VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Tu viện Debre Bizen

Debre Bizen Monastery, Debre Bizan, Dabra Bizan, ደብረ ቢዘን

Tu viện của Giáo hội Chính Thống Tewahedo Eritrea trên đỉnh núi Bizen cao 2.450 mét, lập năm 1361, nơi tu sĩ sống bằng ruộng và nước mưa, giữ hơn một nghìn bản chép tay.

Năm lập
1361
do Abune Filipos, theo shabait và hadgi
Độ cao
2.450 m
cao hơn thị trấn Nefasit khoảng 825 m
Bản chép tay
Hơn 1.000 bản
tiếng Ge'ez, có Kinh Thánh thế kỷ 14

Con đường từ Asmara xuống Massawa quanh co qua hàng chục khúc cua tay áo rồi tới thị trấn Nefasit. Từ đó không còn đường xe. Quý vị theo một lối mòn đá dốc ngược lên núi, khoảng bảy cây số, đi mất từ một tiếng rưỡi tới ba tiếng tùy sức. Trên đỉnh, những ngôi nhà đá hoa cương hồng bám vào các tảng đá nhẵn lớn, và nếu trời quang, phía đông xa là một vệt xanh của Biển Đỏ.

Đó là Debre Bizen, tu viện được biết tới nhiều nhất của Giáo hội Chính Thống Tewahedo Eritrea. Eritrea có hai cộng đồng tôn giáo lớn là Kitô giáo và Hồi giáo, và trong Kitô giáo thì Giáo hội Tewahedo là giáo hội lâu đời và đông nhất. Thư viện chọn Debre Bizen làm nơi đại diện duy nhất của Eritrea vì đời tu trên núi là xương sống của giáo hội ấy, và ở đây nếp tu vẫn được giữ gần như nguyên vẹn sau hơn sáu trăm năm.

ITên Gọi, Giáo Hội Tewahedo Và Vị Sáng Lập

Trong tiếng Ge'ez, ngôn ngữ phụng vụ cổ của vùng cao nguyên Eritrea và Ethiopia, debre nghĩa là núi, và cũng là chữ đứng đầu tên rất nhiều tu viện, vì tu viện xứ này hầu như bao giờ cũng ở trên núi. Bizen là tên ngọn núi. Debre Bizen vì thế là Núi Bizen, và cũng là Tu viện Bizen. Sách cũ còn ghi Debre Bizan, Dabra Bizan. Trang shabait của Eritrea gọi nơi này là thành phố trong mây.

Chữ Abune đứng trước tên vị sáng lập không phải tên riêng. Đó là tiếng tôn xưng, nghĩa là cha chúng ta, dành cho các bậc thánh tu sĩ và giám mục của Giáo hội Tewahedo. Vị lập tu viện là Abune Filipos, tức Thánh Philípphê theo cách gọi của người Công Giáo Việt Nam, nhưng đây là một vị thánh tu sĩ của Eritrea thế kỷ 14, không phải vị tông đồ cùng tên trong Phúc Âm.

Theo giáo nghĩa

Tewahedo là một chữ Ge'ez nghĩa là được làm thành một. Chữ ấy nói về niềm tin của giáo hội này rằng nơi Đức Kitô, thần tính và nhân tính hợp thành một bản tính duy nhất, không lẫn lộn, không tách rời. Vì cách diễn đạt ấy, Giáo hội Tewahedo thuộc nhánh Chính Thống Cổ Đông Phương, cùng với các giáo hội Copt, Armenia và Syria, và không hiệp thông với nhánh Chính Thống Byzantine của Hy Lạp hay Nga. Thư viện xếp chung vào trang Chính Thống theo lệ của mình và ghi rõ chỗ khác ấy.

Đời tu là cốt lõi của giáo hội này. Tu sĩ sống chung, cầu nguyện theo giờ kinh, giữ chay rất nhiều ngày trong năm, làm ruộng nuôi thân và chép sách. Phụng vụ cử hành bằng tiếng Ge'ez, và mỗi nhà thờ đều có tabot, một tấm bảng thánh tượng trưng cho Hòm Bia Giao Ước, đặt ở gian trong cùng mà chỉ linh mục được vào.

Theo sử liệu

Trang shabait của Bộ Thông tin Eritrea và trang hadgi cùng ghi tu viện do Abune Filipos lập năm 1361. Cả hai cũng ghi ông là học trò của một vị tên Abune Tatyos. Thư viện chưa mở được nguồn nào nói thêm về vị thầy này.

Tới khoảng năm 1400, tu viện theo luật dòng của Thánh Ewostatewos, một dòng nổi tiếng vì giữ cả ngày thứ Bảy lẫn Chủ nhật làm ngày thánh.

Về số tu sĩ, eritrea.be ghi khoảng 60 người. Hadgi ghi hơn 100 ở một chỗ và khoảng 60 ở chỗ khác trong cùng trang. Thư viện chép cả hai.

Chỗ hay hiểu lầm

Lệ phụ nữ không được lên núi dễ bị hiểu là sự coi nhẹ nữ giới. Các nguồn ghi một lý do khác: vị sáng lập muốn nơi tu không có gì làm tu sĩ xao lãng, và đặt lệ ấy cho mọi giống cái, kể cả súc vật thồ, nên tu viện chỉ dùng la và lừa đực. Hadgi ghi thêm một chi tiết là chim thì được miễn. Lệ kiểu này không riêng Debre Bizen. Nhiều tu viện nam của Kitô giáo Đông phương cũng giữ, nổi tiếng nhất là núi Athos ở Hy Lạp. Thư viện ghi như một lệ tu, không khen chê.

Một chỗ lẫn khác là con số 825 mét. Có trang ghi núi cao 825 mét khiến người đọc tưởng đây là núi thấp. Đó là độ chênh giữa đỉnh núi và thị trấn Nefasit dưới chân, tương đương 2.700 foot theo eritrea.be. Độ cao so với mặt biển là 2.450 mét.

IIHơn Sáu Trăm Năm Trên Đỉnh Núi Bizen

Lịch sử Debre Bizen trong các nguồn thư viện mở được là lịch sử của những con người và những cuốn sách, ít niên đại. Ngoài năm lập, các mốc khác chỉ được ghi ước chừng. Thư viện giữ nguyên độ mơ hồ ấy, không làm tròn thành năm cụ thể.

  • 1361Abune Filipos lập tu viện
    Abune Filipos, học trò của Abune Tatyos, lên đỉnh núi Bizen lập tu viện. Ngôi nhà thờ cổ nhất còn lại được shabait ghi là có từ thời ông.
  • Thế kỷ 14Những bản chép tay đầu tiên
    Trong kho sách có một cuốn Kinh Thánh thế kỷ 14 và các bản da thuộc có minh họa cùng thời, tức từ chính thế hệ lập tu viện.
  • Trước năm 1500Lịch Hasabe Bizen
    Tu sĩ Gebremeskel soạn một bộ lịch riêng của tu viện gọi là Hasabe Bizen, phép tính của Bizen, gồm 35 cột, dựa trên lịch Do Thái và lịch Kitô giáo. Shabait ghi ông tin ngày tận thế sẽ tới vào năm 1500.
  • Khoảng thế kỷ 16Viện phụ Abune Yohannes
    Shabait nhắc một vị viện phụ sống khoảng năm trăm năm trước là Abune Yohannes, an táng tại Adey Kbetsni. Nguồn không ghi năm.
  • Thời gần đâyNhà thờ mới và bảo tàng
    Tu viện dựng thêm một nhà thờ mới có bảo tàng kèm để giữ và bày các bản chép tay, lắp pin mặt trời lấy điện. Nguồn không ghi năm xây.
Theo sử liệu

Mấy chỗ nguồn vênh nên biết. Khoảng cách từ Asmara tới Nefasit là 25 km theo shabait, khoảng 24 km theo eritrea.be. Thời gian leo là 2 giờ theo shabait, từ 1,5 tới 3 giờ cho quãng 7 km theo eritrea.be và hadgi. Số nhà thờ: shabait tả một nhà thờ cũ và một nhà thờ mới, hadgi ghi ba nhà thờ.

Về vùng hành chính, thư viện ghi Bắc Biển Đỏ, khớp với mapcarta là trang ghi tu viện thuộc Ghinda, vùng Bắc Biển Đỏ. Trek.zone thì ghi vùng Debub, còn eritrea.be xếp theo tên tỉnh cũ là Hamasien. Quý vị cần dùng địa danh hành chính cho việc gì hệ trọng thì nên tra lại.

IIINhà Đá Hoa Cương Hồng Và Kho Sách Viết Trên Da

Debre Bizen không có công trình nào đồ sộ. Shabait tả nó là một cụm nhà bằng đá hoa cương hồng dựng lọt vào sườn những tảng đá nhẵn lớn trên đỉnh. Ngôi cổ nhất là nhà thờ từ thời Abune Filipos, trên nóc có một cây thánh giá Chính Thống chạm công phu và một vòng chuông. Tường nhà thờ sơn vàng, cửa và cánh chớp bằng gỗ có trang trí. Chung quanh là nhà ở của tu sĩ, lớp học, kho và nhà phụ cho việc đồng áng theo hadgi.

Trên núi không có suối. Tu sĩ sống bằng nước mưa hứng từ máng mái nhà, và bằng những thửa ruộng tự cày quanh tu viện. Shabait ghi trong bếp có những chiếc nồi đồng lớn tới mức nấu được ba con bò một lúc, dùng cho ngày lễ khi người hành hương kéo lên. Tu sĩ không kể thứ bậc đều mặc như nhau và ăn như nhau.

Nhà thờ cổ

Có từ thời vị sáng lập theo shabait, tường sơn vàng, cửa gỗ trang trí, nóc có thánh giá và vòng chuông.

Nhà thờ mới và bảo tàng

Dựng về sau, có bảo tàng kèm, nơi bày các bản chép tay và đồ thờ cổ của tu viện.

Kho bản chép tay

Hơn 1.000 bản viết tay tiếng Ge'ez bằng mực đỏ và đen, có hình minh họa, bọc da, vải và gỗ. Có Kinh Thánh thế kỷ 14, sách Hê-nóc và truyện Abune Libanos.

Thánh giá trên lối lên

Cây thánh giá lớn bên đường dốc đánh dấu chỗ phụ nữ dừng lại theo lệ của tu viện.

Bếp và ruộng

Bếp chung với những nồi đồng rất lớn, ruộng quanh tu viện do tu sĩ tự cày cấy, nước hứng từ mái.

Sách Hê-nóc là một sách cổ mà Giáo hội Tewahedo nhận vào bộ Kinh Thánh của mình, trong khi phần lớn các giáo hội Kitô khác không nhận. Bản đầy đủ của sách ấy chỉ còn giữ được bằng tiếng Ge'ez. Nguồn: shabait.com, eritrea.be, hadgi.com..
Hạng mụcSố liệuNguồn
Độ cao đỉnh núi2.450 m so với mặt biểnshabait, hadgi
Độ chênh so với NefasitKhoảng 825 m, tức 2.700 footeritrea.be, hadgi
Quãng leo bộKhoảng 7 kmeritrea.be, hadgi
Số bản chép tayKhoảng 1.000 theo shabait, hơn 1.000 theo eritrea.be và hadgiba nguồn
Số tu sĩKhoảng 60, có chỗ ghi hơn 100eritrea.be, hadgi
Tầm nhìn ra Biển ĐỏKhoảng 80 km, ngày quanghadgi

Về đời tu trên đỉnh núi và việc giữ sách, quý vị có thể đối chiếu với Các tu viện Meteora ở Hy Lạp và Tu viện Thánh Catarina, núi Sinai, hai nơi thuộc nhánh Byzantine. Cùng nhánh Cổ Đông Phương với Debre Bizen thì có Các nhà thờ đục đá Lalibela của Giáo hội Tewahedo Ethiopia và Nhà thờ chính tòa Etchmiadzin của Giáo hội Armenia.

IVThế Đất Và Hướng

Abune Filipos lên núi để lánh đời mà cầu nguyện, không để tìm một cuộc đất đẹp. Giáo hội Tewahedo, như các giáo hội Kitô khác, không dạy phong thủy. Quy tắc về hướng của nhà thờ Chính Thống là quy tắc phụng vụ: gian thánh nơi đặt tabot nằm ở phía đông, người vào từ phía tây và quay mặt về hướng mặt trời mọc khi cầu nguyện. Thư viện chưa có bản đo hướng của hai nhà thờ trên núi Bizen nên không ghi độ. Còn những dòng dưới đây là một việc khác hẳn: thư viện mượn con mắt xem đất cổ truyền của người Việt để nhìn ngọn núi này, cho bạn đọc quen lối ấy có chỗ so sánh. Không nguồn nào của tu viện chép như vậy, và các tu sĩ không nghĩ về núi của mình theo cách ấy.

Thế đất và hướng

Thế rõ nhất là cao sơn vọng hải, núi cao trông ra biển. Đỉnh Bizen ở độ cao 2.450 mét, đứng trên mép cao nguyên, nơi đất đổ dốc một mạch xuống đồng bằng ven Biển Đỏ. Ngày quang, hadgi ghi từ đây thấy được biển cách khoảng 80 cây số, thấy cả quần đảo Dahlak, bán đảo Buri và vịnh Zula. Sách xem đất của người Việt quý thế tọa sơn hướng thủy, lưng tựa núi, mặt trông nước. Ở đây núi là cả khối cao nguyên phía tây, nước là cả một vùng biển phía đông, tầm vóc lớn hơn mọi thí dụ trong sách.

Điều thứ hai là mây. Hơi ẩm từ biển gặp sườn dốc thì bốc lên thành mây, phủ đỉnh núi nhiều ngày trong năm. Người Việt xưa coi núi có mây ấp là núi có khí, và những ngôi chùa trên Yên Tử hay Tam Đảo cũng nằm trong mây như thế. Hai nơi thờ khác đạo, khác châu lục, cùng chọn chỗ mà người đứng đó thấy mình ở trên cõi thường.

Điều thứ ba lại là chỗ thiếu: đỉnh núi không có suối. Phép cổ nói có núi phải có nước thì khí mới dừng, đất cao mà khô thì khó ở lâu. Tu sĩ Bizen giải bài toán ấy bằng máng hứng nước mưa trên mái. Đọc theo lối Việt, đó là lấy nước trời bù cho đất, và suốt hơn sáu trăm năm cách ấy đã đủ.

Cuối cùng là con đường. Bảy cây số dốc đá, một cây thánh giá làm mốc giữa đường. Lối Việt coi đường dẫn dài và khó là thứ gạn lòng người trước khi tới nơi thờ, như những bậc đá lên chùa núi. Thư viện ghi các điểm giống nhau ấy để đối chiếu, không nói bên nào hơn, cũng không nói vị sáng lập đã tính tới.

VLễ Thánh Sáng Lập Và Các Lễ Theo Lịch Ge'ez

Giáo hội Tewahedo theo lịch Ge'ez, lịch phụng vụ chung của Eritrea và Ethiopia, gồm mười hai tháng mỗi tháng ba mươi ngày và một tháng ngắn cuối năm. Năm mới của lịch này rơi vào tháng 9 dương lịch. Lễ lớn nhất của Debre Bizen là lễ kính vị sáng lập, ngày 11 tháng 8 dương lịch theo shabait. Thư viện tự quy đổi thì ngày ấy ứng với khoảng mồng 5 tháng Nehase của lịch Ge'ez, nguồn đã mở không ghi ngày theo lịch này. Hôm ấy người hành hương leo núi lên tu viện, và những chiếc nồi đồng lớn trong bếp được dùng tới. Bảng chỉ ghi ngày, không ghi giờ.

Chỉ lễ ngày 11 tháng 8 là được nguồn ghi riêng cho Debre Bizen. Các lễ còn lại là lịch chung của Giáo hội Tewahedo mà một tu viện đương nhiên giữ, ngày dương lịch ghi là thường rơi vào vì có năm lệch một ngày. Nguồn: shabait.com về lễ 11 tháng 8, lịch phụng vụ chung của Giáo hội Chính Thống Tewahedo..
LễTheo lịch nàoNgàyNội dung
Lễ Abune Filipos, thánh sáng lậpLịch phụng vụ Tewahedo, lịch Ge'ez11 tháng 8 dương lịch theo shabaitLễ chính của tu viện. Tín hữu nam hành hương leo bộ từ Nefasit lên đỉnh núi dự lễ.
Năm mới, lễ Thánh GioanLịch Ge'ez1 tháng Meskerem, thường rơi vào 11 tháng 9 dương lịchNgày đầu năm của lịch Ge'ez, ở Eritrea gọi theo tên Thánh Gioan Tẩy Giả.
Meskel, lễ tìm thấy Thánh GiáLịch Ge'ez17 tháng Meskerem, thường rơi vào 27 tháng 9 dương lịchLễ lớn chung của Giáo hội Tewahedo, đốt lửa mừng Thánh Giá.
Lễ Giáng SinhLịch Ge'ez29 tháng Tahsas, thường rơi vào 7 tháng 1 dương lịchMừng Chúa giáng sinh sau mùa chay dài.
Timket, lễ Hiển LinhLịch Ge'ez11 tháng Tir, thường rơi vào 19 tháng 1 dương lịchNhớ việc Chúa Giêsu chịu phép rửa, có nghi thức làm phép nước.
Fasika, lễ Phục SinhLịch Ge'ez, cách tính Phục Sinh của Giáo hộiMỗi năm một ngàyĐại lễ kết thúc mùa chay lớn năm mươi lăm ngày.

Có một chỗ nguồn vênh về tên lễ. Shabait, hadgi và phần lớn các trang ghi ngày 11 tháng 8 là lễ của tu viện gắn với vị sáng lập Abune Filipos. Trang eritrea.be lại gọi đó là lễ Abune Libanos, một vị thánh khác mà truyện đời được chép trong kho sách của tu viện. Thư viện theo đa số và ghi cách gọi kia ở đây. Thư viện cũng chưa tìm được nguồn nào về sinh hoạt của người Việt tại Debre Bizen nên không ghi phần kiều bào.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Đỉnh núi Bizen, phía trên thị trấn Nefasit, cách Asmara khoảng 25 km theo đường Asmara đi Massawa
Đường tới
Từ Asmara đi theo đường xuống Massawa khoảng 24 tới 25 km là tới thị trấn Nefasit. Từ Nefasit leo bộ khoảng 7 km đường mòn dốc lên đỉnh núi Bizen, không có đường xe.
Toạ độ
15.3333, 39.0833
Khi tới nơi

Lệ của Debre Bizen rất rõ và không có ngoại lệ: phụ nữ không lên núi, cây thánh giá lớn trên đường dốc là chỗ dừng. Theo eritrea.be, khách nam muốn lên phải có giấy giới thiệu của trụ sở Giáo hội Chính Thống Tewahedo ở Asmara. Trên núi, quý vị bỏ giày trước khi vào nhà thờ, không bước vào gian trong cùng, không tự ý chạm vào các bản chép tay. Tu viện chỉ có nước mưa, nên mang đủ nước uống cho cả lượt lên và xuống.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tu viện Debre Bizen

Contribute photos, information or video for Debre Bizen

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Tu viện Debre Bizen ở đâu

Trên đỉnh núi Bizen cao 2.450 mét, phía trên thị trấn Nefasit ở Eritrea, cách thủ đô Asmara khoảng 24 tới 25 km theo đường Asmara đi Massawa. Từ Nefasit phải leo bộ khoảng 7 km, mất từ một tiếng rưỡi tới ba tiếng tùy sức người đi.

Debre Bizen do ai lập và lập năm nào

Do Abune Filipos lập năm 1361 theo shabait và hadgi. Hai nguồn này ghi ông là học trò của Abune Tatyos. Abune là tiếng tôn xưng nghĩa là cha chúng ta, dành cho các thánh tu sĩ của Giáo hội Chính Thống Tewahedo, không phải tên riêng.

Vì sao phụ nữ không được lên tu viện Debre Bizen

Theo các nguồn, đó là lệ do chính vị sáng lập đặt ra từ thế kỷ 14 để tu sĩ không bị xao lãng. Lệ áp dụng cho mọi giống cái, kể cả súc vật thồ, nên tu viện chỉ dùng la và lừa đực. Một cây thánh giá lớn trên đường dốc đánh dấu chỗ phụ nữ dừng lại.

Debre Bizen thuộc đạo nào

Thuộc Giáo hội Chính Thống Tewahedo Eritrea, một giáo hội Kitô thuộc nhánh Chính Thống Cổ Đông Phương, cùng nhánh với các giáo hội Ethiopia, Copt và Armenia. Phụng vụ cử hành bằng tiếng Ge'ez. Nhánh này không hiệp thông với Chính Thống Byzantine của Hy Lạp hay Nga.

Tu viện Debre Bizen có gì quý

Kho hơn 1.000 bản chép tay cổ bằng tiếng Ge'ez, viết mực đỏ và đen trên da thuộc, có hình minh họa. Trong đó có một cuốn Kinh Thánh thế kỷ 14, sách Hê-nóc và truyện Abune Libanos. Tu viện còn giữ một bộ lịch riêng gọi là Hasabe Bizen do tu sĩ Gebremeskel soạn.

›Đọc Tiếp