Rời cửa Xương Môn của thành cổ Tô Châu đi về phía tây chừng năm cây số tới trấn Phong Kiều, nơi hai nhịp cầu đá vòm cổ Giang Thôn Kiều và Phong Kiều bắc ngang qua nhánh sông đào cổ của Đại Vận Hà, du khách bắt gặp một bức tường chiếu bích quét vôi vàng rực in bóng dưới hàng liễu rủ bên bờ nước. Khác hẳn hàng nghìn ngôi chùa cổ luôn quay cửa về phương nam, ngôi chùa bên bến thuyền này lại xoay thẳng cổng sơn môn về hướng tây để đón mặt nước lững lờ và những con thuyền xuôi ngược trong sương khói Giang Nam.
Đó là Chùa Hàn Sơn (Hàn Sơn Tự, 寒山寺), tọa lạc tại quận Cô Tô, thành phố Tô Châu, tỉnh Giang Tô. Khởi lập từ đầu thế kỷ thứ sáu dưới triều Lương và mang tên bậc thi tăng ẩn sĩ Hàn Sơn thời Đường, ngôi chùa bình dị của miền sông nước Phật giáo Lâm Tế này đã bước vào cõi bất tử của văn hóa nhân loại nhờ bài thơ thất ngôn tứ tuyệt Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế, trở thành miền ký ức thi ca thân thuộc với biết bao thế hệ người đọc tại Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc.

IĐôi Tri Kỷ Thi Tăng Hàn Sơn Thập Đắc Và Biểu Tượng Hòa Hợp Nhị Tiên
Chùa Hàn Sơn thuộc Thiền tông Phật giáo Bắc truyền (hiện do chư tăng phái Lâm Tế trụ trì), tôn thờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tại Đại Hùng Bảo Điện, nhưng linh hồn tinh thần làm nên bản sắc riêng biệt của ngôi chùa lại nằm ở sự tôn vinh hai vị cao tăng dị nhân đời Đường là Hàn Sơn (Cold Mountain) và Thập Đắc (Foundling) tại tòa Hàn Thập Điện phía sau chính điện.
Khi khởi lập vào niên hiệu Thiên Giám thời Lương Vũ Đế (502 tới 519 SCN), chùa vốn mang tên là Diệu Lợi Phổ Minh Tháp Viện. Tới niên hiệu Trinh Quán thời Đường Thái Tông (627 tới 649), vị ẩn sĩ thi tăng Hàn Sơn từ vách đá Hàn Nham núi Thiên Thai tìm tới đất Ngô Châu trụ trì ngôi chùa bên bến Phong Kiều, từ đó già lam mới chính thức đổi sang tên gọi Hàn Sơn Tự.
Trong lịch sử tư tưởng Thiền tông và mỹ học phương Đông, Hàn Sơn và Thập Đắc hiện thân cho cảnh giới tự tại vô ngại, bất lập văn tự giữa thiên nhiên khoáng đạt. Hàn Sơn để lại hơn ba trăm bài thơ bạch thoại giản dị như lời nói thường ngày mà thấm đẫm cốt tủy Bát Nhã, lấy vách đá mây trắng làm nhà, lấy trăng thu làm ngọn đèn soi bản tâm. Còn Thập Đắc vốn là đứa trẻ mồ côi được thiền sư Phong Can nhặt về nuôi ở phòng bếp chùa Quốc Thanh (nên đặt tên là Thập Đắc, nghĩa là nhặt được), suốt ngày cầm chổi tre quét lá sân chùa mà thực chất là quét sạch bụi trần phiền não trong tâm khảm.
Nổi tiếng bậc nhất trong kho tàng đối thoại nhà Thiền là đoạn Hàn Thập Vấn Đáp khắc trên bia chùa: Hàn Sơn hỏi Thập Đắc rằng nếu người đời chê ta, lừa ta, nhục mạ ta, cười nhạo ta, khinh rẻ ta, chèn ép ta thì phải đối đãi thế nào? Thập Đắc mỉm cười đáp: Chỉ cần nhẫn họ, nhường họ, mặc họ, tránh họ, kính họ, đừng chấp nhặt họ, đợi thêm vài năm nữa ngươi hãy nhìn xem họ ra sao. Tới năm Ung Chính thứ 11 nhà Thanh (1733), hoàng đế Ung Chính ban chiếu sắc phong Hàn Sơn làm Hòa Thánh và Thập Đắc làm Hợp Thánh. Trong hội họa dân gian và điêu khắc chùa Hàn Sơn, hình ảnh hai vị đầu tóc bù xù cười sảng khoái hết cỡ, một vị cầm đóa hoa sen (chữ hà đồng âm với chữ hòa), một vị bưng chiếc hộp tròn (chữ hạp đồng âm với chữ hợp) trở thành Hòa Hợp Nhị Tiên, biểu tượng linh thiêng cầu chúc gia đạo thuận hòa, vợ chồng gắn bó và nhân thế giải trừ oán kết.
Nếu Hàn Sơn và Thập Đắc trao cho ngôi chùa cốt cách nhà Thiền, thì nhà thơ Trương Kế (đỗ Tiến sĩ năm Thiên Bảo thứ 12 đời Đường, tức 753 SCN) đã trao cho ngôi chùa đôi cánh thi ca vĩnh cửu. Giữa buổi loạn An Sử đầy biến động vào nửa sau thế kỷ thứ 8, trên đường xuôi thuyền qua đất Giang Nam, Trương Kế buộc thuyền nghỉ đêm bên bến Phong Kiều lạnh sương ngoài thành Cô Tô. Giữa nỗi cô đơn trăn trở không sao chợp mắt trước ánh lửa thuyền chài lập lòe và bóng cây phong bên bờ nước, tiếng chuông đêm từ Hàn Sơn Tự bỗng ngân dài chạm thẳng vào mạn thuyền lữ khách, khơi nguồn cho bài Phong Kiều Dạ Bạc vỏn vẹn hai mươi tám chữ Hán: Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, Giang phong ngư hỏa đối sầu miên. Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự, Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Ngay từ thời Đường và Tống, bài thơ đã nổi tiếng tới mức hoàng đế Đường Vũ Tông và các danh thần đều tìm chép, các bậc đại thư pháp gia từ Văn Trưng Minh thời Minh tới Du Việt thời Thanh nối nhau khắc đá dựng bia tại chùa, biến một ngôi chùa nhỏ ven sông đào thành điểm hành hương văn chương bậc nhất của cả vùng Đông Á.
Xoay quanh bài thơ của Trương Kế và hiện vật của Chùa Hàn Sơn có hai câu chuyện khảo chứng lịch sử rất lý thú thường dễ gây hiểu lầm. Thứ nhất, vào thời Bắc Tống, đại văn hào Âu Dương Tu trong sách Lục Nhất Thi Thoại từng chê Trương Kế ham câu chữ hay mà viết sai sự thật, bởi chùa chiền chỉ đánh chuông lúc sáng sớm và chiều tối chứ ai lại đánh chuông lúc nửa đêm (dạ bán)? Thế nhưng ngay sau đó, các học giả đời Tống am tường phong tục đất Ngô như Phạm Thành Đại (trong Ngô Quận Chí) và thi hào Lục Du (người trực tiếp trọ ở Tô Châu nghe tiếng chuông lúc canh ba) đã chứng minh Trương Kế hoàn toàn viết đúng thực tế: các ngôi chùa cổ vùng Tô Châu thời Đường Tống có lệ gióng phân dạ chung (chuông phân đêm hay chuông vô thường vào đúng nửa đêm) để báo canh cho thuyền bè trên sông và thức tỉnh người tu hành. Thứ hai, quả chuông đồng gốc đời Đường trong thơ Trương Kế đã thất lạc từ lâu qua nhiều lần chùa cháy, quả chuông cổ đang ngân vang trên lầu chuông sáu cạnh hiện nay cùng tấm bia đá Phong Kiều Dạ Bạc nổi tiếng nhất trong Bi Lang đều là bảo vật được đúc mới và khắc dựng lại vào năm Quang Tự thứ 32 (1906) dưới bàn tay học giả tám mươi sáu tuổi Du Việt.
IIMười Lăm Thế Kỷ Bên Bến Thuyền Cổ Vận Hà Từ Thời Lương Tới Đợt Tái Thiết Năm 1906
Nằm ngay cửa ải đường thủy Phong Kiều kiểm soát thuyền chở lúa gạo và tơ lụa ra vào thành Tô Châu trên tuyến Đại Vận Hà, Chùa Hàn Sơn từng bảy lần bị thiêu rụi trong lịch sử binh đao và hỏa hoạn, nhưng cứ sau mỗi lần đổ nát lại được giới sĩ phu và nhân dân Giang Nam góp sức dựng lại vì không ai đành lòng để mất tiếng chuông trong thơ xưa.
- 502 tới 519 SCNKhởi dựng Diệu Lợi Phổ Minh Tháp Viện thời LươngTrong niên hiệu Thiên Giám đời vua Lương Vũ Đế, ngôi tự viện đầu tiên kèm bảo tháp được dựng bên bến sông đào phía tây thành Cô Tô dưới tên Diệu Lợi Phổ Minh Tháp Viện.
- Thế kỷ 7 (thời Đường Trinh Quán)Thi tăng Hàn Sơn về trụ trì và đổi tên Hàn Sơn TựThiền sư thi nhân Hàn Sơn từ núi Thiên Thai tới lưu trú hoằng hóa tại chùa cùng người bạn đạo Thập Đắc, ngôi già lam từ đó mang tên Hàn Sơn Tự.
- Khoảng sau năm 756Trương Kế viết tuyệt tác Phong Kiều Dạ BạcThi nhân Trương Kế đỗ thuyền nghỉ đêm tại bến Phong Kiều thời trung Đường, lắng nghe tiếng chuông phân dạ của Hàn Sơn Tự và sáng tác bài thất ngôn tứ tuyệt lưu danh thiên cổ.
- 907 tới 1129Trùng tu thời Ngô Việt và sắc phong thời Bắc TốngThời Ngô Việt vương Tiền Lưu tiết độ sứ Tôn Thừa Hữu dựng tháp bảy tầng. Năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 7 thời Bắc Tống (982), chùa được ban ngạch Phổ Minh Thiền Viện trước khi quay lại tên quen thuộc Hàn Sơn Tự.
- Đầu thế kỷ 16 (thời Minh Gia Tĩnh)Đúc đại hồng chung thời Minh và bia thơ Văn Trưng MinhHòa thượng Bản Tịch cho dựng lầu chuông đúc chuông đồng lớn, danh sĩ tài hoa bậc nhất Tô Châu là Văn Trưng Minh trực tiếp viết thư pháp bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc khắc lên bia đá đầu tiên của chùa.
- 1860 tới 1911Tái thiết toàn diện cuối thời Thanh và dựng bia Du Việt năm 1906Sau khi chùa bị cháy rụi trong chiến sự năm Canh Thân (1860), từ năm 1906 tới 1911 tuần phủ Giang Tô Trần Quỳ Long và Trình Đức Toàn chủ trì dựng lại toàn bộ quần thể kiến trúc hiện hữu, đúc chuông đồng mới, đón chuông đồng hữu nghị từ Nhật Bản và mời đại nho Du Việt khắc lại bia thơ năm 1906.
- 1983 tới 1996Chùa Trọng điểm Toàn quốc và phục dựng Phổ Minh Bảo ThápNăm 1982 chùa được xếp hạng Văn vật Bảo hộ tỉnh Giang Tô, năm 1983 vào danh sách Chùa Phật giáo Trọng điểm Toàn quốc đợt 1. Năm 1995 tới 1996, hòa thượng Tánh Không chủ trì dựng mới tòa Phổ Minh Bảo Tháp cao 42,2 mét theo phong cách thời Đường, khôi phục trọn vẹn hình bóng Tháp Viện xưa.
Về hành trình ly kỳ của ba tấm bia thơ Phong Kiều Dạ Bạc trong Bi Lang. Lịch sử văn bia Chùa Hàn Sơn gắn liền với số phận ba tấm đá khắc cùng một bài thơ của Trương Kế. Tấm bia thứ nhất do danh họa kiêm thư pháp gia Văn Trưng Minh (1470 tới 1559) viết thời Minh Gia Tĩnh, trải qua hỏa hoạn chỉ còn vỡ sót lại vài chữ nét mảnh đặt trang trọng trong tường hành lang. Tấm bia thứ hai do đại học giả Du Việt (Khúc Viên tiên sinh, 1821 tới 1907) phóng bút bằng lối hành khải đầy nội lực vào năm 1906 ở tuổi 86 ngay trước khi ông qua đời vài tháng, đây chính là tấm bia nguyên vẹn nổi tiếng nhất mà hàng triệu bản dập giấy tuyên đã truyền đi khắp thế giới. Ngoài ra, sử cận đại còn ghi nhận năm 1939 thời kháng chiến, để ngăn mưu đồ đánh cắp tấm bia gốc của Du Việt mang ra nước ngoài, nghệ nhân khắc đá Tô Châu là Tiền Vinh Sơ từng bí mật khắc một tấm bia thay thế trong đêm tối, giữ an toàn tuyệt đối cho bảo vật gốc của nhà chùa.
Về cặp chuông đồng song sinh Trung Nhật năm 1905 và 1906. Cuối thế kỷ 19, khi các học giả Nhật Bản sang thăm Tô Châu thấy lầu chuông Hàn Sơn bị cháy trống không từ năm 1860, giới nhân sĩ Nhật Bản đã quyên góp mời nghệ nhân Kobayashi Seigi đúc một đôi chuông đồng thanh nhã vào năm Minh Trị thứ 38 (1905, có bài minh văn của Itō Hirobumi): một quả lưu tại chùa quán Nhật Bản và một quả đưa sang hiến tặng Chùa Hàn Sơn năm 1906 (hiện treo trên giá gỗ sơn đỏ trong Đại Hùng Bảo Điện), song hành cùng quả đại chung đồng lớn do tuần phủ Trần Quỳ Long đúc năm 1906 treo trên lầu chuông lục giác.
IIIBố Cục Tọa Đông Hướng Tây Đón Dòng Vận Hà, Bi Lang Thư Pháp Và Phổ Minh Bảo Tháp
Khuôn viên cổ truyền của Chùa Hàn Sơn rộng khoảng 10.600 tới 13.000 mét vuông, mang đậm phong vị thanh nhã của kiến trúc lâm viên Tô Châu cuối thời Thanh kết hợp dáng tháp cổ thời Đường: tường vây quét màu vàng nghệ tươi sáng nổi bật giữa màu ngói xám đen, hành lang gấp khúc có cửa sổ hoa văn rỗng (lậu song) nhìn ra khóm trúc và hồ cá chép. Nét độc đáo bậc nhất về bố cục là toàn bộ trục chính của chùa nằm ngang theo chiều tọa Đông hướng Tây: đi từ bức tường chiếu bích sát mép nước Đại Vận Hà bước lên phía đông lần lượt qua Sơn Môn, Đại Hùng Bảo Điện, Tàng Kinh Lâu (phía dưới phối Hàn Thập Điện) và kết thúc ở tòa Phổ Minh Bảo Tháp cao vút phía đông, bên cánh nam là khu Bi Lang (Hành lang bia đá) và Chung Lâu sáu cạnh.
Mặt tiền chùa mở thẳng ra nhánh sông đào Thượng Đường của Đại Vận Hà bằng bức tường chiếu bích màu vàng rực khắc ba chữ đại tự Hàn Sơn Tự của thư pháp gia Đào Tuấn Tuyên cuối đời Thanh. Ngay hai phía nam bắc trước cửa chùa là đôi cầu đá vòm đơn bằng đá hoa cương cổ kính Giang Thôn Kiều và Phong Kiều (trùng tu năm Đạo Quang 1867 trên nền cầu thời Đường), nơi tái hiện trọn vẹn khung cảnh con thuyền neo đậu đêm sương trong thơ Trương Kế.
Tòa chính điện rộng 5 gian, sâu 4 gian dựng trên nền đá hoa cương trắng chạm hoa sen. Giữa điện thờ tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thếp vàng, vách sau bệ Phật gắn bức thạch khắc tượng Quán Thế Âm nét bút bay bổng của họa thánh Ngô Đạo Tử đời Đường. Dọc hai bên tả hữu là 18 pho tượng La Hán đúc bằng sắt thếp vàng từ thời Minh Thành Hóa chuyển từ đảo Kim Sơn về, bên góc phải đặt quả chuông đồng Nhật Bản năm 1905. Đặc biệt trên bờ nóc mái Tàng Kinh Lâu ngay phía sau chính điện có đắp bốn pho tượng gốm lưu ly thầy trò Đường Tăng, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới và Sa Tăng thỉnh kinh rất sinh động.
Nằm tại hậu viện yên tĩnh phía trước tháp viện, gian điện lưu giữ bức tượng gỗ thếp vàng nổi tiếng tạc đôi tri kỷ Hàn Sơn và Thập Đắc đứng sát vai nhau mỉm cười hoan hỷ, một vị cầm hoa sen, một vị nâng hộp báu, phía sau tường còn có bức khắc đá chân dung Hàn Sơn Thập Đắc nét vẽ phóng khoáng của danh họa La Sính thuộc nhóm Dương Châu Bát Quái đời Thanh.
Khu vườn hành lang nhỏ nhắn phía nam chùa là thánh địa của người yêu thư pháp Hán Nôm, khảm dọc tường hàng chục tấm bia đá cổ: tâm điểm là tấm bia Phong Kiều Dạ Bạc cao lớn nét chữ tròn đầy khí lực của Du Việt khắc năm 1906, mảnh bia tàn của Văn Trưng Minh thời Minh cùng bút tích Nhạc Phi, Đường Bá Hổ, Khang Hữu Vi. Sát cạnh đó là lầu chuông gỗ hai tầng sáu cạnh mái cong vút treo quả chuông đồng đúc năm 1906 cao hơn hai mét, nơi khách thập phương xếp hàng thỉnh ba tiếng chuông cầu bình an.
Khánh thành năm 1996 ở điểm cuối trục phía đông để khôi phục tên gốc Phổ Minh Tháp Viện thời Lương, ngôi tháp mặt bằng hình vuông cao 42,2 mét gồm năm tầng mái gỗ đấu củng vươn rộng theo đúng thức kiến trúc mộc cổ thời Đường, chóp bảo bình đúc đồng mạ vàng nặng hơn mười tấn, trở thành điểm nhấn cao nhất in bóng xuống dòng sông cổ phía tây thành Tô Châu.
| Hạng mục và bảo vật | Thông số và niên đại | Nguồn kiểm chứng |
|---|---|---|
| Quy mô và hướng bố cục | Rộng khoảng 10.600 tới 13.000 m2, bố cục hiếm gặp tọa Đông hướng Tây nhìn ra kênh cổ | Ban Quản trị Chùa Hàn Sơn Tô Châu (hanshansi.org) |
| Niên đại khởi lập | Khoảng năm 502 tới 519 SCN (niên hiệu Thiên Giám đời Lương Vũ Đế) | Ngô Quận Chí, Tô Châu Phủ Chí, Encyclopædia Britannica |
| Bia thơ Phong Kiều Dạ Bạc | Bản khắc hoàn chỉnh của học giả Du Việt năm Quang Tự thứ 32 (1906) kèm mảnh bia Văn Trưng Minh | Hồ sơ Văn vật Bảo hộ tỉnh Giang Tô, Chùa Hàn Sơn |
| Bộ tượng Thập Bát La Hán | 18 pho tượng đúc bằng sắt thếp vàng niên đại Minh Thành Hóa (1465 tới 1487) | Ban Quản trị Chùa Hàn Sơn Tô Châu (hanshansi.org) |
| Phổ Minh Bảo Tháp và Pháp Chung | Tháp gỗ kiểu Đường 5 tầng vuông cao 42,2 m (1996), khu vườn cạnh chùa có đại chung 108 tấn (2007) | Ban Quản trị Chùa Hàn Sơn Tô Châu, Wikidata |
| Tọa độ vệ tinh | 31,3124 độ vĩ Bắc, 120,5648 độ kinh Đông | Wikidata (Q1146619), OpenStreetMap |
IVThế Đất Và Hướng
Thiền sư Hàn Sơn từng vịnh thơ lấy trăng sáng làm tâm không vướng bận phương hướng thế tục. Tuy nhiên, câu hỏi vì sao Chùa Hàn Sơn lại phá bỏ thông lệ tọa Bắc hướng Nam của gần như toàn bộ cung điện và chùa chiền Trung Hoa để chọn thế tọa Đông hướng Tây suốt hàng thế kỷ lại là một bài học cực kỳ đặc sắc về phép xem thủy pháp vùng đồng bằng sông nước Giang Nam. Phần dưới đây đối chiếu thực địa của chùa theo phép hình thế cổ truyền của thư viện.
Xét trên đại cuộc bình dương thủy hương Tô Châu tại tọa độ 31,3124 độ vĩ Bắc, 120,5648 độ kinh Đông, vùng đất Ngô Quận nằm giữa đồng bằng châu thổ thái hồ bằng phẳng mênh mông, mạng lưới kênh rạch đan dệt chằng chịt. Khẩu quyết kinh điển của hình thế học phương Đông chỉ rõ: Sơn quản nhân đinh thủy quản tài, bình dương thiên trọng thủy, đắc thủy vi thượng (Ở vùng núi cao thì lấy mạch núi làm trọng, còn ở vùng đồng bằng phẳng lặng không có núi che ngay sau lưng thì phải lấy dòng nước sống làm long mạch chủ đạo, quay mặt đón dòng nước hội tụ là đắc cách nhất). Ngay trước phía tây của Chùa Hàn Sơn là nhánh sông đào cổ Thượng Đường Hà và ngã ba Phong Giang thuộc tuyến huyết mạch Đại Vận Hà chảy dọc theo chiều bắc nam ôm sát bờ kè đá. Việc xoay toàn bộ trục chùa sang thế tọa Đông hướng Tây (tọa Chấn hướng Đoài) giúp sơn môn và bức tường chiếu bích vàng mở rộng vòng tay đón trực diện thủy long mạch của Đại Vận Hà làm minh đường tụ thủy sống động ngay trước cửa.
Xét kỹ hơn về thủy khẩu và điểm tựa hậu chẩm nội cục, nếu dòng sông thẳng tuột chảy xiết qua mặt chùa thì khí theo nước trôi đi mất (thủy trực vô tình). Địa thế bến Phong Kiều khéo léo ở chỗ dòng kênh khi tới trước Chùa Hàn Sơn hơi uốn cong nhẹ và chia nhánh tạo vùng nước êm đềm cho thuyền bè neo đậu qua đêm, đồng thời ở hai đầu bắc và nam của đoạn sông ngay cạnh chùa có hai nhịp cầu đá vòm cao là Phong Kiều và Giang Thôn Kiều cùng đồn cửa ải cổ Thiết Linh Quan vươn ra khóa chặt hai đầu dòng chảy, đóng vai trò thủy khẩu quan tỏa hoàn hảo giữ cho mạch khí quy tụ trước sơn môn. Mặt khác, ở vùng đất đồng bằng vốn thiếu núi cao đỡ sau lưng ở phía đông, việc nhà chùa khôi phục tòa Phổ Minh Bảo Tháp năm tầng cao 42,2 mét đứng sừng sững ngay cuối trục phía đông đã tạo lập một nhân tạo hậu chẩm sơn vững chãi, vừa trấn giữ thế đất phẳng vừa hô ứng từ xa với ngọn đồi Hổ Khâu (Vân Nham Tự Tháp) ở phía đông bắc và núi Linh Nham, Sư Tử Sơn ở phía tây nam.
VLễ Hội 108 Tiếng Chuông Đêm Giao Thừa Và Tiếng Vọng Phong Kiều Trong Văn Chương Việt Nam
Chùa Hàn Sơn duy trì các khóa lễ Phật giáo theo âm lịch cổ truyền, đồng thời sở hữu một truyền thống lễ hội giao lưu quốc tế hiếm có là cử hành đại lễ nghe 108 tiếng chuông Hàn Sơn vào cả hai đêm Giao thừa trong năm: đêm 31 tháng 12 dương lịch (khởi tổ chức liên tục từ năm 1979, là lễ hội du lịch văn hóa đón năm mới lâu đời bậc nhất Trung Quốc) và đêm Giao thừa Tết Nguyên Đán âm lịch. Theo kinh điển nhà Phật và lịch pháp cổ Đông phương, một năm có 12 tháng, 24 tiết khí và 72 hậu cộng lại vừa tròn 108, đồng thời con người có 108 nỗi phiền não trần lao, nên khi tiếng chuông thứ 108 vừa dứt đúng khoảnh khắc nửa đêm bước sang năm mới, mọi ưu phiền năm cũ đều được gột rửa thanh tịnh. Bảng dưới đây tổng hợp các kỳ lễ chính trong năm.
| Thời điểm | Theo lịch nào | Tên lễ tiết | Nghi thức và hoạt động tại Chùa Hàn Sơn |
|---|---|---|---|
| Đêm 31 tháng 12 rạng mùng 1 tháng 1 | Dương lịch | Lễ hội nghe 108 tiếng chuông Hàn Sơn đón Năm mới Quốc tế | Hòa thượng trụ trì cử hành lễ cầu nguyện hòa bình và bắt đầu gióng 108 tiếng chuông đồng vào lúc 23 giờ 42 phút 08 giây sao cho tiếng chuông thứ 108 ngân vang đúng 0 giờ 00 phút ngày đầu năm mới, thu hút hàng vạn du khách Á Đông. |
| Đêm 30 tháng Chạp sang mùng 1 tháng Giêng | Âm lịch (Tết Nguyên Đán) | Pháp hội Thỉnh chuông Trừ tịch và Dâng hương đầu xuân | Người dân Tô Châu và Phật tử thập phương tề tựu bên bến Phong Kiều nghe chuông đêm Giao thừa âm lịch, dâng hương đầu năm cầu gia đạo bình an và thỉnh bùa bình an Hòa Hợp. |
| Ngày 24 tháng Sáu | Âm lịch | Lễ vía Hòa Hợp Nhị Tiên (Hàn Sơn và Thập Đắc) | Ngày lễ đặc trưng của văn hóa Ngô Địa tại Tô Châu kỷ niệm hai vị Bồ Tát hóa thân Hàn Sơn và Thập Đắc, các cặp vợ chồng và gia đình tới Hàn Thập Điện cầu nguyện tình nghĩa thủy chung, hòa thuận. |
| Mùng 8 tháng Chạp (8 tháng 12) | Âm lịch | Lễ Phật Thành Đạo và phát cháo Lạp Bát bên bến Phong Kiều | Chư tăng tụng kinh kỷ niệm ngày Đức Phật thành đạo và nấu cháo Lạp Bát nóng hổi phát tặng người dân khu phố cổ Cô Tô trong tiết sương giá mùa đông. |
Tiếng chuông Chùa Hàn Sơn trong tâm thức văn chương, giáo dục và thiền học Việt Nam. Trong tất cả các ngôi danh lam cổ tự trên đất Trung Hoa, hiếm có ngôi chùa nào lại đi vào trí nhớ của đông đảo người Việt Nam một cách sâu đậm, trữ tình và bền bỉ qua nhiều thế hệ như Chùa Hàn Sơn. Suốt hơn một thế kỷ qua trong nhà trường và đời sống văn học Việt Nam, bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế cùng bản dịch thơ lục bát tài hoa tuyệt bút của thi sĩ Tản Đà (Nguyễn Khắc Hiếu): Trăng tà tiếng quạ kêu sương, Lửa chài cây bãi sầu vương giấc hồ. Thuyền ai đậu bến Cô Tô, Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn (bên cạnh các bản dịch thất ngôn chuẩn mực của học giả Trần Trọng Kim, Khương Hữu Dụng) đã trở thành những câu thơ nằm lòng gợi lên vẻ đẹp tĩnh lặng, man mác nỗi niềm tha hương và sức cảm hóa dịu dàng của tiếng chuông chùa giữa đêm khuya.
Vượt ra ngoài bốn câu thơ Đường của Trương Kế, tập thơ ẩn dật trên núi đá của thi tăng Hàn Sơn với tinh thần tiêu dao tự tại giữa rừng tùng suối trúc cũng từng có sự đồng cảm sâu sắc với dòng thơ Thiền Việt Nam thời Lý Trần và Lê sơ, nơi các bậc tổ sư núi Yên Tử hay các danh sĩ ẩn cư Côn Sơn đều lấy trăng ngàn, tiếng suối và tiếng chuông chùa làm bạn tri âm. Bởi vậy, đối với du khách và Phật tử Việt Nam khi đặt chân tới Tô Châu, khoảnh khắc đứng trên vòm đá cầu Phong Kiều nhìn xuống mặt sông sương khói, chạm mắt tấm bia đá khắc chữ Du Việt trong Bi Lang và tự tay thỉnh ba tiếng chuông ngân dài trên lầu chuông Hàn Sơn luôn là một cuộc hội ngộ đầy xúc động giữa cảnh thực ngoài đời và những vần thơ đã thuộc từ thuở thiếu thời.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 24 ngõ Hanshansi, trấn Fengqiao (Phong Kiều), bên bờ Đại Vận Hà cổ, quận Gusu (Cô Tô), thành phố Suzhou (Tô Châu), tỉnh Giang Tô (江苏省苏州市姑苏区寒山寺弄24号)
- Đường tới
- Chùa Hàn Sơn nằm tại số 24 ngõ Hàn Sơn Tự, trấn Phong Kiều, quận Cô Tô, cách trung tâm phố cổ Tô Châu khoảng 5 km về phía tây. Quý vị có thể đi tàu điện ngầm Tô Châu (Suzhou Rail Transit) tuyến số 1 tới ga Tây Hoàn Lộ (Xihuan Lu) rồi nối xe buýt ngắn, hoặc thuận tiện nhất là đi các tuyến xe buýt du lịch nội đô từ ga tàu Tô Châu (Suzhou Railway Station) dừng ngay trạm Hàn Sơn Tự Nam hoặc Khu danh thắng Phong Kiều, đi bộ qua nhịp cầu đá cổ vài phút là tới cổng chùa.
- Toạ độ
- 31.3124, 120.5648
Chùa Hàn Sơn có không gian lâm viên nhỏ nhắn thanh tịnh nên thường rất đông khách chiêm bái và người yêu thơ văn tới thưởng ngoạn. Khi bước vào Bi Lang xem bia thơ cổ của Văn Trưng Minh và Du Việt, quý vị tuyệt đối không sờ tay hoặc áp giấy tự rập mực lên mặt đá cổ. Tại khu vực lầu chuông lục giác và các điện thờ, xin giữ giọng nói nhỏ nhẹ, chỉ dâng hương thanh theo quy định văn minh ngoài sân và giữ gìn vệ sinh mặt nước dòng kênh cổ trước cổng chùa.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Hàn Sơn, Tô Châu
Contribute photos, information or video for Hanshan Temple, SuzhouThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tên gọi Chùa Hàn Sơn bắt nguồn từ đâu và tên ban đầu của chùa là gì?
Khi mới khởi dựng vào niên hiệu Thiên Giám thời Lương Vũ Đế (khoảng năm 502 tới 519 SCN), chùa có tên là Diệu Lợi Phổ Minh Tháp Viện. Sang thế kỷ thứ 7 dưới triều Đường Trinh Quán, vị thi tăng ẩn sĩ nổi tiếng hiệu là Hàn Sơn từ núi Thiên Thai tới trụ trì tại đây cùng người bạn đạo Thập Đắc, từ đó ngôi chùa được đổi tên thành Hàn Sơn Tự.
Bài thơ nào đã đưa tên tuổi Chùa Hàn Sơn trở thành biểu tượng văn hóa khắp Đông Á?
Đó là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt Phong Kiều Dạ Bạc (Đỗ thuyền đêm ở bến Phong Kiều) của thi nhân Trương Kế đời Đường với hai câu kết bất hủ: Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự, Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền. Tại Việt Nam, bài thơ gắn liền với ký ức nhiều thế hệ qua bản dịch lục bát của thi sĩ Tản Đà: Thuyền ai đậu bến Cô Tô, Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.
Vì sao Chùa Hàn Sơn lại quay cổng chính về hướng Tây thay vì hướng Nam như các chùa cổ khác?
Phần lớn chùa chiền Trung Hoa đều tọa Bắc hướng Nam, riêng Chùa Hàn Sơn nằm ở vùng đồng bằng sông nước Tô Châu có bố cục tọa Đông hướng Tây để cổng sơn môn và bức tường chiếu bích vàng mở thẳng ra đón mặt nước nhánh sông đào Đại Vận Hà chảy ngay trước cửa (theo phép thủy pháp bình dương lấy dòng nước sống làm minh đường tụ khí), còn tòa Phổ Minh Bảo Tháp cao 42,2 mét được đặt ở cuối trục phía đông làm điểm tựa sau lưng.
Hai vị Hòa Hợp Nhị Tiên thờ tại Chùa Hàn Sơn là ai?
Đó chính là hai vị thi tăng tri kỷ thời Đường từng gắn bó với chùa là Hàn Sơn và Thập Đắc. Năm 1733, hoàng đế Ung Chính nhà Thanh sắc phong Hàn Sơn làm Hòa Thánh và Thập Đắc làm Hợp Thánh. Hình ảnh hai vị tươi cười cầm đóa hoa sen (hà, đồng âm chữ hòa) và chiếc hộp tròn (hạp, đồng âm chữ hợp) được nhân gian tôn kính là Hòa Hợp Nhị Tiên, biểu trưng cho sự hòa thuận gia đình và gắn kết nhân duyên.
Vì sao đêm Giao thừa tại Chùa Hàn Sơn lại gióng đúng 108 tiếng chuông?
Theo quan niệm Phật giáo và lịch pháp cổ truyền phương Đông, một năm gồm 12 tháng, 24 tiết khí và 72 hậu cộng lại đúng bằng con số 108, đồng thời chúng sinh trong cõi trần có 108 mối phiền não. Nghi thức gióng 108 tiếng chuông tại Chùa Hàn Sơn đêm Giao thừa được canh giờ chính xác để tiếng chuông thứ 108 vang lên đúng khoảnh khắc nửa đêm sang năm mới, mang ý nghĩa tiêu trừ hết 108 phiền não của năm cũ và đón nhận sự an lạc.