VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Ta Prohm, quần thể Angkor

Prasat Ta Prohm, ប្រាសាទតាព្រហ្ម, Rajavihara, Rājavihāra, Vương Tự

Ngôi đại tự viện Phật giáo Đại thừa mang tên gốc Vương Tự do vua Jayavarman VII hiến dựng năm 1186 để báo hiếu mẫu hậu, nơi những bộ rễ cây tung cổ thụ màu bạc ôm trùm lên các dãy hành lang đá sa thạch phủ rêu xanh suốt nhiều thế kỷ.

Khánh thành
Năm 1186
vua Jayavarman VII hiến dựng kính dâng mẫu hậu Jayarajachudamani
Bố cục
Đền phẳng 65 hécta
năm vòng tường đá đồng tâm dài 1.000 m nhân 650 m cùng 39 ngọn tháp
Xếp hạng
Di sản Thế giới UNESCO
thuộc Quần thể khảo cổ Angkor, ghi danh năm 1992 (hồ sơ số 668)

Rời Đền Bayon và đi qua Cổng Chiến Thắng ở sườn đông kinh thành Angkor Thom chừng hai cây số dưới vòm rừng già mát rượi, khách hành hương bắt gặp bức tường đá ong dài dằng dặc có tạc gương mặt mỉm cười bốn phương trên đỉnh cổng gopura. Bước qua lối mòn cát mịn dẫn sâu vào các sân đá bên trong, quý vị lập tức đứng trước một khung cảnh không giống bất kỳ ngôi đền nào khác ở Đông Nam Á: từ trên nóc các dãy hành lang sa thạch xám xanh màu rêu, những bộ rễ khổng lồ ánh bạc của loài cây tung rừng trườn xuống như những dòng thác hóa gỗ, vừa chèn tách vừa giữ chặt lấy từng viên đá cổ.

Ngôi đền ấy ngày nay mang tên Ta Prohm (Tổ phụ Phạm Thiên trong tiếng Khmer hiện đại), nhưng khi được vua Jayavarman VII khánh thành vào năm 1186, đây là đại tự viện kiêm học viện hoàng gia của Phật giáo Đại thừa mang tên chữ Phạn là Rajavihara (Vương Tự, tức Tu viện của nhà Vua). Giữa vẻ trầm mặc của rêu phong và bóng cổ thụ cao vút, từng bức tường đá nơi đây vẫn lưu giữ ký ức về một trung tâm tu học và từ thiện bậc nhất đế chế Khmer cuối thế kỷ 12.

Đền Ta Prohm, quần thể Angkor
Đền Ta Prohm, quần thể Angkor. Ảnh: Phillip Maiwald (Nikopol), giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

IHiếu Đạo Của Vị Phật Vương Và Hóa Thân Phật Mẫu Bát Nhã

Năm năm sau khi lên ngôi và thu phục lại kinh đô Angkor vào năm 1181, vua Jayavarman VII mở đầu chương trình kiến thiết tâm linh vĩ đại của triều đại mình không phải bằng đền thờ riêng cho bản thân mà bằng hai ngôi đại tự viện báo hiếu song đôi: Ta Prohm (dựng năm 1186 kính dâng thân mẫu là hoàng thái hậu Jayarajachudamani) và Đền Preah Khan (dựng năm 1191 kính dâng thân phụ là vua Dharanindravarman II). Nếu đền Bayon ở trung tâm kinh thành là trục đứng của vương quyền Phật giáo thì Ta Prohm và Preah Khan là hai cánh tay hiếu đạo và từ bi nâng đỡ toàn bộ đời sống học thuật của vương quốc.

Tại điện thờ trung tâm của Rajavihara, pho tượng chủ nguyên thủy được nhà vua cho tạc theo dung mạo của chính mẫu hậu mình trong thần thái của Đức Phật Mẫu Bát Nhã Ba La Mật Đa (Prajnaparamita, vị Bồ Tát hiện thân cho Trí tuệ Toàn giác, được kinh điển Đại thừa tôn xưng là Mẹ của mười phương chư Phật). Vây quanh điện thờ chính là một đền phụ tôn vinh quốc sư Jayamangalartha (bậc thầy tâm linh của nhà vua) cùng 260 pho tượng chư Phật, Bồ Tát và hộ pháp quy tụ từ khắp các châu quận.

Theo giáo nghĩa

Trong cấu trúc tam tôn đặc trưng của Phật giáo Đại thừa thời Angkor dưới triều Jayavarman VII, Đức Phật Thích Ca ngồi dưới tán rắn thần Mucalinda ngự ở ngôi trung tâm giác ngộ, Bồ Tát Quán Tự Tại Lokesvara đứng bên phải biểu trưng cho Đại bi phương tiện (tôn thờ tại Preah Khan gắn với người cha), còn Bát Nhã Ba La Mật Đa đứng bên trái biểu trưng cho Đại trí giải thoát (tôn thờ tại Ta Prohm gắn với người mẹ). Việc nhà vua hóa thân mẹ ruột thành Đức Phật Mẫu Trí Tuệ cho thấy sự dung hợp sâu sắc giữa đạo hiếu phương Đông và triết lý Bát Nhã: lòng thương của người mẹ sinh thành được nâng lên thành cội nguồn trí tuệ nuôi dưỡng sự giác ngộ cho muôn loài.

Theo sử liệu

Tấm văn bia chữ Phạn K.273 dựng ngay tại Ta Prohm năm 1186 (hiện được bảo quản cẩn mật để phục vụ nghiên cứu cổ tự học Khmer) là một trong những nguồn tư liệu kinh tế và xã hội chi tiết nhất của Đông Nam Á thời trung đại. Bia chép rõ để vận hành đại tự viện Rajavihara, triều đình cắt cử 18 vị đại cao tăng, 2.740 viên chức, 2.202 người phụ tá (trong đó có 615 vũ nữ chuyên múa cúng dường trong các nghi lễ lớn), tổng cộng 12.640 người cư ngụ ngay trong phạm vi tường bao ngoại vi, cùng 79.365 nông dân tại 3.140 làng đóng góp lúa gạo và phẩm vật. Kho báu cúng dường tam bảo của tự viện được kiểm kê từng món gồm bộ đĩa vàng nặng hơn 500 kilôgam, 35 viên kim cương, 40.620 hạt ngọc trai, 4.540 viên đá quý, 876 tấm lụa Trung Hoa và 512 bộ giường lụa dùng cho chư tăng cùng giáo thọ sư.

Chỗ hay hiểu lầm

Có hai điều du khách thường hiểu chưa chuẩn khi tới thăm Ta Prohm. Thứ nhất, nhiều cẩm nang du lịch viết rằng Ta Prohm bị bỏ mặc hoàn toàn nguyên trạng trong rừng già từ lúc phát hiện đến nay. Thực tế, đầu thế kỷ 20 các nhà bảo tồn của Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (EFEO) đã chủ ý chọn Ta Prohm làm ngôi đền mẫu giữ lại vẻ giao hòa với thiên nhiên để người đời sau hình dung diện mạo Angkor khi mới phát lộ, nhưng họ vẫn phải phát quang cây bụi phá kết cấu, dọn lối đi và gia cố ngầm nhiều bức tường có nguy cơ đổ sập. Từ năm 2004, Cơ quan Khảo cổ Ấn Độ (ASI) phối hợp với APSARA tiếp tục trùng tu bài bản Gian Vũ Nữ, cổng gopura và hệ thống thoát nước. Thứ hai, những thân cây khổng lồ màu xám bạc có bạnh vè cao vút trên mái đền thường bị gọi nhầm là cây bông gòn hay cây đa thông thường, trong khi phần lớn những gốc cây đồ sộ nhất tại đây thuộc loài cây tung (tiếng Khmer gọi là spung, danh pháp khoa học Tetrameles nudiflora) mọc xen cùng một số gốc đa bóp cổ (Ficus gibbosa).

IITừ Đại Học Hoàng Gia Rajavihara Tới Biểu Tượng Rừng Ôm Đá Cổ

Lịch sử hơn tám trăm năm của Ta Prohm đi qua trọn vẹn các chặng chuyển biến tôn giáo của cố đô Angkor: khởi đầu là một đại học Phật giáo sầm uất bậc nhất châu Á thế kỷ 12, chịu đợt đục sửa hình tượng vào giữa thế kỷ 13, lắng dịu dưới tán rừng già suốt năm thế kỷ sau khi vương triều dời đô về phía nam, rồi trở thành hình mẫu kinh điển của triết lý bảo tồn di sản sống chung với hệ sinh thái rừng nhiệt đới.

  • 1186 (năm 1108 lịch Saka)Khánh thành đại tự viện Rajavihara và dựng bia K.273
    Vua Jayavarman VII cử hành đại lễ hiến cung ngôi tự viện cho Đức Phật Mẫu Bát Nhã Ba La Mật Đa để hồi hướng công đức cho thân mẫu, đồng thời ban cấp ruộng đất của 3.140 làng nuôi dưỡng tu viện và trung tâm giáo dục.
  • Cuối thế kỷ 12 tới đầu thế kỷ 13Mở rộng hành lang, Gian Vũ Nữ và trạm dừng chân hành hương
    Nhà vua cho xây nối thêm các dãy sân, hai Tàng kinh các, Gian Vũ Nữ ở phía đông và một Nhà Lửa (Dharmasala) bằng đá sa thạch nằm trong vòng thành ngoài để làm nơi nghỉ chân cho khách thập phương.
  • Giữa thế kỷ 13Đợt đục sửa tượng Phật dưới triều Jayavarman VIII
    Khi vương triều chuyển sang tôn sùng thần Shiva, phần lớn các bức chạm nổi Đức Phật ngồi thiền trên mặt tường và trán cửa ở Ta Prohm bị đục bỏ hoặc chạm sửa thành hình Linga và đạo sĩ Ấn Độ giáo, nhưng cấu trúc kiến trúc của tự viện vẫn được giữ nguyên.
  • Từ thế kỷ 15 tới thế kỷ 19Rừng nhiệt đới phủ trùm sau khi dời đô
    Sau khi triều đình Khmer dời trung tâm hành chính về vùng Chaktomuk và Oudong ở phía nam, chim chóc thả hạt cây tung và cây đa vào các khe đá sa thạch ẩm ướt, để những bộ rễ cổ thụ dần đan kín các mái vòm hành lang.
  • Đầu thế kỷ 20 và năm 1992Quyết định bảo tồn cảnh quan của EFEO và ghi danh UNESCO
    Các học giả Pháp thuộc EFEO chọn giữ lại hệ cây cổ thụ trên mái đền như một chứng tích sống động của rừng già Angkor. Năm 1992, Ta Prohm được UNESCO ghi danh Di sản Thế giới trong hồ sơ chung của quần thể Angkor.
  • Từ năm 2004 đến nayDự án trùng tu hợp tác Ấn Độ và Campuchia (ASI và APSARA)
    Cơ quan Khảo cổ Ấn Độ phối hợp cùng APSARA thực hiện gia cố móng đá, lắp sàn gỗ bảo vệ rễ cây khỏi bước chân người đi, phục dựng hoàn chỉnh Gian Vũ Nữ và chăm sóc sức khỏe từng cây cổ thụ để bảo vệ cả cây lẫn đền.
Theo sử liệu

Một chi tiết khảo cổ đặc sắc ngay trong lòng tháp trung tâm của Ta Prohm cho thấy vẻ huy hoàng nguyên thủy khác hẳn lớp đá thô mộc ngày nay: trên mặt tường đá phía trong buồng thờ chính vẫn còn dày đặc hàng trăm lỗ khoan nhỏ đều đặn. Các nhà khảo cổ xác định khi xưa toàn bộ vách đá bên trong chánh điện không để trần mà được ốp kín bằng các tấm đồng mạ vàng có nạm ngọc trai và đá quý chiếu lấp lánh dưới ánh đèn bơ, trùng khớp hoàn toàn với danh mục châu báu chép trên văn bia K.273.

IIIBố Cục Đền Phẳng Năm Vòng Thành Và Nghệ Thuật Cộng Sinh Đá Với Cây

Nếu Đền Angkor Wat hay Đền Bayon được dựng chồng tầng cao vút theo hình tượng núi vũ trụ Meru của một ngôi đền quốc gia thì Ta Prohm được quy hoạch theo bố cục đền phẳng (flat monastic plan) trải rộng trên mặt đất bằng để làm nơi cư trú, giảng kinh và hành lễ cho hàng nghìn tăng sĩ. Toàn bộ khu tự viện được bao bọc bởi bức tường đá ong ngoài cùng dài 1.000 mét chiều Đông Tây nhân 650 mét chiều Bắc Nam (rộng 65 hécta). Khoảng đất rộng mênh mông giữa vòng thành thứ năm và vòng thành thứ tư khi xưa vốn là khu phố thị gỗ ngói của hơn mười hai nghìn cư dân, nay đã trả lại cho rừng già xanh thẫm.

Cốt lõi kiến trúc bằng đá sa thạch nằm tập trung trong bốn vòng hành lang đồng tâm phía trong, thu nhỏ dần từ kích thước 110 mét nhân 100 mét vào tới sân trung tâm vuông vức mỗi cạnh chỉ còn 30 mét. Việc nối liền các vòng hành lang bằng những dãy phòng hẹp có mái vòm cuốn giả tạo nên một mạng lưới sân trong trầm mặc, xen kẽ ánh nắng lọt qua tán lá và bóng râm mát lạnh của đá dày.

Tháp cổng Gopura mặt người bốn phương

Bốn cổng ra vào trên bức tường đá ong ngoài cùng được thêm tháp tạc bốn gương mặt Bồ Tát Lokesvara mỉm cười nhìn bốn hướng giống phong cách Bayon, đón người hành hương từ con đường rừng phía tây và phía đông.

Gian Vũ Nữ (Hall of Dancers)

Tòa tiền sảnh đá sa thạch rộng lớn nằm trên trục chính phía đông trước khi bước vào khu nội điện, có các dãy trụ vuông chạm khắc hàng trăm tiên nữ Apsara và Devata uyển chuyển vừa được ASI và APSARA ghép phục nguyên công phu.

Nhà Lửa hành hương (Dharmasala)

Công trình đá hình chữ nhật có tường dày và cửa sổ con tiện nằm về phía bắc trục đường vào phía đông, là một trong 121 trạm nghỉ chân có giữ lửa thiêng mà vua Jayavarman VII cho dựng dọc các tuyến đường hành hương toàn quốc.

Quần thể 39 tháp đá Prasat và sân trong

Các vòng hành lang thứ nhất, thứ hai và thứ ba quây quanh hàng chục ngọn tháp nhọn chạm hình cánh sen, nơi đặt tượng Bát Nhã Ba La Mật Đa, quốc sư Jayamangalartha và các bậc tổ tiên hoàng tộc.

Buồng Vang Âm (Tháp Gõ Ngực)

Một ngọn tháp hẹp có cấu trúc âm học đặc biệt gần sân trung tâm: khi đứng áp lưng vào vách đá và vỗ nhẹ bàn tay lên lồng ngực, tiếng trầm vang dội khắp lòng tháp nhưng nếu vỗ tay thông thường hoặc đập vào tường thì âm thanh lại tắt lịm.

Hệ rễ cây tung và đa bóp cổ trên mái hành lang

Những gốc cây tung (Tetrameles nudiflora) cao tới bốn mươi mét buông bộ rễ bạc ôm dọc sườn hành lang Đông và Nam, tạo thành thế nương tựa tự nhiên: đá nâng cây đứng vững trước gió mùa, còn rễ cây giữ các khối đá vòm chưa sụp xuống.

Số đo tổng hợp từ khảo cứu của Maurice Glaize (EFEO), văn bia K.273 do George Coedès dịch và báo cáo bảo tồn của ASI cùng APSARA. Nguồn: Hồ sơ UNESCO số 668, bản dịch bia K.273 của George Coedès (BEFEO, 1906) và Maurice Glaize..
Hạng mụcThông số khảo cổGhi chú và nguồn đối chiếu
Niên đại khánh thànhNăm 1186 (1108 lịch Saka)Ghi chính xác trên văn bia chữ Phạn K.273 tại di tích
Vòng thành đá ong ngoài cùng1.000 m nhân 650 m (65 hécta)Maurice Glaize và hồ sơ UNESCO số 668
Vòng hành lang thứ tư110 m nhân 100 mBao bọc khu nội tự bằng đá sa thạch và hào nước nội bộ
Sân điện thờ trung tâm30 m nhân 30 mNơi đặt tháp chính thờ Phật Mẫu Bát Nhã Ba La Mật Đa
Tổng số ngọn tháp đá39 tháp prasatPhân bố qua các sân đồng tâm và dãy hành lang chữ thập
Nhân lực ghi trên văn bia K.27312.640 người nội tự, 79.365 dân làngGồm 18 cao tăng, 2.740 chức sắc và 615 vũ nữ nghi lễ

Dạo qua các khung cửa hẹp ở dãy hành lang phía nam, người tinh ý sẽ bắt gặp bức chạm nổi thường được gọi vui là hình loài khủng long có gai lưng trên một trụ cửa đá, thực chất là hình một con tê giác hay lợn rừng đứng giữa nền lá sen cách điệu trong vòng tròn hoa văn Khmer thế kỷ 12. Vẻ đẹp chân thực nhất của Ta Prohm nằm ở những bức phù điêu Devata ẩn mình ngay dưới kẽ rễ cây cổ thụ: một gương mặt thiếu nữ Khmer đội mũ miện ba chóp bằng đá sa thạch hồng nhạt lấp ló giữa vòng vây rễ cây như một khuôn hình vượt thời gian.

IVThế Đất Và Hướng

Cần nêu rõ ngay từ đầu: các bậc quốc sư và kiến trúc sư Khmer năm 1186 thiết lập tự viện Rajavihara theo đồ hình Mandala của Phật giáo Đại thừa và quy luật vận hành mặt trời trong truyền thống Ấn Độ hóa cổ đại, hoàn toàn không áp dụng phong thủy Bát trạch hay Huyền không của Á Đông. Toàn bộ trục chính của Ta Prohm mở thẳng về hướng Đông đón ánh bình minh giác ngộ, mặc dù ngày nay phần đông du khách thường đi vào từ cổng Tây cho thuận đường xe chạy trên Vòng Nhỏ Angkor. Phần đọc thế đất dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép hình thế cổ truyền của thư viện.

Thế đất và hướng

Xét trên địa cuộc toàn vùng tại tọa độ 13,4350 độ vĩ Bắc, 103,8892 độ kinh Đông, đền Ta Prohm tọa lạc trên dải đồng bằng bằng phẳng phía đông kinh thành Angkor Thom, hưởng trọn mạch đất thoai thoải trườn từ dãy núi thiêng Phnom Kulen ở phía Đông Bắc xuống lòng hồ Tonle Sap ở phía Nam. Về thủy pháp vĩ mô, ngôi tự viện nằm ở vị trí vô cùng đắc địa giữa hai đại công trình chứa nước thời cổ: sát góc đông bắc là hồ lớn Đông Baray (Yashodharatataka) và chếch ngay phía đông nam chừng một cây số là hồ tắm hoàng gia Srah Srang rộng 700 mét nhân 350 mét luôn đầy ắp nước quanh năm, cùng dòng sông Siem Reap uốn lượn bên sườn tây. Thế đất có sông chầu bên hông và hồ lớn tụ thủy phía trước giúp mạch ngầm quanh khu đền luôn ẩm mát, tạo nên vi khí hậu nuôi sống những đại thụ bốn mươi mét suốt nhiều thế kỷ.

Xét riêng nội cục, tự viện tọa Tây hướng Đông trên một khu đất vuông vức có năm lớp tường rào và hào nước bao bọc đồng tâm. Trong phép hình thế phương Đông, bố cục đền phẳng trải rộng không dựng núi đá dốc đứng mà quây bằng năm vòng thành khép kín tạo nên thế tàng phong tụ khí hiền hòa, rất hợp với tính chất của một đạo tràng tu học, y dược và nuôi dưỡng tâm từ của người mẹ thay vì phô trương uy quyền chinh phạt. Ngay cả sự hiện diện của hàng chục gốc cổ thụ vươn tán che rợp bầu trời trên các sân đá, nếu nhìn dưới góc độ sinh thái tâm linh, cũng tạo thành một mái vòm Mộc khí sống động điều hòa sức nóng khắc nghiệt của mùa khô Campuchia cho không gian thiền định bên dưới.

VHương Khói Đạo Hiếu Và Dấu Chân Hành Hương Hôm Nay

Dù không còn hàng nghìn tăng sĩ nội trú như thời bia K.273 ghi chép, Ta Prohm ngày nay vẫn là không gian tâm linh sống động của cư dân các làng cổ quanh vùng Siem Reap. Tại gian thờ nhỏ gần trung tâm và trước các pho tượng Phật còn lại, người dân Khmer vẫn đều đặn dâng hoa sen trắng, thắp nhang thơm và xin dây chỉ đỏ cầu bình an từ các vị cao niên giữ đền trong những ngày rằm và mồng một theo lịch Khmer.

Thời điểm cụ thể dịch chuyển nhẹ từng năm theo âm dương lịch cổ truyền Khmer. Nguồn: Cơ quan quốc gia APSARA và hồ sơ Di sản văn hóa phi vật thể Campuchia..
Thời điểmHệ lịchTên lễ tiếtÝ nghĩa và sinh hoạt tâm linh gắn với Ta Prohm
Giữa tháng 4 hằng năm (thường từ 13 tới 16 tháng 4)Lịch KhmerTết cổ truyền Chol Chnam ThmeyCác gia đình vùng Siem Reap mặc lễ phục truyền thống vào các đền cổ trong quần thể Angkor dâng hương hoa, cầu chúc sức khỏe cha mẹ và cầu mưa thuận gió hòa cho vụ mùa mới.
Rằm tháng 6 âm lịch Khmer (khoảng tháng 5)Lịch KhmerĐại lễ Phật Đản Visak BocheaTưởng niệm ba sự kiện Đản sinh, Thành đạo và Nhập Niết Bàn của Đức Phật, chư tăng Phật giáo Nam tông và cư sĩ tụng kinh cầu an tại khu di sản.
Tháng 9 tới tháng 10 (15 ngày cuối tháng 10 lịch Khmer)Lịch KhmerLễ Báo hiếu Pchum BenKỳ lễ tưởng nhớ cha mẹ và tổ tiên sâu sắc nhất của người Khmer, mang ý nghĩa đồng điệu đặc biệt với tâm nguyện vua Jayavarman VII dựng đền Ta Prohm báo hiếu mẫu thân năm 1186.
Cuối tháng 1 tới tháng 2 âm lịch KhmerLịch KhmerLễ cầu an làng cổ (Meak Bochea và lễ cầu phúc đầu xuân)Cư dân các làng trong vùng đệm Angkor tổ chức lễ cúng thần bảo hộ đất đai (Neak Ta) và tụng kinh cầu bình an quanh các ngôi cổ tự.

Với các đoàn Phật tử và du khách Việt Nam hành hương về vùng đất Angkor, Ta Prohm mang lại một xúc cảm rất riêng khi đặt cạnh Đền Angkor Wat và Đền Preah Khan. Câu chuyện một vị minh quân đem hết tâm lực dựng chùa dâng mẹ trong hình tướng Đức Phật Mẫu Bát Nhã gần gũi tự nhiên với truyền thống Vu Lan báo hiếu và tín ngưỡng thờ Mẫu từ bi của người Việt, khiến bước chân qua những vòm đá phủ rễ cây thêm phần lắng đọng.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Vòng tham quan Nhỏ phía đông Angkor Thom, xã Kouk Chak, thành phố Siem Reap, tỉnh Siem Reap, Campuchia (ប្រាសាទតាព្រហ្ម, ក្រុងសៀមរាប)
Đường tới
Đền Ta Prohm nằm trên tuyến Vòng Nhỏ (Small Circuit) của công viên khảo cổ Angkor, cách Cổng Chiến Thắng của kinh thành Angkor Thom khoảng 2 km về phía đông và cách trung tâm thành phố Siem Reap khoảng 10 km về phía đông bắc. Xe tuk-tuk hoặc xe đạp thường thả khách ở cổng Tây để đi bộ xuyên suốt trục đền dài chừng một cây số sang cổng Đông gần hồ Srah Srang.
Toạ độ
13.435, 103.8892
Khi tới nơi

Đền Ta Prohm thuộc khu vực quản lý nghiêm ngặt của Cơ quan quốc gia APSARA, quý vị tới chiêm bái cần mặc áo có tay che kín vai và quần hoặc váy dài qua đầu gối. Do nhiều bộ rễ cổ thụ và mái vòm đá đang được nâng đỡ bằng hệ dầm thép bảo tồn, quý vị hãy đi đúng trên lối ván gỗ đã lát sẵn, tuyệt đối không dẫm chân lên rễ cây tung, không ngồi lên các bệ đá chạm khắc và không chui qua những ô cửa đã chăng dây cảnh báo. Khoảnh khắc tĩnh lặng và đẹp nhất để cảm nhận tiếng chim rừng cùng ánh nắng xiên qua lớp rễ bạc là vào sáng sớm hoặc chiều muộn.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Ta Prohm, quần thể Angkor

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Đền Ta Prohm thờ ai và tên gốc của đền là gì

Tên gốc bằng tiếng Phạn của đền là Rajavihara (nghĩa là Vương Tự, Tu viện của nhà Vua). Đền được vua Jayavarman VII khánh thành năm 1186 theo Phật giáo Đại thừa để tôn thờ Đức Phật Mẫu Bát Nhã Ba La Mật Đa (Prajnaparamita, hiện thân của Trí tuệ Toàn giác) tạc theo dung mạo hoàng thái hậu Jayarajachudamani nhằm báo hiếu người mẹ đã sinh thành ra nhà vua.

Những cây cổ thụ khổng lồ mọc trùm lên mái đền Ta Prohm là cây gì

Phần lớn những thân cây khổng lồ cao vút có vỏ trơn màu xám bạc và bộ rễ bạnh vè chảy tràn trên mái hành lang Ta Prohm là cây tung (tiếng Khmer gọi là spung, tên khoa học Tetrameles nudiflora), mọc xen kẽ với một số gốc cây đa bóp cổ (Ficus gibbosa) có rễ con đan chằng chịt quanh các kẽ đá sa thạch.

Có đúng đền Ta Prohm hoàn toàn chưa từng được trùng tu không

Không hoàn toàn như vậy. Đầu thế kỷ 20, Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (EFEO) chủ ý giữ lại các gốc cổ thụ ở Ta Prohm để tái hiện khung cảnh Angkor giữa rừng già, nhưng vẫn phải dọn cây bụi và chống đỡ các mảng tường nghiêng. Từ năm 2004 đến nay, Cơ quan Khảo cổ Ấn Độ (ASI) phối hợp với APSARA đã trùng tu bài bản Gian Vũ Nữ, các cổng tháp, lắp sàn gỗ bảo vệ rễ cây và kiểm soát độ an toàn của từng cây lớn.

Văn bia cổ ở đền Ta Prohm ghi lại những thông tin gì

Văn bia chữ Phạn K.273 khắc năm 1186 cho biết tự viện Rajavihara khi xưa là một đại học và trung tâm tôn giáo khổng lồ với 18 vị đại cao tăng, 2.740 chức sắc, 2.202 phụ tá (gồm 615 vũ nữ), tổng cộng 12.640 cư dân sống trong vòng thành ngoài và được 79.365 người dân tại 3.140 làng chu cấp lương thực.

Đền Ta Prohm có mối liên hệ thế nào với đền Preah Khan

Ta Prohm và Preah Khan là cặp đại tự viện song sinh thể hiện trọn vẹn đạo hiếu của vua Jayavarman VII tại Angkor: Ta Prohm dựng năm 1186 ở phía đông kinh thành để dâng lên mẫu hậu trong hóa thân Phật Mẫu Trí Tuệ Bát Nhã, còn Preah Khan dựng năm 1191 ở phía đông bắc kinh thành để dâng lên phụ vương trong hóa thân Bồ Tát Từ Bi Lokesvara.

›Đọc Tiếp