharif.
- Cuối thế kỷ 16Triều đại Shaybanid xây thêm vòm và lập quỹ WaqfQuốc vương dòng Shaybanid vùng Bukhara là Abd al-Mu'min ibn Abd Allah Khan (cuối thế kỷ 16) đã cho xây dựng thêm một mái vòm mới và hiến tặng nhiều ruộng đất công ích (quỹ tôn giáo Waqf) để duy trì hoạt động của đền thánh.
- Thập niên 1860 - 1910Mở rộng quần thể và ốp toàn bộ gạch men lamDưới thời Emir Sher Ali Khan (thập niên 1860, người sau này cũng được an táng trong khuôn viên đền) và đặc biệt là cuộc đại tu quy mô lớn năm 1910 với các nghệ nhân gốm từ Samarkand và Herat, toàn bộ mặt ngoài công trình được ốp kín gạch men lam ngọc bích tạo nên diện mạo Thánh đường Xanh như ngày nay.
Công cuộc tái thiết năm 1480 tới 1481 dưới thời Sultan Husayn Bayqarah và đại thần Ali-Shir Nava'i vừa để lại phần cốt lõi kiến trúc Timurid của ngôi đền hiện nay, vừa kiến tạo nên một thiết chế kinh tế xã hội đặc sắc gọi là Waqf (quỹ hiến tặng tôn giáo bất khả xâm phạm). Bằng việc cho đào con kênh hoàng gia Nahr-i Shahi dài hàng chục cây số dẫn nước từ sông Balkh về tưới tiêu cho vùng đất quanh đền và giao toàn bộ nguồn thu thuế nông nghiệp, chợ búa cho ban quản trị Rawze-e-Sharif, triều đình Timurid đã biến khu vực quanh đền thành một vùng đất miễn trừ thuế khóa, thu hút thương nhân, thợ thủ công và học giả từ khắp Trung Á về định cư, làm nên sự trỗi dậy của thành phố Mazar-i-Sharif thay thế cho cố đô Balkh cổ xưa.
IIIKiến Trúc Timurid Mái Vòm Đôi, Nghệ Thuật Gạch Men Kashi Và Đàn Bồ Câu Trắng
Nằm ở chính giữa một khuôn viên hình chữ nhật rộng lớn lát đá cẩm thạch trắng và bao bọc bởi những khu vườn rợp bóng cây cùng bốn cổng lớn mở ra bốn hướng của thành phố, Thánh đường Xanh Mazar-i-Sharif là một kiệt tác tiêu biểu của trường phái kiến trúc Hồi giáo thời Phục hưng Timurid thế kỷ 15 kết hợp với nghệ thuật gốm men cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Mặt bằng tổng thể của tòa kiến trúc chính dài khoảng 53 mét và rộng 38 mét, chia thành hai không gian song hành: khu phòng lễ nguyện (thánh đường) ở phía tây và cụm phòng lăng mộ (ziyaratkhana và gurkhana) ở phía đông.
Nhìn từ bên ngoài, không có bất kỳ một mảng tường gạch thô nào lộ ra dưới ánh mặt trời: toàn bộ mặt đứng, các cổng vòm cao pishtaq với hốc vòm sâu iwan, đôi tháp giáo đường (minaret) cân xứng ở hai góc và hai mái vòm củ hành có gờ múi trên đỉnh đều được dệt kín bằng hàng triệu viên gạch tráng men Kashi (kashikari) mang đủ mọi sắc độ của màu xanh lam, từ xanh ngọc bích (turquoise), xanh lam coban, xanh đá thanh kim (lapis lazuli) cho tới điểm xuyết sắc trắng, vàng nghệ và lục bảo.
Hai mái vòm lớn hình củ hành vươn cao trên cổ trống hình trụ tròn (drum), một vòm che phía trên tiền sảnh lễ hội (ziyaratkhana) và một vòm che ngay trên phòng mộ chính (gurkhana) của Đức Hazrat Ali. Vỏ ngoài của vòm được ốp gạch men xanh ngọc bích lấp lánh dưới nắng sa mạc, còn cổ trống chạy vòng quanh những dòng đại tự Kufic vuông và Thuluth.
Mặt tiền chính hướng Nam nổi bật với khung cổng Pishtaq cao vút ôm lấy hốc vòm Iwan sâu thẳm trang trí nhũ đá muqarnas. Hai bên cổng chính là hai ngọn tháp Minaret hình trụ tròn thon dần lên cao với ban công có mái che, toàn bộ thân tháp ghép gạch men hình thoi và hoa thị lục giác.
Do khí hậu lục địa khắc nghiệt mùa hè nóng bức và mùa đông băng giá làm gạch men giãn nở bong tróc theo thời gian, ngay trong khuôn viên đền duy trì một xưởng chế tác gạch men thủ công truyền thống cha truyền con nối, ngày đêm vẽ tay và nung mới từng viên gạch Kashi để thay thế tức thì cho các mảng tường hư hại.
Bên trong phòng mộ trung tâm, ngôi mộ được bao bọc bởi khung lưới kim loại chạm bạc và đồng tinh xảo, tường và vòm trần vẽ hoa lá thếp vàng lộng lẫy. Trên cổng vào khắc bài thơ chữ Ba Tư nổi tiếng (tương truyền của đại thi hào Sufi thế kỷ 15 Abd al-Rahman Jami) ca ngợi phẩm hạnh của Đức Ali đến mức các thiên thần cũng muốn cúi hôn bậc thềm đền thánh.
Khoảng sân rộng lớn bao quanh thánh đường là nơi sinh sống của hàng ngàn con chim bồ câu trắng muốt được ban quản trị và khách hành hương chăm sóc mỗi ngày. Theo truyền thuyết dân gian Mazar-i-Sharif, vì sự thanh khiết linh thiêng của ngôi đền mà bất kỳ một con bồ câu lông xám hay đen nào bay lạc vào sống trong đàn cũng sẽ tự động hóa thành bồ câu trắng tinh chỉ sau 40 ngày.
Đặt trong bức tranh rộng lớn của kiến trúc thế giới Hồi giáo, Thánh đường Xanh Mazar-i-Sharif chia sẻ truyền thống cổng vòm Iwan và nghệ thuật khảm men lam của vùng Đại Ba Tư và Trung Á với Thánh đường Jameh ở Isfahan (Iran) và Quần thể lăng Shah-i-Zinda ở Samarkand (Uzbekistan), đồng thời tạo nên một sự đối sánh thú vị về tên gọi với Thánh đường Xanh (Sultan Ahmed) ở Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ), nơi sắc xanh Iznik được ốp ở nội thất bên trong chứ không phủ kín toàn bộ ngoại thất dưới bầu trời như tại Mazar-i-Sharif.
IVThế Đất Và Hướng
Cần khẳng định rõ ngay từ đầu: Hồi giáo không sử dụng thuật phong thủy để chọn đất hay định hướng công trình. Trong quy tắc kiến trúc Hồi giáo, vị trí của Rawze-e-Sharif được quyết định bởi địa điểm phát hiện ngôi mộ cổ năm 1136, còn hướng của gian cầu nguyện (masjid) bắt buộc phải tuân theo trục Qibla, tức hướng thẳng về Đại Thánh đường Masjid al-Haram (Kaaba) tại Mecca (từ Mazar-i-Sharif nhìn về Mecca là hướng Tây Tây Nam, góc phương vị khoảng 247 độ). Phần dưới đây là cách đọc địa hình ốc đảo Bactria và bố cục không gian của thư viện theo con mắt phong thủy hình thế cổ truyền phương Đông để quý vị tham khảo đối chiếu.
Xét về đại cục sơn thủy và long mạch, thành phố Mazar-i-Sharif tọa lạc ở độ cao khoảng 360 mét trên mực nước biển, ngay tại dải đồng bằng phù sa chân núi phía bắc của đại sơn mạch Hindu Kush (Paropamisus) và phía nam của dòng sông lớn Amu Darya (sông Oxus cổ đại). Trong pháp nhãn hình thế, dãy núi Hindu Kush hùng vĩ chạy ngang suốt phía nam của thành phố đóng vai trò là hậu chẩm thiếu tổ sơn sừng sững chắn gió cát khắc nghiệt, trong khi các dòng nước băng tuyết tan từ trên đỉnh núi đổ xuống qua hẻm núi Tangi Tashqurghan và hệ thống sông Balkh cùng kênh đào cổ Nahr-i Shahi đã kiến tạo nên một ốc đảo tụ thủy trù phú ngay trước khi đất đai mở rộng ra vùng bình nguyên sa mạc phía bắc. Giữa vùng khí hậu khô hạn của Trung Á, nơi nào có mạch nước ngầm và kênh dẫn thủy hội tụ thì nơi đó chính là chân huyệt sinh khí nuôi dưỡng vạn vật.
Xét về tọa độ, bố cục trung cung và ngũ hành, tại tọa độ thực địa 36,70896 độ vĩ Bắc và 67,11085 độ kinh Đông, Thánh đường Xanh nằm ở đúng trung cung (trái tim hình học) của toàn bộ mạng lưới đô thị Mazar-i-Sharif, với bốn đại lộ chính tỏa ra bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc như bốn mạch huyết quản dẫn dòng người hành hương tụ về quảng trường trung tâm. Cổng vòm Iwan chính của khu lăng mộ mở rộng về hướng Nam (đón ánh sáng mặt trời rực rỡ suốt cả ngày làm lớp men ngọc bích phát sáng), trong khi gian thánh đường lễ nguyện ở phía tây quay mihrab về hướng Tây Tây Nam (Qibla). Đọc theo lý thuyết Ngũ hành phương Đông, giữa một vùng đồng bằng khô nóng mang đậm tính Hỏa và Thổ của miền Bắc Afghanistan, việc các bậc kiến trúc sư cổ đại phủ kín toàn bộ ngoại thất ngôi đền bằng hàng triệu viên gạch men màu xanh lam và xanh ngọc bích (thuộc hành Thủy và hành Mộc) trên nền sân đá cẩm thạch màu trắng (thuộc hành Kim, Kim sinh Thủy, Thủy dưỡng Mộc) cùng đàn chim bồ câu trắng bay lượn đã tạo nên một trường cảm ứng thị giác và khí trường mát dịu, thanh tịnh như một ốc đảo thiên đường giữa nhân gian.
VĐại Lễ Đón Năm Mới Nowruz, Nghi Thức Thượng Kỳ Janda Bala Và Hội Hoa Tulip Đỏ
Ngoài các kỳ lễ trọng hằng năm theo lịch Hồi giáo Hijri (như tháng chay Ramadan, lễ Eid al-Fitr và lễ Eid al-Adha), Thánh đường Xanh Mazar-i-Sharif nổi tiếng khắp thế giới nhờ truyền thống tổ chức đại lễ đón năm mới Nowruz (vào đúng ngày Xuân phân 21 tháng 3 dương lịch) kết hợp với Lễ hội Hoa Tulip Đỏ (Mela-e-Gul-e-Surkh) kéo dài suốt 40 ngày đầu xuân khi những triền đồi quanh vùng Balkh nở rộ hoa tulip đỏ thẫm.
| Thời gian | Tên đại lễ / Nghi thức | Nội dung và ý nghĩa truyền thống |
|---|---|---|
| Ngày Xuân phân (21 tháng 3 dương lịch) | Lễ Thượng kỳ Janda Bala (Jahenda Bala) | Nghi thức tâm điểm của dịp Tết cổ truyền Nowruz tại sân Thánh đường Xanh: một lá cờ thánh khổng lồ màu xanh lục và đa sắc gắn liền với danh hiệu Đức Hazrat Ali được dựng đứng lên cột cao trong tiếng cầu nguyện của hàng vạn người hành hương. Dân gian tin rằng nếu lá cờ được kéo lên thẳng mượt trong một lần duy nhất thì năm mới sẽ mưa thuận gió hòa và thái bình. |
| 40 ngày đầu xuân (từ 21/3 tới cuối tháng 4) | Lễ hội Hoa Tulip Đỏ (Mela-e-Gul-e-Surkh) | Kéo dài suốt 40 ngày từ khi thượng cờ Janda Bala cho tới khi hạ cờ, trùng với mùa hoa tulip hoang dã nở đỏ rực trên các cánh đồng vùng Balkh, thu hút dòng người hành hương khắp vùng Trung Á về viếng đền và du xuân. |
| Tháng thứ 9 lịch Hijri | Tháng lễ Ramadan | Hàng ngàn tín đồ tụ hội tại sân đá cẩm thạch trắng của thánh đường mỗi chiều tối để cùng dùng bữa xả chay (Iftar) và cử hành lễ nguyện đêm Tarawih. |
| Ngày 1 tháng Shawwal và 10 tháng Dhu al-Hijjah (Hijri) | Đại lễ Eid al-Fitr và Eid al-Adha | Hai ngày đại lễ lớn nhất trong năm của Hồi giáo, toàn bộ quảng trường quanh Thánh đường Xanh chật kín tín đồ về cử hành lễ nguyện cộng đoàn buổi sáng và chúc phúc gia đình. |
Vào những buổi chiều thường nhật quanh năm, hình ảnh đẹp nhất tại sân Thánh đường Xanh là cảnh các gia đình địa phương ngồi trên thảm đá cẩm thạch trắng mát lạnh, rải hạt kê cho đàn bồ câu trắng hàng ngàn con sà xuống ăn dưới bóng hai mái vòm xanh ngọc bích đang đổi màu theo ánh hoàng hôn.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Quảng trường trung tâm thành phố Mazar-i-Sharif, tỉnh Balkh (vùng Bactria cổ đại), miền Bắc Afghanistan
- Đường tới
- Tọa lạc ngay tại quảng trường trung tâm của thành phố Mazar-i-Sharif, thủ phủ tỉnh Balkh ở miền Bắc Afghanistan. Từ Sân bay Quốc tế Mawlana Jalaluddin Muhammad Balkhi (cách trung tâm thành phố khoảng 9 km về phía đông), quý vị đi xe dọc theo đại lộ chính hướng thẳng về phía tây là tới quảng trường bốn cổng của thánh đường.
- Toạ độ
- 36.70896, 67.11085
Khi tới viếng Thánh đường Xanh Mazar-i-Sharif, quý vị cần tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc trang phục kín đáo của thánh địa Hồi giáo: nam giới mặc quần dài và áo có tay (tránh mặc quần ngắn), nữ giới mặc trang phục dài rộng che kín tay chân và quàng khăn trùm kín tóc. Trước khi bước lên thềm đá cẩm thạch trắng của khu vực sân nội vi và phòng lăng, mọi người đều phải tháo giày dép gửi tại quầy giữ giày ở các cổng vào. Quý vị lưu ý đi nhẹ, không bước cắt ngang trước mặt người đang quỳ cầu nguyện và không xua đuổi đàn chim bồ câu trắng trong sân đền.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Thánh đường Xanh Mazar-i-Sharif
Contribute photos, information or video for Blue Mosque, Mazar-i-SharifThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Thánh đường Xanh Mazar-i-Sharif gắn với nhân vật lịch sử nào của Hồi giáo?
Quần thể gắn liền với lòng tôn kính Đức Ali ibn Abi Talib (Hazrat Ali, khoảng 600 tới 661 SCN), em họ và con rể của Nhà tiên tri Muhammad, vị Khalip chính thống thứ tư theo truyền thống Sunni và vị Imam đầu tiên theo truyền thống Shia. Chính tên thành phố Mazar-i-Sharif (Lăng mộ cao quý) cũng bắt nguồn từ ngôi đền này.
Vì sao có cả truyền thống cho rằng mộ Đức Ali ở Najaf (Iraq) lẫn ở Mazar-i-Sharif (Afghanistan)?
Đa số tuyệt đối các học giả Hồi giáo xác nhận Đức Ali được an táng tại Thánh đường Imam Ali ở thành phố Najaf (Iraq). Trong khi đó, truyền thống bản địa vùng Khorasan từ năm 1136 kể rằng thi hài ngài từng được bí mật chở trên lưng một con lạc đà trắng về chôn cất tại làng Khwaja Khayran (nay là Mazar-i-Sharif) để tránh bị kẻ thù xâm phạm. Thư viện ghi nhận trung lập cả hai truyền thống.
Ngôi đền được xây dựng năm nào và do những vị vua nào kiến tạo?
Ngôi đền gạch đầu tiên được Quốc vương đế chế Seljuk là Sultan Ahmed Sanjar cho dựng vào năm 1136 nhưng bị quân Mông Cổ phá hủy năm 1220. Tới năm 1481, Quốc vương triều đại Timurid là Sultan Husayn Bayqarah cùng đại thần học giả Ali-Shir Nava'i đã khởi công tái thiết tòa lăng mộ mái vòm đôi tráng lệ, làm nền tảng cho kiến trúc hiện nay.
Truyền thuyết về đàn chim bồ câu trắng trước sân Thánh đường Xanh kể điều gì?
Trong sân đá cẩm thạch của đền lúc nào cũng có hàng ngàn con chim bồ câu trắng muốt được chăm sóc cẩn thận. Người dân Mazar-i-Sharif lưu truyền rằng vì sự linh thiêng và thanh tịnh của đền thờ Đức Hazrat Ali, bất kỳ một con chim bồ câu có lông màu xám hay màu đen nào bay vào sống chung với đàn thì chỉ sau 40 ngày bộ lông của nó cũng sẽ hóa thành màu trắng tinh khôi.
Nghi thức Janda Bala trong dịp lễ đón năm mới Nowruz tại đền là gì?
Janda Bala là đại lễ thượng kỳ cử hành vào sáng ngày Xuân phân (21 tháng 3 dương lịch) để mở đầu năm mới Nowruz và Lễ hội Hoa Tulip Đỏ kéo dài 40 ngày tại Mazar-i-Sharif. Hàng vạn người hành hương tụ tập quanh sân đền để chứng kiến nghi thức dựng đứng cây cột cờ thánh cao lớn mang danh hiệu Đức Hazrat Ali, cầu mong một năm mới bình an và mùa màng tốt tươi.