VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Linh Ẩn, Hàng Châu

Lingyin Si, 灵隐寺, 靈隱寺, Vân Lâm Thiền Tự, 云林禅寺, Phi Lai Phong Tạo Tượng, 飞来峰造像, Lingyin Temple Hangzhou

Ngôi đại tùng lâm ẩn mình giữa rừng phong bên bờ suối Lãnh Tuyền phía tây bắc Tây Hồ từ năm 326 sau Công nguyên, đối diện vách đá vôi Phi Lai Phong tạc hơn ba trăm pho tượng Phật thời Ngũ Đại, Tống và Nguyên.

Khởi dựng
Năm 326 SCN
năm Hàm Hòa nguyên niên thời Đông Tấn, do cao tăng Tây Ấn Huệ Lý lập
Vị thế
Ngũ Sơn Thiền tông
danh lam bậc nhất Giang Nam, gắn với tích thiền sư Đạo Tế (Tế Công)
Xếp hạng
Văn vật Trọng điểm đợt 2
tượng đá Phi Lai Phong công nhận năm 1982, tháp đá Ngô Việt năm 960

Rời mặt nước thoáng đãng của Tây Hồ đi sâu về phía tây bắc chừng năm cây số theo con đường rợp bóng phong hương và trúc biếc, tiếng phố thị Hàng Châu lùi dần phía sau để nhường chỗ cho tiếng suối Lãnh Tuyền róc rách chảy qua chân một ngọn núi đá vôi xám trắng lởm chởm hang động. Bên sườn nam ngọn núi là hàng trăm pho tượng Phật, Bồ Tát và La Hán mỉm cười hiền hậu trên vách đá rêu xanh suốt một nghìn năm, còn bên bờ bắc con suối là bức tường vàng trầm mặc của một ngôi đại già lam năm tầng điện cổ vươn dần lên sườn Bắc Cao Phong mù sương.

Đó là Chùa Linh Ẩn (Linh Ẩn Tự, 靈隱寺, còn mang ngự danh Vân Lâm Thiền Tự), tọa lạc tại quận Tây Hồ, thành phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang. Khởi lập từ đầu thế kỷ thứ tư thời Đông Tấn, Linh Ẩn Tự đứng vào hàng đại tùng lâm cổ kính và danh giá bậc nhất của Phật giáo vùng Giang Nam, vừa là bảo tàng điêu khắc đá thời Ngũ Đại, Tống, Nguyên ngoài trời, vừa là trung tâm kết tinh của Thiền tông, văn chương thi phú và nếp từ thiện dân gian Hoa Đông.

Chùa Linh Ẩn, Hàng Châu
Chùa Linh Ẩn, Hàng Châu. Ảnh: Tyg728, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

INgọn Núi Linh Thứu Bay Tới Từ Thiên Trúc, Gia Phong Ngũ Sơn Và Bóng Dáng Tế Công

Chùa Linh Ẩn thuộc hệ phái Thiền tông Phật giáo Bắc truyền (lịch sử gắn sâu với hai tông Vân Môn và Lâm Tế), tôn thờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tại Đại Hùng Bảo Điện, Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương tại Dược Sư Điện và Hoa Nghiêm Tam Thánh tại Hoa Nghiêm Điện trên đỉnh trục kiến trúc. Tên gọi Linh Ẩn mang nghĩa chốn ẩn cư của bậc tiên linh hiền thánh, khởi nguồn trực tiếp từ câu cảm thán của vị tổ khai sơn người Ấn Độ khi đặt chân vào thung lũng vắng lặng này cách đây tròn mười bảy thế kỷ.

Bước vào vùng cửa ngõ Giang Nam xưa vốn trọng văn chương và thanh nhã, Linh Ẩn Tự sớm trở thành điểm gặp gỡ giữa bậc thiền sư đắc đạo và các tao nhân mặc khách. Từ thi nhân Lạc Tân Vương, Tống Chi Vấn, Bạch Cư Dị thời Đường cho tới Tô Đông Pha thời Bắc Tống khi làm thái thú Hàng Châu đều lưu lại những vần thơ trác tuyệt bên hiên đình Lãnh Tuyền trước cổng chùa.

Theo giáo nghĩa

Trong lịch sử tư tưởng Phật giáo Đông Á, Chùa Linh Ẩn gắn liền với hai dòng mạch giáo nghĩa có sức ảnh hưởng vượt thời gian. Vào thế kỷ thứ 10 dưới thời vương quốc Ngô Việt, đại sư Vĩnh Minh Diên Thọ (904 tới 975) khi về trụ trì trung hưng Linh Ẩn Tự đã đặt nền móng cho tư tưởng Thiền Tịnh song tu (dung hợp sự tham cứu bản tâm của Thiền tông với pháp môn trì danh niệm Phật cầu sinh Tịnh Độ) và bộ Tông Cảnh Lục đồ sộ một trăm quyển lấy tâm làm tông, lấy ngộ làm gương soi vạn pháp. Sang thế kỷ 11 thời Bắc Tống, minh giáo đại sư Khiết Tung (1007 tới 1072) thuộc tông Vân Môn tại Linh Ẩn lại trước tác bộ Phụ Giáo Biên luận giải sự hòa hợp nhân bản giữa đạo lý nhà Phật với luân lý Nho gia.

Ở tầng văn hóa đại chúng, Linh Ẩn Tự còn là quê hương xuất gia của thiền sư Đạo Tế (1148 tới 1209 thời Nam Tống, một số nguồn ghi sinh năm 1130, quen thuộc khắp Á Đông dưới tôn hiệu Tế Công Hòa Thượng hay Tế Điên). Xuất thân dòng dõi danh gia ở Thiên Thai, ngài thọ giới dưới tòa thiền sư Hạt Đường Huệ Viễn tại Chùa Linh Ẩn. Mang chiếc áo cà sa rách, tay phe phẩy chiếc quạt lá cọ gãy nan, ngài phá chấp mọi hình tướng cứng nhắc bên ngoài để đi vào ngõ hẻm cứu giúp người nghèo khổ, bốc thuốc chữa bệnh và bênh vực kẻ yếu thế, để lại bài học sống động về Bồ Tát hạnh bất câu tiểu tiết: bậc chân tu lấy tâm từ bi vô ngã làm giới thể chứ không kẹt nơi vẻ ngoài đạo mạo.

Theo sử liệu

Theo các bộ Hàm Thuần Lâm An Chí thời Tống và Linh Ẩn Tự Chí, vào năm Hàm Hòa nguyên niên đời Đông Tấn Thành Đế (326 SCN), vị cao tăng Tây Thiên Trúc (miền tây Ấn Độ cổ) tên là Huệ Lý vân du sang vùng đất Ngô Việt. Khi đi ngược khe suối vào thung lũng phía tây hồ Tiền Đường, ngài ngạc nhiên dừng bước trước một khối núi đá vôi dựng đứng đục thủng nhiều hang động kỳ lạ nằm trơ trọi giữa vùng đồi đá sa thạch chung quanh. Ngắm kỹ mạch đá, Huệ Lý thốt lên: Ngọn núi nhỏ này vốn là một đỉnh của núi Linh Thứu bên nước Trung Thiên Trúc, chẳng biết nhờ thần lực nào mà bay tới chốn này? Thuở xưa tiên linh từng ẩn cư trong động ấy, nay há chẳng còn ư?

Người dân quanh vùng nghe vậy bán tín bán nghi vì nghĩ ngọn núi đá từ thuở khai thiên lập địa đã ở đó. Thiền sư Huệ Lý bèn bước tới cửa hang đá (nay là Hô Viên Động), cất tiếng gọi tên một đôi vượn đen và vượn trắng từng sống ở Linh Thứu, lập tức hai con vượn từ trong hốc đá nhảy vọt ra quỳ trước mặt ngài. Mọi người thảy đều kinh phục, từ đó gọi ngọn núi đá vôi ấy là Phi Lai Phong (Ngọn núi bay tới), và ngôi chùa do ngài Huệ Lý dựng ngay đối diện chân núi mang tên Linh Ẩn Tự (sau đó ngài còn lập liên tiếp năm ngôi chùa quanh vùng nhưng chỉ Linh Ẩn trường tồn rực rỡ nhất).

Chỗ hay hiểu lầm

Khi tới thăm Chùa Linh Ẩn, nhiều du khách bỡ ngỡ vì thấy tấm biển son chữ vàng khổng lồ treo ngay dưới mái hiên Thiên Vương Điện lại viết bốn chữ Vân Lâm Thiền Tự (云林禅寺) chứ không phải Linh Ẩn Tự, đồng thời sử liệu ghi năm lập chùa có hai con số 326 và 328 SCN. Về tên biển ngạch, vào năm Khang Hy thứ 28 (1689), hoàng đế Khang Hy nam tuần ghé thăm Linh Ẩn giữa ngày mưa sương giăng kín rừng cây. Khi trụ trì dâng giấy bút xin vua ngự đề biển chùa, Khang Hy đặt bút viết bộ Vũ (mưa) ở đầu chữ Linh (靈) quá to khiến phần giấy bên dưới không còn đủ chỗ viết tiếp ba chữ Khẩu và chữ Vu. Một vị đại thần tháp tùng nhanh trí lén viết chữ Vân Lâm vào lòng bàn tay đưa lên gợi ý, nhà vua bèn thuận bút phóng thành bốn chữ Vân Lâm Thiền Tự (Chùa rừng mây). Từ đó chùa chính thức mang ngự danh Vân Lâm trên biển điện nhưng từ quan chí dân suốt ba trăm năm vẫn quen gọi tên gốc Linh Ẩn. Về năm lập chùa, đa số bia ký và cổng chùa ghi năm Hàm Hòa nguyên niên (326 SCN), riêng một vài địa chí cổ chép năm Hàm Hòa thứ 3 (328 SCN). Ngoài ra, quần thể tượng đá Phi Lai Phong nằm ở bờ nam suối Lãnh Tuyền ngay khu vực lối vào trước khi bước qua tường vàng vào khu nội viện Chùa Linh Ẩn.

IIMười Bảy Thế Kỷ Từ Vương Quốc Ngô Việt, Kinh Đô Nam Tống Tới Đại Trùng Tu Hiện Đại

Trải qua mười bảy thế kỷ tồn tại, Chùa Linh Ẩn từng chịu đựng hơn mười lần hỏa hoạn và binh đao khốc liệt, nhưng nhờ vị thế kinh đô phồn hoa của vương quốc Ngô Việt thế kỷ 10 và triều Nam Tống thế kỷ 12 tới 13, mỗi lần dựng lại ngôi chùa lại càng quy mô và tinh xảo hơn.

  • 326 SCNCao tăng Tây Ấn Huệ Lý khai sơn Linh Ẩn Tự
    Năm Hàm Hòa nguyên niên thời Đông Tấn (một số sử liệu chép 328), thiền sư Huệ Lý nhận ra ngọn núi đá vôi Phi Lai Phong và dựng ngôi tịnh xá đầu tiên bên suối Lãnh Tuyền, viên tịch và nhập tháp ngay dưới chân núi.
  • 960 tới 969Thời đại hoàng kim dưới triều Ngô Việt vương Tiền Thục
    Quốc vương Ngô Việt Tiền Hoằng Thục thỉnh đại sư Vĩnh Minh Diên Thọ về mở rộng chùa lên 9 lầu, 18 các, 72 điện đường nuôi 3.000 chư tăng. Đôi tháp đá Bát Giác chín tầng dựng năm 960 và đôi kinh tràng đá dựng năm 969 còn đứng nguyên vẹn tới nay.
  • 1089 tới 1220Kinh đô Lâm An thời Tống và xếp hạng nhị vị Ngũ Sơn
    Thời Bắc Tống, Tô Đông Pha thường lui tới đàm đạo tại chùa. Sang thời Nam Tống đóng đô ở Hàng Châu, vua Tống Cao Tông và Hiếu Tông liên tiếp giá lâm, Tống Ninh Tông xếp Linh Ẩn đứng thứ hai trong Ngũ Sơn Thập Sát của Thiền tông thiên hạ. Đây cũng là thời thiền sư Đạo Tế (Tế Công) xuất gia tại chùa.
  • 1282 tới 1292Tạc bổ sung quần thể tượng Mật tông thời Nguyên trên Phi Lai Phong
    Trên nền các pho tượng thời Ngũ Đại và hai triều Tống, dưới triều Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt, tổng quản Phật giáo Giang Hoài là Dương Liên Chân Già cho tạc thêm hàng chục pho tượng Mật giáo Tây Tạng giao thoa nghệ thuật Hán truyền trên vách đá Phi Lai Phong.
  • 1689Hoàng đế Khang Hy nam tuần ban ngạch Vân Lâm Thiền Tự
    Năm Khang Hy thứ 28 (1689), sau đợt đại trùng tu của thiền sư Cụ Đức Hoằng Lễ (1649 tới 1667), vua Khang Hy viếng chùa và ngự thư bức hoành Vân Lâm Thiền Tự treo trước Thiên Vương Điện.
  • 1860 tới 1910Tái thiết Đại Hùng Bảo Điện cao 33,6 mét cuối thời Thanh
    Sau hỏa hoạn thời Thái Bình Thiên Quốc năm 1860 chỉ còn sót lại Thiên Vương Điện và các tháp đá cổ, tới năm Tuyên Thống thứ 2 (1910), chùa nhập những cây gỗ sam khổng lồ dựng lại tòa Đại Hùng Bảo Điện cao vút ba tầng mái hiên.
  • 1953 tới 1982Tạc đại tượng Thích Ca gỗ long não và xếp hạng Văn vật Quốc gia
    Từ năm 1953 tới 1956, nhà nước cấp kinh phí trùng tu lớn và các nghệ nhân Chiết Giang tạc pho tượng Thích Ca Mâu Ni bằng 24 khối gỗ long não cao 24,8 mét. Năm 1982, tượng đá Phi Lai Phong được công nhận Văn vật Trọng điểm Toàn quốc đợt 2 (đôi tháp đá và kinh tràng chùa Linh Ẩn được công nhận tiếp vào đợt 7 năm 2013, mã 7-0989-3-287).
Theo sử liệu

Về giá trị độc bản của vách đá điêu khắc Phi Lai Phong ở miền Nam Trung Quốc. Nếu các đại thạch khố nổi tiếng như Mạc Cao, Vân Cương hay Long Môn đều tập trung ở vùng khô ráo phương Bắc, thì Phi Lai Phong tại cửa Chùa Linh Ẩn là quần thể tượng khắc vách đá cổ quy mô lớn và hoàn chỉnh bậc nhất ở vùng sông nước Giang Nam. Dọc theo vách đá vôi xám dọc bờ nam suối Lãnh Tuyền (qua các động Thanh Lâm, Ngọc Nhũ, Long Hoằng, Hô Viên) hiện bảo tồn khoảng 330 tới 470 pho tượng đá nguyên vẹn thuộc 115 khám đá, khởi đục từ năm Quảng Thuận nguyên niên thời Hậu Chu (951 SCN), trải qua thời Bắc Tống, Nam Tống tới thời Nguyên (1292). Trong đó, bức tượng Bố Đại Hòa Thượng Di Lặc bụng lớn cười tươi ngồi giữa mười tám vị La Hán (tạc thời Tống) đã trở thành hình ảnh biểu tượng nổi tiếng khắp thế giới, bên cạnh gần một trăm pho tượng Bồ Tát Tôn Thắng Phật Đỉnh, Đa La Bồ Tát (Tara) mang phong cách Mật tông Hán Tạng cực kỳ hiếm thấy ở miền Đông Nam Trung Quốc.

Về sự bảo vệ nguyên vẹn Chùa Linh Ẩn năm 1966. Tư liệu lịch sử đương đại Hàng Châu ghi nhận vào tháng 8 năm 1966, khi làn sóng đập phá cổ vật lan tới Chiết Giang đe dọa trực tiếp tượng đá Phi Lai Phong và các tòa bảo điện Linh Ẩn, sinh viên đại học và người dân Hàng Châu đã đứng chặn trước cổng chùa, đồng thời Thủ tướng Chu Ân Lai lập tức gọi điện chỉ thị đóng cửa niêm phong bảo vệ nghiêm ngặt toàn bộ Chùa Linh Ẩn, giúp pho đại tượng gỗ long não, tượng Vi Đà đời Tống và hàng trăm bức phù điêu đá nghìn năm thoát khỏi sự hủy hoại.

IIINăm Lớp Điện Trục Bắc Cao Phong, Tượng Gỗ Long Não 24,8 Mét Và Đôi Tháp Đá Ngô Việt

Khuôn viên nội tự Chùa Linh Ẩn hiện trải rộng khoảng 87.000 mét vuông dưới chân sườn nam của ngọn Bắc Cao Phong. Nếu các ngôi chùa thời Minh Thanh thường dừng ở ba hoặc bốn lớp điện, thì Linh Ẩn Tự sau đợt quy hoạch hoàn chỉnh cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 vươn lên hùng vĩ với năm lớp đại điện trên trục trung tâm nâng cao dần từng bậc đá: Thiên Vương Điện, Đại Hùng Bảo Điện, Dược Sư Điện, Pháp Đường (Tàng Kinh Lâu) và Hoa Nghiêm Điện ở đỉnh cao nhất. Hai cánh đông và tây mở rộng thành quần thể Ngũ Bách La Hán Đường mặt bằng chữ Vạn, Đạo Tế Hòa Thượng Điện (Tế Công Điện), Tịnh Từ Viện và khu Tăng đường thanh tịnh.

Sự tương phản giữa màu tường vàng sậm cổ điển của Giang Nam, hệ cột gỗ lớn sơn đỏ thẫm với tán lá phong đỏ rực mùa thu và rêu đá xanh mướt bên suối Lãnh Tuyền tạo nên vẻ đẹp thâm u đúng như tên gọi Linh Ẩn.

Thiên Vương Điện, tượng Vi Đà gỗ long não đời Tống và đôi Kinh tràng năm 969

Tòa điện mở đầu trục chính treo bức hoành Vân Lâm Thiền Tự của vua Khang Hy. Chính giữa thờ tượng Di Lặc tươi cười, lưng dựa vào khám thờ pho tượng Vi Đà Bồ Tát cao 2,5 mét chạm khắc từ một thân gỗ long não nguyên khối từ thời Nam Tống cách đây hơn tám thế kỷ, giáp trụ uy nghiêm sống động. Ngoài sân hai bên tả hữu đứng sừng sững hai cột Thạch Kinh Tràng bát giác dựng năm Khai Bảo thứ 2 thời Ngô Việt (969), cao khoảng 11 mét và hơn 7 mét, khắc kín chữ Phạn và chữ Hán bản Kinh Phật Đỉnh Tôn Thắng Đà La Ni.

Đại Hùng Bảo Điện cao 33,6 mét và tượng Thích Ca gỗ long não 24,8 mét

Tòa chính điện có kết cấu đơn tầng nhưng vươn cao ba lớp mái hiên (đơn tầng tam trùng diêm) đạt chiều cao tới 33,6 mét, thoáng rộng kỳ vĩ. Giữa lòng điện là pho đại tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi kiết già trên tòa sen theo phong cách Đường đại, tổng chiều cao từ chân bệ lên đỉnh nhục kế đạt 24,8 mét (riêng phần thân Phật cao 19,6 mét), ghép điêu khắc tinh xảo từ 24 khối gỗ long não quý vùng Chiết Giang phủ sơn thếp vàng ròng lộng lẫy hoàn thành năm 1956. Mặt sau bức vách hậu Phật đắp bức phù điêu đất sét màu Hải Đảo Quán Âm cao hơn 20 mét gồm 150 nhân vật thể hiện cảnh Thiện Tài đồng tử năm mươi ba lần cầu đạo.

Đôi tháp đá Bát Giác Cửu Tầng thời Ngô Việt năm 960

Đứng đối xứng ở hai góc đông và tây trên sân đá rộng trước thềm Đại Hùng Bảo Điện là cặp bảo tháp bằng đá vôi trắng chạm khắc năm Kiến Long nguyên niên (960 SCN). Mỗi tháp gồm 9 tầng tám cạnh bắt chước kết cấu đấu củng tháp gỗ thời Đường Ngũ Đại, cao hơn 10 mét, chân đế chạm sóng biển Cửu Sơn Bát Hải, lực sĩ nâng tòa và các tích truyện Bản Sinh Đức Phật hết sức tinh mỹ.

Hoa Nghiêm Điện gỗ nam mộc và Ngũ Bách La Hán Đường hình chữ Vạn

Trên bậc nền đá cao nhất sát rừng Bắc Cao Phong là Hoa Nghiêm Điện tôn trí bộ tượng Hoa Nghiêm Tam Thánh (Tỳ Lô Giá Na Phật, Văn Thù và Phổ Hiền Bồ Tát) chạm khắc hoàn toàn bằng gỗ kim tơ nam mộc quý hiếm vùng Myanmar tỏa hương gỗ tự nhiên dịu nhẹ. Ở cánh tây chùa là tòa Ngũ Bách La Hán Đường thiết kế mặt bằng hình chữ Vạn Phật giáo, bên trong bày 500 pho tượng La Hán đúc đồng nặng mỗi pho khoảng một tấn quay quanh tòa tháp đồng Tứ Đại Danh Sơn cao 12,6 mét ở tâm điểm.

Vách tượng đá Phi Lai Phong và Lãnh Tuyền Đình

Nằm dọc bờ nam suối Lãnh Tuyền đối diện chùa là ngọn núi đá vôi cao 168 mét (đỉnh cao nhất 209 mét) lưu giữ từ 330 tới 470 pho tượng khắc đá nguyên vẹn từ năm 951 tới 1292: nổi tiếng nhất là khám tượng Di Lặc Bố Đại bụng tròn vây quanh bởi 18 La Hán thời Tống bên bờ suối, tượng Tây Phương Tam Thánh thời Ngũ Đại trong động Thanh Lâm và cụm tượng Mật tông thời Nguyên. Bên dòng nước suối mát lạnh là Lãnh Tuyền Đình cổ kính nơi Bạch Cư Dị và Tô Đông Pha từng ngâm vịnh.

Bảng tổng hợp thông số kiến trúc và cổ vật tiêu biểu tại Chùa Linh Ẩn và vách đá Phi Lai Phong, Hàng Châu. Nguồn: Cục Văn vật Quốc gia Trung Quốc, Chùa Linh Ẩn Hàng Châu (lingyinsi.org) và Wikidata..
Hạng mục và bảo vậtThông số và niên đạiNguồn kiểm chứng
Quy mô nội viện Chùa Linh ẨnRộng khoảng 87.000 m2, 5 lớp đại điện trục chính dưới chân Bắc Cao PhongBan Quản trị Chùa Linh Ẩn Hàng Châu (lingyinsi.org)
Đại Hùng Bảo Điện và tượng PhậtĐiện cao 33,6 m, tượng Thích Ca ghép từ 24 khối gỗ long não thếp vàng tổng cao 24,8 m (1956)Chùa Linh Ẩn Hàng Châu, Encyclopædia Britannica
Tượng đá vách núi Phi Lai PhongKhoảng 330 tới 470 pho tượng nguyên vẹn tạc từ năm 951 (Ngũ Đại) tới 1292 (nhà Nguyên)Hồ sơ Văn vật Trọng điểm Toàn quốc đợt 2 (1982)
Đôi tháp đá và đôi Kinh tràngHai tháp đá 8 cạnh 9 tầng dựng năm 960, hai cột Kinh tràng đá dựng năm 969 thời Ngô ViệtHồ sơ Văn vật Trọng điểm Toàn quốc đợt 7 (2013, mã 7-0989-3-287)
Tượng Vi Đà Hộ Pháp Thiên Vương ĐiệnCao 2,5 m, chạm từ một thân gỗ long não nguyên khối thời Nam Tống (thế kỷ 12 tới 13)Ban Quản trị Chùa Linh Ẩn (lingyinsi.org)
Tọa độ vệ tinh30,2428 độ vĩ Bắc, 120,0967 độ kinh ĐôngWikidata (Q1070228), OpenStreetMap

IVThế Đất Và Hướng

Phật giáo Thiền tông vốn dạy Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật, không đặt sự giác ngộ vào cát hung của núi đồi. Thế nhưng xét về mặt quy hoạch cảnh quan tự viện sơn lâm phương Đông, vị trí mà cao tăng Huệ Lý chọn lựa năm 326 SCN tại thung lũng Linh Ẩn được các bậc thức giả ngàn đời tán thán là một kiệt tác thiên tạo hiếm có nhờ sự đối đãi kỳ diệu giữa hai chất đá sa thạch và đá vôi kẹp lấy một con suối mát ở giữa. Phần dưới đây đối chiếu thực địa theo phép xem hình thế cổ truyền của thư viện.

Thế đất và hướng

Xét trên đại cuộc sơn mạch phía tây Tây Hồ tại tọa độ 30,2428 độ vĩ Bắc, 120,0967 độ kinh Đông, dãy Thiên Mục Sơn hùng vĩ trườn về Hàng Châu chia làm hai cánh Bắc Sơn và Nam Sơn ôm vòng lấy lòng hồ Tây Hồ. Ngay ở thượng nguồn khe núi phía tây bắc, ngọn Bắc Cao Phong (cao 314 mét, cấu tạo bằng đá sa thạch thạch anh rắn chắc) sừng sững vươn lên làm tổ sơn và hậu chẩm Huyền Vũ che chắn trọn vẹn sau lưng Chùa Linh Ẩn. Từ Bắc Cao Phong, hai dải sườn núi có rừng phong, long não và trúc vây kín hai sườn đông và tây làm Thanh Long và Bạch Hổ khép chặt lấy khu nội viện. Điểm kỳ lạ bậc nhất về địa chất và hình thế nằm ngay phía trước mặt chùa: đối diện qua thung lũng hẹp ở hướng nam là ngọn Phi Lai Phong (cao 168 tới 209 mét, cấu tạo hoàn toàn bằng đá vôi cổ sinh màu xám trắng khác hẳn dãy núi sa thạch sau lưng chùa). Khối núi đá vôi vừa thấp hơn Bắc Cao Phong vừa có dáng tròn trịa uốn lượn đứng chắn ngay trước cửa ngõ thung lũng làm tiền án sơn lý tưởng: đứng từ ngoài đường cái nhìn vào không thấy chùa đâu, bước qua khe núi mới bừng mở đại tùng lâm ẩn tàng sâu bên trong, ứng nghiệm trọn vẹn hai chữ Linh Ẩn (tàng phong tụ khí tối thượng).

Xét về sơn hướng và thủy pháp, toàn bộ năm lớp điện của Chùa Linh Ẩn được đặt theo trục tọa Bắc Tây Bắc hướng Nam Đông Nam, lưng dựa thẳng vào sườn nam Bắc Cao Phong và mặt hướng ra bình phong Phi Lai Phong, nền đá nâng cao dần từng cấp theo sườn núi tới Hoa Nghiêm Điện. Chảy len giữa chân chùa và chân núi Phi Lai Phong là dòng suối Lãnh Tuyền (Lãnh Tuyền Khê) gom nước suối khe từ thượng nguồn chảy lững lờ từ tây sang đông ôm sát trước sơn môn theo thế ngọc đới thủy (đai ngọc vắt ngang minh đường), có đình Lãnh Tuyền và cầu đá trấn giữ thủy đạo, trước khi xuôi về phía đông góp nước vào đại bồn địa tụ thủy Tây Hồ. Sự hội tụ của núi cao đỡ lưng, bình phong đá vôi che mặt và suối trong quấn quýt trước thềm đã nuôi dưỡng mạch tùng lâm hưng thịnh liên tục suốt mười bảy thế kỷ.

VDi Sản Cháo Lạp Bát Mùng Tám Tháng Chạp Và Dấu Ấn Thiền Tịnh Trong Phật Giáo Việt Nam

Nếp sinh hoạt lễ tiết tại Chùa Linh Ẩn cử hành trang nghiêm theo âm lịch cổ truyền của Phật giáo Bắc truyền. Bên cạnh các kỳ lễ Phật Đản và Vu Lan, nét văn hóa nổi danh khắp đất nước Trung Quốc của Chùa Linh Ẩn là tục nấu và phát cháo Lạp Bát vào dịp lễ Phật Thành Đạo tháng Chạp, một mỹ tục từ thiện kéo dài từ thời Tống đã được Bộ Văn hóa Trung Quốc ghi danh là Di sản Văn hóa Phi vật thể cấp Quốc gia vào năm 2021 (trước đó công nhận cấp tỉnh năm 2009). Bảng dưới đây tổng hợp các kỳ lễ trọng đại nhất trong năm.

Các kỳ pháp hội và lễ tiết truyền thống hàng năm tại Chùa Linh Ẩn, Hàng Châu. Nguồn: Ban Quản trị Chùa Linh Ẩn Hàng Châu (lingyinsi.org) và Danh mục Di sản Văn hóa Phi vật thể Quốc gia Trung Quốc..
Thời điểmTheo lịch nàoTên lễ tiếtNghi thức và hoạt động truyền thống tại Chùa Linh Ẩn
Mùng 1 tới mùng 8 tháng Chạp (chính lễ mùng 8 tháng 12)Âm lịchĐại lễ Phật Thành Đạo và Lễ hội phát cháo Lạp Bát Linh ẨnKỷ niệm ngày Đức Phật Thích Ca thành đạo sau khi thọ bát sữa cháo của nàng Tu Xà Đề. Suốt tuần đầu tháng Chạp, trai đường Linh Ẩn nổi lửa nấu hơn 300.000 phần cháo Lạp Bát từ hạt sen, táo đỏ, đậu đỏ, long nhãn, gạo nếp, bạch quả gửi tặng miễn phí tới các bệnh viện, viện dưỡng lão và người dân Hàng Châu.
Mùng 8 tháng TưÂm lịchĐại lễ Phật Đản (Pháp hội Tắm Phật và Hành cước Thác bát)Chư tăng cử hành nghi thức Mộc dục tưới nước thơm lên kim thân thái tử Tất Đạt Đa tại Đại Hùng Bảo Điện và tái hiện đoàn tăng nhân đội nón tre mang bình bát hành cước gây quỹ từ thiện.
Ngày 30 tháng Chín (tháng thiếu làm ngày 29)Âm lịchĐại lễ vía Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang VươngTại Dược Sư Điện của Chùa Linh Ẩn, chư tăng mở đàn tụng Kinh Dược Sư Bổn Nguyện Công Đức và thắp đèn Dược Sư bảy tầng suốt nhiều ngày cầu nguyện tiêu tai diên thọ và bình an cho bá tánh.
Đêm 30 tháng Chạp và đầu xuân năm mớiÂm lịch (Tết Nguyên Đán)Lễ hội Thỉnh chuông Giao thừa đón phúc lành năm mớiĐúng thời khắc chuyển giao năm cũ sang năm mới, đại hồng chung Chùa Linh Ẩn ngân vang 108 tiếng giữa thung lũng sương khói Tây Hồ cầu nguyện mưa thuận gió hòa và nhân tâm an lạc.

Sự giao thoa tư tưởng Thiền Tịnh song tu, Thiền phái Thảo Đường và hình tượng Tế Công tại Việt Nam. Nhìn sâu vào lịch sử học thuật Phật giáo Việt Nam, Chùa Linh Ẩn ở Hàng Châu có hai mối lương duyên lịch sử rất đáng trân trọng. Thứ nhất, vào thế kỷ 11 thời Bắc Tống, chính môi trường học thuật rực rỡ của tông Vân Môn tại Linh Ẩn Tự và vùng Hàng Châu Minh Châu (gắn với hai bậc danh tăng Tuyết Đậu Trọng Hiển và Minh Giáo Khiết Tung) là cái nôi trực tiếp đào tạo nên thiền sư Thảo Đường, người sang Đại Việt năm 1069 và được vua Lý Thánh Tông tôn làm Quốc sư khai sáng Thiền phái Thảo Đường mang đậm cốt cách bác học và thi ca giữa kinh thành Thăng Long. Thứ hai, đường lối Thiền Tịnh song tu do đại sư Vĩnh Minh Diên Thọ khởi xướng từ Linh Ẩn và Tịnh Từ ở Tây Hồ đã lan tỏa sâu đậm vào Phật giáo Việt Nam từ cuối thời Trần sang thời Lê Nguyễn, giải thích vì sao các chốn tổ dòng Trúc Lâm và Lâm Tế tại Việt Nam (như Chùa Vĩnh Nghiêm hay Chùa Trấn Quốc) vừa giữ pháp phả Thiền tông nghiêm cẩn vừa trì niệm danh hiệu Phật A Di Đà mỗi thời công phu sớm tối.

Bên cạnh dòng chảy bác học ấy, hình tượng vị Phật sống Tế Công bước ra từ cổng Chùa Linh Ẩn với chiếc quạt rách trừ gian cứu khổ cũng đi sâu vào văn chương truyện kể dân gian, sân khấu tuồng cổ và các ngôi chùa Hoa Việt vùng Chợ Lớn cùng Nam Bộ Việt Nam. Ngày nay, mỗi khi các đoàn hành hương và du khách Việt Nam đến thăm Tây Hồ Hàng Châu, hầu như ai cũng dành một buổi sáng dạo bước bên suối Lãnh Tuyền, ngắm nụ cười bao dung của pho tượng Di Lặc đá trên vách Phi Lai Phong rồi bước vào Đại Hùng Bảo Điện ngước nhìn tôn tượng Thích Ca gỗ long não thếp vàng cao vút.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Số 1 ngõ Fayun (Pháp Vân Lộng), đường Lingyin, phía tây bắc Tây Hồ, quận Xihu (Tây Hồ), thành phố Hangzhou (Hàng Châu), tỉnh Chiết Giang (浙江省杭州市西湖区灵隐路法云弄1号)
Đường tới
Chùa Linh Ẩn nằm tại số 1 ngõ Pháp Vân, đường Linh Ẩn, phía tây bắc Tây Hồ thuộc quận Tây Hồ, thành phố Hàng Châu. Từ trung tâm Hàng Châu, ga tàu Hàng Châu Đông (Hangzhou East Railway Station) hoặc khu vực Tây Hồ, quý vị có thể đi các tuyến xe buýt chuyên tuyến du lịch Tây Hồ hoặc đi tàu điện ngầm Hàng Châu kết hợp xe buýt trung chuyển chạy thẳng vào bến xe buýt Linh Ẩn (Lingyin Bus Terminal), từ bến xe đi bộ khoảng 5 phút qua đường rợp bóng cây là tới lối vào khu Phi Lai Phong và Chùa Linh Ẩn.
Toạ độ
30.2428, 120.0967
Khi tới nơi

Khu danh thắng Phi Lai Phong và nội viện Chùa Linh Ẩn là không gian di sản văn vật quốc gia đồng thời là chốn tu hành thanh tịnh của hàng trăm chư tăng. Khi tham quan vách đá Phi Lai Phong dọc suối Lãnh Tuyền, quý vị tuyệt đối không trèo lên bệ đá hoặc xoa tay vào bề mặt các pho tượng đá nghìn năm tuổi (đặc biệt là tượng Phật Di Lặc) để tránh mồ hôi làm mòn lớp đá vôi cổ. Khi vào trong nội viện Chùa Linh Ẩn, nhà chùa phát sẵn ba nén hương thanh lịch sự cho khách lễ Phật ngoài sân, không mang nhang nến từ bên ngoài vào đốt và không chụp ảnh bên trong lòng các tòa bảo điện.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Linh Ẩn, Hàng Châu

Contribute photos, information or video for Lingyin Temple, Hangzhou

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Linh Ẩn ở Hàng Châu được xây dựng từ năm nào và tên gọi Phi Lai Phong có ý nghĩa gì?

Chùa Linh Ẩn được cao tăng người Tây Ấn Độ là ngài Huệ Lý khởi lập vào năm Hàm Hòa nguyên niên thời Đông Tấn (năm 326 SCN, một số sử liệu chép 328 SCN). Khi thấy ngọn núi đá vôi kỳ lạ trước mặt có dáng hệt một đỉnh nhỏ của núi Linh Thứu bên Ấn Độ như thể bay tới đây, ngài đặt tên núi là Phi Lai Phong (Ngọn núi bay tới) và đặt tên chùa là Linh Ẩn Tự.

Vì sao tấm biển treo trước Thiên Vương Điện của Chùa Linh Ẩn lại ghi là Vân Lâm Thiền Tự?

Năm 1689, hoàng đế Khang Hy nhà Thanh đến thăm chùa trong làn mưa mù và nhận lời viết biển ngạch. Do lỡ tay viết bộ Vũ (mưa) ở đầu chữ Linh quá lớn không còn đủ chỗ viết phần dưới, nhà vua đã thuận theo lời gợi ý khéo léo của cận thần đổi thành bốn chữ Vân Lâm Thiền Tự (Chùa rừng mây). Từ đó biển điện treo tên Vân Lâm nhưng dân gian vẫn giữ tên gốc Linh Ẩn.

Pho tượng Phật trong Đại Hùng Bảo Điện của Chùa Linh Ẩn có quy mô đặc biệt như thế nào?

Chính giữa Đại Hùng Bảo Điện cao 33,6 mét là pho tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi trên tòa sen được chạm ghép từ 24 khối gỗ long não quý vùng Chiết Giang và phủ vàng ròng hoàn thành năm 1956. Với tổng chiều cao 24,8 mét (riêng thân tượng cao 19,6 mét), đây là một trong những pho tượng Phật ngồi chạm gỗ lớn nhất tại Trung Quốc.

Những công trình và điêu khắc cổ xưa nhất từ thế kỷ 10 còn nguyên vẹn tại Chùa Linh Ẩn là gì?

Đó là hơn 330 tới 470 pho tượng Phật khắc trực tiếp vào vách đá vôi Phi Lai Phong từ thời Ngũ Đại (951), Tống và Nguyên (nổi tiếng nhất là tượng Di Lặc bụng lớn cười hiền), cùng với đôi tháp đá Bát Giác chín tầng dựng năm 960 trước Đại Hùng Bảo Điện và đôi cột đá Kinh tràng dựng năm 969 trước Thiên Vương Điện từ thời vương quốc Ngô Việt.

Tục phát cháo Lạp Bát của Chùa Linh Ẩn diễn ra khi nào và mang ý nghĩa gì?

Vào ngày mùng 8 tháng Chạp âm lịch hàng năm (Lễ Phật Thành Đạo), nối tiếp truyền thống từ thời Tống, Chùa Linh Ẩn nấu hơn ba trăm nghìn bát cháo Lạp Bát từ các loại ngũ cốc, hạt sen, táo đỏ, long nhãn để biếu tặng miễn phí cho bệnh viện, người cao tuổi và người dân Hàng Châu. Tục lệ nhân ái này đã được công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể cấp Quốc gia của Trung Quốc năm 2021.

›Đọc Tiếp