Rời bến tàu Chu Gia Tiêm trên vùng bờ biển tỉnh Chiết Giang để vượt qua dải nước Liên Hoa Dương chừng mười lăm phút đường thủy, người hành hương nhìn thấy một hòn đảo đá hoa cương xanh thẫm nổi lên giữa làn sương mặn của biển Đông Hoa. Dọc theo những bãi cát vàng nghe tiếng sóng vỗ ngày đêm dưới tán long não cổ thụ, tiếng chuông trầm từ một quần thể mái ngói lưu ly vàng óng ánh vang qua mặt hồ sen rộng mênh mông mang tên Hải Ấn Trì, nơi ba nhịp cầu đá cổ in bóng xuống làn nước tĩnh lặng ngay bên rìa đại dương.
Đó là Núi Phổ Đà Sơn (Putuo Shan, 普陀山) và ngôi tổ đình trung tâm Chùa Phổ Tế (Phổ Tế Thiền Tự, 普濟禪寺, quen gọi là Tiền Tự), tọa lạc tại quận Phổ Đà, thành phố Chu Sơn, tỉnh Chiết Giang. Trong hệ thống Tứ đại danh sơn của Phật giáo Trung Hoa gồm Ngũ Đài, Nga Mi, Cửu Hoa và Phổ Đà, đây là thánh sơn duy nhất nằm tách biệt trên một hòn đảo giữa trùng khơi, được tôn xưng là Hải Thiên Phật Quốc (Cõi Phật Biển Trời) và là đạo tràng ứng hóa của Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát suốt hơn một thiên niên kỷ.

IĐạo Tràng Núi Bổ Đà Lạc Ca Trong Kinh Hoa Nghiêm Và Tích Tượng Quán Âm Không Chịu Đi
Toàn bộ hòn đảo Phổ Đà Sơn có diện tích khoảng 12,5 kilômét vuông, dáng đảo thon dài theo chiều bắc nam với đỉnh cao nhất là Phật Đỉnh Sơn (Bạch Hoa Đỉnh, cao 291,3 mét). Trước khi đạo Phật truyền tới, hòn đảo này mang tên Mai Sầm Sơn (do danh sĩ Mai Phúc cuối thời Tây Hán từng tới đây ẩn cư luyện đan) hoặc Bạch Hoa Sơn. Tên gọi Phổ Đà là cách phiên âm rút gọn từ địa danh tiếng Phạn Potalaka (Bổ Đà Lạc Ca hoặc Phổ Đà Lạc Ca, nghĩa là ngọn núi rực sáng những đóa hoa trắng nhỏ), tức cõi tịnh độ giữa biển Nam của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát được mô tả trong kinh điển Đại thừa.
Khác với thông lệ của hầu hết các ngôi chùa Hán truyền vốn đặt tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tại chính điện và chỉ thờ Quán Thế Âm ở hậu điện hay quán âm các, Chùa Phổ Tế cũng như toàn bộ các tự viện lớn nhỏ trên đảo Phổ Đà đều dành ngôi bảo điện trung tâm trọng thể nhất để tôn thờ Quán Thế Âm Bồ Tát làm bản tôn chủ lễ. Hiện nay chùa hành trì theo truyền thống Thiền tông phái Lâm Tế kết hợp pháp môn trì niệm danh hiệu Quán Thế Âm và tụng Chú Đại Bi của đông đảo tứ chúng thập phương.
Nền tảng kinh văn làm nên vị thế thánh địa của Phổ Đà Sơn xuất phát trực tiếp từ phẩm Nhập Pháp Giới trong bộ Kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka Sutra) và phẩm Phổ Môn trong bộ Kinh Pháp Hoa (Lotus Sutra). Trong hành trình năm mươi ba lần cầu đạo phương Nam, đồng tử Thiện Tài (Sudhana) tới vị thiện tri thức thứ hai mươi tám là Bồ Tát Quán Tự Tại đang an tọa trên tảng đá kim cương giữa rừng cây suối báu của núi Bổ Đà Lạc Ca ngoài biển cả để thuyết pháp cứu khổ. Khi Phật giáo bén rễ sâu vào vùng duyên hải Giang Nam, các bậc cao tăng và cư sĩ đi biển đã nhận ra địa thế núi đảo đá trắng, hang sóng vỗ và rừng trà xanh mướt của Mai Sầm Sơn ngoài khơi Minh Châu (Ninh Ba) tương ứng trọn vẹn với cảnh giới núi Bổ Đà Lạc Ca trong kinh. Tại trung tâm Chùa Phổ Tế, tòa chính điện không gọi là Đại Hùng Bảo Điện mà mang tên Đại Viên Thông Bảo Điện, lấy từ danh hiệu Viên Thông Đại Sĩ trong bộ Kinh Thủ Lăng Nghiêm, nơi Bồ Tát Quán Thế Âm trình bày pháp môn Nhĩ căn viên thông: lắng nghe âm thanh của thế gian bằng cái tâm tĩnh lặng bản nguyên để thấu suốt thực tướng và ứng hiện ba mươi hai hóa thân cứu độ muôn loài.
Sự kiện lịch sử đánh dấu việc khai mở đạo tràng Quán Âm trên đảo gắn liền với chuyến vượt biển của vị cao tăng Nhật Bản tên là Huệ Ngạc (Egaku). Theo các bộ sử truyện Phật giáo, thiền sư Huệ Ngạc sang nhà Đường hành hương núi Ngũ Đài, thỉnh được một pho tượng Quán Thế Âm linh ứng rồi xuống thuyền buôn từ cảng Minh Châu để rước tượng về Nhật Bản. Khi thuyền đi ngang qua vùng biển Liên Hoa Dương sát vách đá đảo Mai Sầm, gió lớn nổi lên và mặt biển bỗng hiện ra vô số đóa hoa sen bằng sắt (thiết liên hoa) vây kín làm con thuyền đứng yên suốt ba ngày đêm không sao nhích tới được.
Hiểu rằng Bồ Tát chưa muốn sang Đông mà chọn lưu lại hòn đảo này để hóa độ chúng sinh, thiền sư Huệ Ngạc quỳ trước mũi thuyền khấn nguyện: nếu tôn tượng muốn ngự tại nơi đây, xin cho thuyền trôi tới chỗ có người đón lập am thờ, ngay sau lời khấn, sóng gió lặng yên và thuyền trôi thẳng vào gành đá động Triều Âm. Một người dân chài họ Trương sống trên đảo đã hoan hỷ hiến căn nhà riêng bên bờ đá để ngài Huệ Ngạc tôn trí pho tượng, đặt tên là Bất Khẳng Khứ Quán Âm Viện (tức Viện Quán Âm Không Chịu Đi), mở đầu cho lịch sử hơn một nghìn một trăm năm hương khói của cõi Hải Thiên Phật Quốc.
Người đọc tư liệu về Phổ Đà Sơn cần phân biệt rõ hai niên đại ghi chép khác nhau của sự kiện Huệ Ngạc và ba ngôi đại tự trụ cột trên đảo. Về niên đại khai sơn, bộ Phật Tổ Thống Kỷ thời Nam Tống của đại sư Chí Bàn chép sự kiện lập Bất Khẳng Khứ Quán Âm Viện vào năm Đại Trung thứ 12 đời Đường Tuyên Tông (858 SCN), trong khi bộ Phổ Đà Lạc Già Sơn Chí và bia ký địa phương lại chép vào năm Trinh Minh thứ 2 đời Hậu Lương thời Ngũ Đại (916 SCN). Cả hai mốc này đều được giới nghiên cứu trân trọng ghi nhận song song. Mặt khác, trên đảo có Tam đại tự gồm: Chùa Phổ Tế (Tiền Tự, lớn nhất và cổ nhất ở chân nam Linh Thứu Phong), Chùa Pháp Vũ (Hậu Tự, dựng năm 1580 dưới chân Quang Hy Phong) và Chùa Huệ Tế (Phật Đỉnh Sơn Tự trên đỉnh núi cao nhất). Riêng pho đại tượng đồng Nam Hải Quán Âm lộ thiên cao 33 mét ở mũi Long Loan Cương phía nam đảo là công trình hiện đại mới đúc hoàn thành vào năm 1997, nằm cách Chùa Phổ Tế khoảng hai cây số chứ không nằm trong sân cổ của chùa.
IITừ Bất Khẳng Khứ Quán Âm Viện Thời Đường Tới Hoàng Gia Thiền Tự Thời Khang Hy
Nằm ngay cửa ngõ giao thương hàng hải từ cảng Ninh Ba đi Nhật Bản, Cao Ly và Đông Nam Á, Chùa Phổ Tế đã vươn lên từ một thảo am nhỏ bên gành đá sóng vỗ thành ngôi hoàng gia thiền tự lợp ngói lưu ly vàng dưới sự bảo trợ của các triều đại Tống, Nguyên, Minh và Thanh.
- 858 hoặc 916Thiền sư Huệ Ngạc lập Bất Khẳng Khứ Quán Âm ViệnCao tăng Nhật Bản Huệ Ngạc cùng cư sĩ họ Trương lập am thờ pho tượng Quán Âm lưu lại bên động Triều Âm (sử Phật giáo chép năm 858 đời Đường, sơn chí địa phương chép năm 916 đời Hậu Lương), đặt viên đá nền đầu tiên cho đạo tràng Phổ Đà.
- 1080Tống Thần Tông sắc ban hiệu Bảo Đà Quán Âm TựNăm Nguyên Phong thứ 3 (1080), sứ thần Vương Thuần Phong đi sứ Tam Hàn gặp sóng dữ trước đảo, cầu nguyện thấy linh ứng bèn tấu về triều. Vua Tống Thần Tông ban biển ngạch Bảo Đà Quán Âm Tự và cấp ruộng đất mở rộng già lam.
- 1214Nam Tống Ninh Tông định quy chế chuyên phụng Quán ÂmNăm Gia Định thứ 7 (1214), thiền sư Chân Hiết Thanh Liễu và các đời trụ trì dời trung tâm tự viện về thung lũng bằng phẳng dưới chân Linh Thứu Phong (vị trí Chùa Phổ Tế ngày nay). Vua Tống Ninh Tông ban biển ngạch Viên Thông Bảo Điện và ban tiền lụa trùng tu toàn đảo.
- 1334Vương triều nhà Nguyên dựng Đa Bảo Tháp bằng đá Thái HồNăm Nguyên Thống thứ 2 đời Nguyên Huệ Tông (1334), hòa thượng Phù Trung Hoài Tín vận động chư vương hầu nhà Nguyên hiến tài lực tạc ngôi Đa Bảo Tháp năm tầng bằng đá trắng xám vùng Thái Hồ ngay góc đông nam chùa.
- 1387 tới 1605Trải qua lệnh hải cấm đầu thời Minh và phục hưng thời Vạn LịchĐầu thời Minh Hồng Vũ (1387), để phòng giặc biển Uy khấu, tướng Thang Hòa cho dời tăng chúng vào đất liền khiến chùa hoang phế một thời gian. Tới năm Vạn Lịch thứ 33 (1605), Minh Thần Tông sai thái giám Trương Tùy ra đảo đại trùng tu, ban tên Hộ Quốc Vĩnh Thọ Phổ Tế Thiền Tự.
- 1699 tới 1731Khang Hy và Ung Chính đại trùng tu quy mô hoàng giaNăm Khang Hy thứ 38 (1699), hoàng đế Khang Hy ban vàng bạc từ nội khố dựng lại toàn bộ Đại Viên Thông Bảo Điện lợp ngói lưu ly vàng, ngự đề tên Phổ Tế Thiền Tự và bức hoành Phổ Tế Quần Linh. Năm Ung Chính thứ 9 (1731), triều đình tiếp tục mở rộng lầu các, dựng Ngự Bi Đình và hoàn chỉnh bố cục truyền tới ngày nay.
- 1983 tới 2013Chùa Trọng điểm Toàn quốc và Văn vật Trọng điểm Quốc giaNăm 1979 hòa thượng Diệu Thiện chủ trì khôi phục tùng lâm. Chùa được xếp vào danh sách Chùa Phật giáo Trọng điểm Toàn quốc đợt 1 (1983), Đa Bảo Tháp được công nhận Văn vật Trọng điểm đợt 6 (2006) và toàn bộ Chùa Phổ Tế được công nhận Văn vật Trọng điểm Toàn quốc đợt 7 vào năm 2013.
Về vai trò trạm cầu nguyện hàng hải trên Con đường Tơ lụa trên biển. Tư liệu cảng thị Ninh Ba và sơn chí Phổ Đà cho thấy từ thời Tống, Nguyên sang thời Minh, Thanh, mọi đoàn thuyền sứ bộ và thương thuyền xuất phát từ Minh Châu vượt biển Đông đi Nhật Bản, Lưu Cầu hay xuôi xuống vùng biển Giao Chỉ và Nam Dương đều coi đảo Phổ Đà là ngọn hải đăng tâm linh cuối cùng trước khi ra khơi xa. Các đoàn thuyền thường neo lại vùng nước Liên Hoa Dương, cử người lên chùa dâng hương cầu sóng yên biển lặng tại Viên Thông Bảo Điện rồi mới căng buồm vượt đại dương.
Về quy tắc đóng Chính Sơn Môn của Chùa Phổ Tế. Du khách tới thăm Chùa Phổ Tế thường ngạc nhiên khi thấy ba cánh cửa gỗ sơn đỏ của tòa Chính Sơn Môn đối diện cầu Vĩnh Thọ quanh năm khép kín, người hành hương và chư tăng đều đi vào qua hai cửa phụ Đông Tây. Tục lệ này bắt nguồn từ một điển cố dưới triều Thanh Càn Long (một số truyền thuyết dân gian gắn với chuyến vi hành Giang Nam của hoàng đế khi tới chùa vào lúc ban đêm chùa đã đóng cửa, hoặc theo quy chế nghi lễ dành riêng cửa ngự đạo trung tâm cho bậc đế vương và lễ tấn phong phương trượng). Ngày nay, Chính Sơn Môn của Chùa Phổ Tế chỉ mở rộng vào những đại sự cực kỳ trọng đại như lễ tấn sơn truyền pháp của tân Hòa thượng Phương trượng hoặc đại lễ cấp quốc gia.
IIIHồ Sen Hải Ấn Trì, Kết Cấu Giảm Trụ Của Đại Viên Thông Bảo Điện Và Đa Bảo Tháp Đá
Chùa Phổ Tế là quần thể kiến trúc Phật giáo lớn nhất trên đảo Phổ Đà, chiếm diện tích khuôn viên khoảng 37.019 mét vuông với tổng diện tích sàn xây dựng khoảng 15.289 mét vuông, quy tụ mười tòa điện lớn, mười hai lầu các và 357 gian phòng nương theo sườn dốc thoai thoải từ chân núi Linh Thứu xuống bờ hồ sen. Tổng thể già lam mang đậm phong cách kiến trúc cung đình Giang Nam thời đầu nhà Thanh kết hợp kỹ nghệ mộc cổ thời Minh: tường ngoài quét sắc vàng hoàng gia trang nhã, các điện chính lợp ngói lưu ly vàng có bờ nóc uốn cong thanh thoát chống chọi gió bão miền biển.
Điểm đặc sắc nhất về tổ chức không gian là trước khi bước vào hàng hiên chùa, người hành hương đi ngang qua một cảnh quan thủy mộc hoàn chỉnh gồm hồ phóng sinh Hải Ấn Trì, ba cây cầu đá chạm rồng mây, lầu Bát Giác và Ngự Bi Đình. Từ đó, trục trung tâm dẫn thẳng từ nam lên bắc qua Chính Sơn Môn, Thiên Vương Điện, Đại Viên Thông Bảo Điện, Pháp Đường (Tàng Kinh Lâu) và Phương Trượng Điện, hai bên tả hữu bố trí Chung Lâu, Cổ Lâu, Phổ Môn Điện, Văn Thù Điện, Phổ Hiền Điện và Địa Tạng Điện.
Nằm ngay phía trước sơn môn là hồ nước ngọt rộng khoảng một héc ta vốn do suối núi đắp đập tạo thành, mùa hạ nở đầy sen hồng và sen trắng. Bắc ngang qua giữa mặt hồ là cầu Vĩnh Thọ dài 40 mét, rộng 7,5 mét xây bằng đá hoa cương từ năm Minh Vạn Lịch thứ 34 (1606), lan can chạm bốn mươi con sư tử đá và rồng nhả ngọc, nối liền với đình Bát Giác Quan Tự Tại và Ngự Bi Đình dựng năm Ung Chính thứ 9 (1731) lưu giữ tấm bia rùa đá cao hơn 4 mét khắc bài văn ngự chế của hoàng đế.
Trái tim của toàn bộ Chùa Phổ Tế, rộng 7 gian, sâu 6 gian, cao hơn 21 mét với mái trùng diêm yết sơn đính lợp ngói lưu ly vàng. Nhờ áp dụng kỹ thuật đại mộc giảm trụ pháp (lược bỏ hàng cột cái bên trong và chuyển tải trọng lên hệ vì kèo xà lớn vươn nhịp rộng), lòng điện mở ra một không gian mênh mông có sức chứa cùng lúc cả nghìn người lễ bái mà không bị cột gỗ che khuất tầm nhìn, dân gian ca tụng là thiên nhân cộng lễ.
Chính giữa Đại Viên Thông Bảo Điện tôn trí pho tượng Tỳ Lô Quán Âm (Quán Thế Âm mang mão Tỳ Lô Giá Na Phật) tạo tác bằng cốt đất đắp thếp vàng ròng cao 8,8 mét (tính cả bệ tòa sen cao khoảng 6,5 mét phần thân tượng và hơn 2 mét đài sen), ngồi kiết già kết ấn thiền định với nét mặt từ hòa tĩnh lặng. Dọc theo hai bức tường đông và tây của đại điện là 32 pho tượng gỗ chạm khắc tinh xảo thể hiện ba mươi hai ứng hóa thân của Bồ Tát (từ thân Phật, thân Bích Chi, thân Tể quan, thân Đồng nam đồng nữ cho tới thân Thiên Long Bát Bộ) ứng hiện tùy theo căn cơ người cầu cứu.
Đứng cách góc đông nam Chùa Phổ Tế không xa bên đường Bách Bộ Sa là bảo vật kiến trúc cổ nhất còn nguyên vẹn trên đảo Phổ Đà: ngôi tháp đá năm tầng mặt bằng hình vuông (ba tầng thân chính đặt trên bệ tu di hai tầng), cao khoảng 32 mét, dựng hoàn toàn bằng đá Thái Hồ màu trắng xám vào năm Nguyên Thống thứ 2 đời Nguyên (1334). Bốn mặt các tầng tháp tạc phù điêu Tứ Phương Phật và chư Bồ Tát mang phong cách mỹ thuật Phật giáo Nguyên đại giao thoa Hán Tạng rất sống động.
Nằm trên nền đất cao phía sau Đại Viên Thông Bảo Điện, tòa nhà hai tầng dưới làm Pháp Đường thuyết pháp, tầng trên làm Tàng Kinh Lâu lưu giữ hàng vạn quyển kinh cổ thuộc Bắc Tạng, Nam Tạng và các pháp khí quý do hoàng triều Minh Thanh ban tặng. Phía tây chùa là khu Trai đường rộng lớn lưu giữ chiếc chảo sắt khổng lồ (thiên nhân oa) nấu cơm chay đãi hàng nghìn tăng chúng và hành giả thập phương trong các kỳ đại lễ.
| Hạng mục | Thông số và niên đại | Nguồn kiểm chứng |
|---|---|---|
| Tổng quy mô Chùa Phổ Tế | Khuôn viên 37.019 m2, diện tích xây dựng 15.289 m2, gồm 357 gian điện lầu | Hiệp hội Phật giáo Phổ Đà Sơn (putuoshan.org.cn) |
| Đại Viên Thông Bảo Điện | Rộng 7 gian, sâu 6 gian, cao hơn 21 m, kết cấu gỗ giảm trụ thời Khang Hy (1699) | Hồ sơ Văn vật Trọng điểm Toàn quốc đợt 7 (2013) |
| Tượng chính Tỳ Lô Quán Âm | Cao tổng thể 8,8 m, thếp vàng, hai bên phối thờ 32 ứng thân Quán Thế Âm | Hiệp hội Phật giáo Phổ Đà Sơn, Encyclopædia Britannica |
| Đa Bảo Tháp (Duobao Pagoda) | Tháp đá Thái Hồ 5 tầng vuông, cao khoảng 32 m, dựng năm 1334 thời Nguyên | Hồ sơ Văn vật Trọng điểm Toàn quốc đợt 6 (2006) |
| Hải Ấn Trì và cầu Vĩnh Thọ | Hồ sen rộng khoảng 10.000 m2, cầu đá Vĩnh Thọ dựng năm Minh Vạn Lịch 1606 | Phổ Đà Lạc Già Sơn Chí, Hiệp hội Phật giáo Phổ Đà Sơn |
| Tọa độ vệ tinh | 29,9878 độ vĩ Bắc, 122,3825 độ kinh Đông | Wikidata (Q1817167), OpenStreetMap |
IVThế Đất Và Hướng
Trong tinh thần Bát Nhã của Phật giáo Đại thừa, cõi tịnh độ Bổ Đà Lạc Ca vốn hiện tiền ngay nơi tâm từ bi vô ngại chứ không bị đóng khung bởi phương hướng thế gian. Tuy nhiên, khi các bậc cao tăng thời Nam Tống dời già lam từ gành đá lộng gió ở động Triều Âm vào thung lũng phía nam núi Linh Thứu và các kiến trúc sư cung đình thời Khang Hy quy hoạch Chùa Phổ Tế, công trình đã đạt tới sự hài hòa mẫu mực của một oa huyệt trên hải đảo vừa tránh được bão biển vừa gom tụ mạch nước ngọt. Phần dưới đây đối chiếu địa thế thực địa của chùa theo phép xem hình thế cổ truyền của thư viện.
Xét trên đại cuộc sơn hải tại tọa độ 29,9878 độ vĩ Bắc, 122,3825 độ kinh Đông, hòn đảo Phổ Đà Sơn là một hải đảo long mạch trồi lên từ thềm lục địa quần đảo Chu Sơn giữa vùng nước Liên Hoa Dương. Trong phép xem mạch núi ngoài biển, điều tối kỵ nhất là gió mặn đại dương thổi thốc trực diện làm tán khí và mục nát kết cấu gỗ. Vị trí Chùa Phổ Tế hóa giải trọn vẹn nhược điểm ấy nhờ tựa lưng vào sườn nam của ngọn Linh Thứu Phong (một mạch nhánh trườn xuống từ tổ sơn của đảo là đỉnh Phật Đỉnh Sơn cao 291,3 mét ở phía bắc). Dãy núi đá hoa cương phía bắc vòng cung như chiếc ngai lớn làm hậu chẩm che chắn hoàn toàn gió bấc mùa đông. Hai bên tả hữu có hai dải đồi thấp vươn ra ôm bọc: cánh tả phía đông (Thanh Long) chạy qua khu Đa Bảo Tháp và cồn cát Bách Bộ Sa, cánh hữu phía tây (Bạch Hổ) vòng qua dải đá Tây Thiên và Tâm Tự Thạch, tạo thành một bồn địa lòng chảo kín gió (tàng phong tụ khí) ngay sát bờ đại dương.
Xét về sơn hướng và thủy pháp, trục thần đạo của Chùa Phổ Tế định vị theo thế tọa Bắc hướng Nam (hơi chếch nhẹ theo độ mở tự nhiên của thung lũng hướng ra mặt biển phía nam đông nam), các lớp điện nâng nền cao dần từ mặt hồ lên chân núi. Điểm đắc cách bậc nhất về thủy pháp trên một hòn đảo giữa biển mặn chính là sự hiện diện của hồ sen nước ngọt Hải Ấn Trì rộng một héc ta nằm ngay trước sơn môn, thu nhận nguồn suối mạch từ núi Linh Thứu chảy xuống làm nội minh đường tụ thủy phẳng lặng như gương. Phía ngoài hồ sen có dải gò thấp và rừng cây chắn sóng đóng vai trò án sơn nội cục giữ không cho nước ngọt trôi tuột ra biển, rồi mở tiếp ra bãi biển và vùng khơi Liên Hoa Dương mênh mông làm ngoại minh đường. Nhìn ra ngoài khơi hướng đông nam từ bờ đảo Phổ Đà, hòn đảo nhỏ Lạc Già Sơn nằm ngang trên mặt sóng trông hệt dáng một vị Bồ Tát nằm nghiêng thanh thản giữa biển trời, tạo thành triều sơn hữu tình khóa chặt thủy khẩu cho toàn bộ cõi Hải Thiên Phật Quốc.
VTam Đại Lễ Vía Quán Thế Âm Và Mạch Tín Ngưỡng Nam Hải Quán Âm Tại Việt Nam
Đời sống nghi lễ trên toàn đảo Phổ Đà Sơn và tại Chùa Phổ Tế vận hành theo âm lịch cổ truyền, lấy ba ngày vía lớn trong năm của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát (gọi là Quán Âm Tam Đại Hương Hội Kỳ) làm tâm điểm. Vào mỗi kỳ hương hội, hàng chục vạn tín đồ khắp châu Á vượt biển về đảo, thực hành nghi thức tam bộ nhất bái (cứ đi ba bước lại quỳ lạy sát đất một lần) từ bến tàu qua Chùa Phổ Tế lên tới đỉnh Phật Đỉnh Sơn suốt đêm. Bảng dưới đây tổng hợp các kỳ đại lễ quan trọng nhất trong năm.
| Thời điểm | Theo lịch nào | Tên lễ tiết | Nghi thức hành trì tại Chùa Phổ Tế và toàn đảo |
|---|---|---|---|
| Ngày 19 tháng Hai (hương hội từ rằm tới 20) | Âm lịch | Đại lễ vía Quán Thế Âm Bồ Tát Đản Sinh | Kỳ hương hội mùa xuân mở đầu năm mới. Đêm 18 rạng ngày 19, toàn thể tăng chúng và thiện tín vân tập tại sân Đại Viên Thông Bảo Điện cử hành khóa lễ chúc thánh, tụng phẩm Phổ Môn, Chú Đại Bi và thắp đèn cầu bình an. |
| Ngày 19 tháng Sáu (hương hội từ rằm tới 20) | Âm lịch | Đại lễ vía Quán Thế Âm Bồ Tát Thành Đạo | Kỳ lễ giữa mùa hạ khi hoa sen trên Hải Ấn Trì nở rộ nhất. Các đoàn hành hương đi biển từ Chiết Giang, Phúc Kiến, Đài Loan và Đông Nam Á về lễ tạ ơn Bồ Tát che chở trên sóng nước và cử hành lễ phóng sinh. |
| Ngày 19 tháng Chín (hương hội từ rằm tới 20) | Âm lịch | Đại lễ vía Quán Thế Âm Bồ Tát Xuất Gia | Kỳ hương hội mùa thu đông đảo bậc nhất trong năm. Hàng vạn hành giả thực hiện nghi thức tam bộ nhất bái xuyên đêm và tham dự đại đàn truyền giới tại giới đàn cổ của Chùa Phổ Tế. |
| Tháng Chín hoặc tháng Mười hàng năm | Âm lịch (kết hợp lịch sự kiện dương lịch tháng 10 hoặc 11) | Lễ hội Văn hóa Nam Hải Quán Âm Phổ Đà Sơn | Chuỗi pháp hội giao lưu Phật giáo quốc tế khởi xướng từ năm 2003, gồm lễ rước đăng truyền tâm ấn từ Chùa Phổ Tế ra quảng trường Nam Hải Quán Âm, hội thảo học thuật Phật học và pháp hội cầu nguyện hòa bình thế giới. |
Sự gắn kết sâu đậm với tín ngưỡng Quán Âm Nam Hải và các thiền phái Việt Nam. Hình tượng Đức Quán Thế Âm ngự trên núi Phổ Đà giữa biển Nam có sức lan tỏa vô cùng sâu rộng trong tâm thức người Việt suốt gần một thiên niên kỷ. Ngay từ năm 1049 thời Lý Thái Tông, giấc mộng thấy Bồ Tát Quán Thế Âm ngự trên tòa sen dắt vua lên đài đã khai sinh kiến trúc Chùa Một Cột (Diên Hựu Tự) giữa kinh thành Thăng Long. Ba ngày vía 19 tháng Hai, 19 tháng Sáu và 19 tháng Chín âm lịch của Phổ Đà Sơn cũng chính là ba ngày hội lớn nhất trong năm của Phật giáo Việt Nam, tiêu biểu là mùa trẩy hội kéo dài suốt ba tháng xuân tại động Hương Tích của Chùa Hương (Hà Nội), nơi người Việt tôn kính gọi là đạo tràng Quán Âm Nam Hải trên đất Việt, cũng như tục thờ Phật Bà Nam Hải che chở ngư dân dọc khắp bờ biển miền Trung và miền Nam Việt Nam.
Xét về mạch truyền thừa Thiền tông, dòng Lâm Tế tông đang trụ trì tại Chùa Phổ Tế có cùng cội nguồn pháp mạch với các tổ sư Lâm Tế truyền vào Đàng Ngoài (phái Chuyết Chuyết, Minh Hành) và Đàng Trong (phái Nguyên Thiều, Liễu Quán) từ thế kỷ 17, nối tiếp nền tảng các thiền phái cổ như Vô Ngôn Thông, Thảo Đường và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Ngày nay, Phổ Đà Sơn luôn là điểm dừng chân không thể thiếu trong các chuyến hành hương Tứ đại danh sơn của chư tôn đức tăng ni và Phật tử Việt Nam, khi ai nấy đều mong một lần được quỳ dưới mái Đại Viên Thông Bảo Điện lắng nghe tiếng chuông chùa hòa cùng tiếng sóng biển Đông.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 93 đường Baihua, đảo núi Putuo (Phổ Đà Sơn), quận Putuo, quần đảo thành phố Zhoushan (Chu Sơn), tỉnh Chiết Giang (浙江省舟山市普陀区普陀山白华路93号普济禅寺)
- Đường tới
- Phổ Đà Sơn là một hòn đảo tách biệt không có cầu đường bộ nối trực tiếp nên bắt buộc phải đi phà cao tốc. Quý vị có thể đi tàu cao tốc hoặc xe khách tới thành phố Ninh Ba rồi nối xe buýt sang bến tàu Chu Gia Tiêm (Wugongshi Wharf ở thành phố Chu Sơn), hoặc bay thẳng tới sân bay Phổ Đà Sơn Chu Sơn nằm ngay trên đảo Chu Gia Tiêm kế bên. Từ bến tàu Chu Gia Tiêm, đi phà sang bến tàu đảo Phổ Đà mất khoảng 15 phút, sau đó đi bộ dọc đường Bách Bộ Sa hoặc đi xe buýt nội bộ của đảo thêm khoảng 10 phút là tới Chùa Phổ Tế.
- Toạ độ
- 29.9878, 122.3825
Toàn bộ đảo Phổ Đà Sơn là đạo tràng thanh tịnh của chư tăng và người hành hương. Tại Chùa Phổ Tế, nhà chùa thực hiện quy định văn minh hương khói: mỗi người chỉ dâng ba nén hương thanh ở lư hương ngoài sân thiên tỉnh, không mang bó nhang lớn hoặc đốt vàng mã vào trong các tòa điện gỗ cổ. Khi đi qua cổng chùa, quý vị lưu ý đi theo hai cửa bên Đông hoặc Tây (vì Chính Sơn Môn ở giữa luôn đóng theo truyền thống), ăn mặc kín đáo trang nghiêm, bước qua bậu cửa gỗ thay vì giẫm lên và không chụp ảnh trực diện vào các tôn tượng bên trong Đại Viên Thông Bảo Điện.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Núi Phổ Đà Sơn và Chùa Phổ Tế, Chiết Giang
Contribute photos, information or video for Mount Putuo and Puji Temple, ZhejiangThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao núi Phổ Đà Sơn được gọi là Hải Thiên Phật Quốc và gắn với Quán Thế Âm Bồ Tát?
Trong Tứ đại danh sơn Phật giáo Trung Quốc, Phổ Đà Sơn là ngọn núi thiêng duy nhất nằm trên một hòn đảo giữa biển Đông Hoa thuộc quần đảo Chu Sơn, tỉnh Chiết Giang. Tên gọi Phổ Đà bắt nguồn từ núi Bổ Đà Lạc Ca (Potalaka) trong Kinh Hoa Nghiêm, nơi Bồ Tát Quán Tự Tại thuyết pháp giữa biển cả, nên đảo được tôn xưng là Hải Thiên Phật Quốc (Cõi Phật Biển Trời).
Chùa Phổ Tế có vị trí như thế nào trên đảo Phổ Đà Sơn?
Chùa Phổ Tế (quen gọi là Tiền Tự) là ngôi đại tùng lâm cổ xưa và có quy mô lớn nhất trong ba ngôi đại tự trụ cột của Phổ Đà Sơn (cùng với Chùa Pháp Vũ và Chùa Huệ Tế). Đây là trung tâm điều hành Phật sự của toàn đảo và là điểm khởi đầu truyền thống của mọi lộ trình hành hương chiêm bái Đức Quán Thế Âm.
Vì sao chính điện của Chùa Phổ Tế lại mang tên Đại Viên Thông Bảo Điện mà không phải Đại Hùng Bảo Điện?
Các ngôi chùa Hán truyền thông thường thờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở chính điện nên đặt tên là Đại Hùng Bảo Điện. Riêng toàn bộ đảo Phổ Đà từ thời Nam Tống năm 1214 đã được định quy chế chuyên phụng thờ Quán Thế Âm Bồ Tát làm bản tôn chính, vì vậy tòa điện trung tâm của Chùa Phổ Tế mang tên Đại Viên Thông Bảo Điện (theo danh hiệu Viên Thông Đại Sĩ trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm), bên trong tôn trí tượng Tỳ Lô Quán Âm cao 8,8 mét cùng 32 ứng hóa thân.
Công trình kiến trúc cổ nhất còn tồn tại ở khu vực Chùa Phổ Tế là công trình nào?
Đó là Đa Bảo Tháp (còn gọi là Thái Tử Tháp) nằm ngay phía đông nam ngoài tường Chùa Phổ Tế. Ngôi tháp được xây dựng năm Nguyên Thống thứ 2 đời nhà Nguyên (1334) hoàn toàn bằng đá vùng Thái Hồ, gồm năm tầng mặt bằng hình vuông cao khoảng 32 mét với các bức phù điêu Phật giáo thời Nguyên chạm nổi bốn mặt, được xếp hạng Văn vật Trọng điểm Toàn quốc năm 2006.
Vì sao cánh cửa chính ở giữa của sơn môn Chùa Phổ Tế thường đóng kín?
Tòa Chính Sơn Môn của Chùa Phổ Tế vốn được xây dựng theo quy chế hoàng gia dưới triều Thanh nên theo điển lệ cổ truyền, cửa chính giữa chỉ mở vào những dịp trọng đại đặc biệt như lễ tấn phong Hòa thượng Phương trượng mới hoặc đại lễ cấp quốc gia. Vào ngày thường, cả chư tăng lẫn khách hành hương đều ra vào qua hai cổng phụ ở phía đông và phía tây.