VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Nam Hoa (Tổ đình Lục Tổ Huệ Năng), Thiều Quan

Nanhua Chansi, 南华禅寺, 南華禪寺, Tào Khê Bảo Lâm Tự, 曹溪宝林寺, Đông Độ Thiền Tông Chánh Mạch, Nanhua Temple Shaoguan

Ngôi tổ đình bên dòng suối Tào Khê dưới chân núi Tượng Sơn tỉnh Quảng Đông, nơi Lục Tổ Huệ Năng khai mở Thiền tông Đốn giáo suốt ba mươi bảy năm và để lại kim thân nhục thân bất hoại từ năm 713.

Khởi dựng
Năm 502 SCN
Trí Dược Tam Tạng lập tên Bảo Lâm Tự, đổi tên Nam Hoa năm 968
Tổ đình
Thiền tông Nam phương
nơi Lục Tổ Huệ Năng thuyết giảng từ năm 677 tới 713
Xếp hạng
Văn vật Trọng điểm đợt 5
Quốc vụ viện công nhận năm 2001, lưu giữ chân thân Lục Tổ

Rời thành phố Thiều Quan ở miền bắc tỉnh Quảng Đông xuôi về phía nam chừng hai mươi tư cây số tới trấn Mã Bá quận Khúc Giang, người lữ hành bắt gặp dòng suối Tào Khê trong mát uốn lượn qua chân ngọn núi Tượng Sơn phủ kín rừng cổ thụ xanh thẫm. Bước qua cổng tam quan sơn trắng khắc sáu chữ vàng Đông Độ Thiền Tông Chánh Mạch, hương gỗ bách già và bóng mát của chín gốc thủy tùng hơn năm trăm năm tuổi dẫn lối thẳng lên ngôi điện cổ lặng tờ ở hậu viện, nơi tôn trí chân thân bằng xương bằng thịt phủ sơn ta của bậc Tổ sư thứ sáu đã làm thay đổi toàn bộ lịch sử tư tưởng Phật giáo phương Đông.

Đó là Chùa Nam Hoa (Nam Hoa Thiền Tự, 南華禪寺, thuở xưa gọi là Bảo Lâm Tự), tọa lạc bên bờ suối Tào Khê, thành phố Thiều Quan, tỉnh Quảng Đông. Nếu chùa Thiếu Lâm trên núi Tung Sơn là nơi Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma gieo hạt giống đầu tiên, thì tổ đình Tào Khê Nam Hoa chính là nơi Lục Tổ Huệ Năng (638 tới 713) làm cho đóa hoa Phật giáo Thiền tông nở rộ thành năm nhà bảy phái khắp Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản và truyền thẳng dòng huyết mạch sang các thiền phái cổ của Việt Nam.

Chùa Nam Hoa (Tổ đình Lục Tổ Huệ Năng), Thiều Quan
Chùa Nam Hoa (Tổ đình Lục Tổ Huệ Năng), Thiều Quan. Ảnh: Emitchan, giấy phép Phạm vi công cộng, nguồn Wikimedia Commons.

ISuối Nước Tào Khê, Ba Mươi Bảy Năm Hoằng Pháp Của Lục Tổ Và Bộ Pháp Bảo Đàn Kinh

Trong lịch sử Phật giáo Hán truyền, hai chữ Tào Khê từ lâu đã vượt ra ngoài tên gọi một con suối ở vùng Lĩnh Nam để trở thành danh từ biểu trưng cho chính nguồn pháp nhũ thanh tịnh của Thiền tông (như câu Tào Khê nhất trích thủy, một giọt nước Tào Khê thấm khắp muôn phương). Chùa Nam Hoa là tổ đình tối cao của Nam tông Đốn giáo, nơi quy tụ tâm nguyện chiêm bái của mọi hệ phái Thiền tông Đông Á suốt hơn một nghìn ba trăm năm qua.

Bên cạnh việc thờ Tam Thế Phật tại Đại Hùng Bảo Điện theo quy chế tùng lâm Bắc truyền, tâm điểm thiêng liêng bậc nhất của Chùa Nam Hoa nằm ở Lục Tổ Điện phía sau tháp Linh Chiếu, nơi phụng thờ trực tiếp kim thân nhục thân bất hoại của Lục Tổ Đại Giám Huệ Năng ở ngôi chính giữa, hai bên tả hữu là nhục thân bất hoại của đại sư Hám Sơn Đức Thanh (1546 tới 1623, một trong Tứ đại cao tăng cuối thời Minh) và nhục thân của thiền sư Đan Điền.

Theo giáo nghĩa

Cuộc cách mạng tâm linh khởi phát từ núi rừng Tào Khê gắn liền với hình ảnh người tiều phu đốn củi mù chữ đất Lĩnh Nam là ngài Huệ Năng. Khác với lối tu tiệm tiến lau chùi tâm thức từng bước của phương Bắc, giáo pháp mà Lục Tổ Huệ Năng truyền dạy suốt ba mươi bảy năm tại Bảo Lâm Tự đi thẳng vào cốt tủy Đốn ngộ kiến tính: Phật tính thanh tịnh vốn sẵn đủ tròn đầy nơi mỗi con người bất kể sang hèn, nam nữ, người có chữ hay người quê mùa phương Nam, chỉ vì một niệm mê lầm mà thành chúng sinh, ngay nơi một niệm tỉnh thức nhận ra bản tâm thì tức khắc thấy tính thành Phật (Mê tức Phật chúng sinh, ngộ tức chúng sinh Phật).

Toàn bộ lời pháp thoại của ngài tại chùa Đại Phạn ở Thiều Châu và chùa Bảo Lâm ở Tào Khê được môn đệ Pháp Hải ghi chép lại thành bộ Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh (gọi tắt là Pháp Bảo Đàn Kinh). Trong toàn bộ kho tàng Đại Tạng Kinh chữ Hán, từ xưa chữ Kinh vốn chỉ dành riêng cho lời kim khẩu của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, còn tác phẩm của chư Tổ chỉ được gọi là Luận hoặc Ngữ lục. Duy nhất tác phẩm của Lục Tổ Huệ Năng tại Tào Khê được toàn thể Phật giáo Đông Á đồng tâm tôn xưng là Kinh, khẳng định tinh thần nhập thế Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác (Phật pháp ở ngay giữa cuộc đời, rời bỏ cuộc đời mà tìm giác ngộ thì chẳng khác nào đi tìm sừng thỏ).

Theo sử liệu

Theo bộ Tào Khê Đại Sư Biệt Truyện thời Đường và Cảnh Đức Truyền Đăng Lục thời Tống, cơ duyên khai lập tổ đình bắt đầu từ năm Thiên Giám nguyên niên đời Lương Vũ Đế (502 SCN). Khi ấy, vị cao tăng Thiên Trúc là Trí Dược Tam Tạng (Jnanabhadra) đi thuyền từ Ấn Độ cập bến Quảng Châu rồi ngược dòng Bắc Giang lên phương bắc. Khi qua cửa suối Tào Khê ở Khúc Giang, ngài vốc nước suối lên nếm thử thấy vị ngọt thanh và hương thơm hệt nguồn nước vùng Tây Thiên, nhìn lên ngọn núi phía trong thấy thế núi trùng điệp giống hệt núi Bảo Lâm ở Thiên Trúc, bèn khuyên quan sở tại tâu vua Lương Vũ Đế dựng chùa đặt tên là Bảo Lâm Tự (sắc ban biển ngạch năm 504). Trước lúc rời đi, Trí Dược Tam Tạng để lại lời huyền ký: Một trăm bảy mươi năm sau khi ta đi, sẽ có bậc Vô Tướng nhục thân Bồ Tát tới đây diễn hóa thượng thừa, người đắc đạo đông như cây rừng.

Đúng một trăm bảy mươi ba năm sau, vào mùa xuân năm Nghi Phượng thứ 2 đời Đường Cao Tông (677 SCN), sau khi nhận truyền y bát từ Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn ở Hoàng Mai, ẩn danh mười lăm năm giữa phường thợ săn ở Tứ Hội và ấn chứng câu chuyện chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động, mà là tâm các ông tự động rồi thọ giới Cụ túc tại chùa Pháp Tính (Quảng Châu), Lục Tổ Huệ Năng đã chính thức được thỉnh về trụ trì Bảo Lâm Tự bên suối Tào Khê. Suốt từ năm 677 cho tới năm Tiên Thiên thứ 2 đời Đường Huyền Tông (713 SCN), hàng nghìn học nhân từ khắp nam bắc kéo về Tào Khê cầu pháp, đào luyện nên bốn mươi ba bậc đắc pháp đại sư (tiêu biểu là Nam Nhạc Hoài Nhượng, Thanh Nguyên Hành Tư, Hà Trạch Thần Hội, Vĩnh Gia Huyền Giác), mở ra cục diện Nhất hoa khai ngũ diệp (gồm năm tông phái Quy Ngưỡng, Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn và Pháp Nhãn).

Chỗ hay hiểu lầm

Người nghiên cứu hành trạng Lục Tổ Huệ Năng cần phân biệt chính xác ba ngôi cổ tự khác nhau ở tỉnh Quảng Đông cùng gắn với cuộc đời ngài để tránh nhầm lẫn. Thứ nhất, quê hương nơi Lục Tổ sinh ra và cũng là nơi ngài trở về an nhiên thị tịch ngày mùng 3 tháng Tám năm 713 là Chùa Quốc Ân ở huyện Tân Hưng. Thứ hai, nơi ngài luận gió phướn, xuống tóc thọ giới và chôn tóc dưới tháp là Chùa Quang Hiếu (tức Pháp Tính Tự xưa) ở thành phố Quảng Châu. Còn Chùa Nam Hoa bên suối Tào Khê ở Thiều Quan là nơi ngài hoằng pháp 37 năm và là nơi các đệ tử rước nhục thân ngài từ Tân Hưng về phụng thờ từ mùa đông năm 713 tới tận ngày nay. Ngoài ra, danh xưng chùa cũng thay đổi qua ba triều đại: thời Lương và Đường gọi là Bảo Lâm Tự, thời Đường Trung Tông năm 705 từng đổi là Trung Hưng Tự rồi Pháp Tuyền Tự, và tới năm Khai Bảo nguyên niên thời Bắc Tống (968 SCN) vua Tống Thái Tổ mới sắc ban tên gọi chính thức là Nam Hoa Thiền Tự.

IIMười Lăm Thế Kỷ Từ Lời Sấm Trí Dược Tới Cuộc Đại Trùng Hưng Của Hòa Thượng Hư Vân

Trải qua mười lăm thế kỷ giữa sương gió vùng Lĩnh Nam, tổ đình Tào Khê nhiều lần hưng thịnh rực rỡ dưới ân sủng đế vương rồi lại đổ nát trong chiến loạn, nhưng mạch đèn tâm ấn và kim thân của Lục Tổ chưa một ngày gián đoạn nhờ sự xả thân gìn giữ của hai bậc đại sư kiệt xuất thời Minh và thời Cận đại là Hám Sơn Đức Thanh và Hư Vân lão hòa thượng.

  • 502 tới 504 SCNTrí Dược Tam Tạng khai sơn Bảo Lâm Tự
    Cao tăng Ấn Độ Trí Dược Tam Tạng nếm nước suối Tào Khê nhận ra đất thánh, lập chùa năm 502 và được vua Lương Vũ Đế ban biển ngạch Bảo Lâm Tự năm 504.
  • 677 tới 713Lục Tổ Huệ Năng trụ trì Tào Khê suốt 37 năm
    Từ năm 677, Lục Tổ mở tòa thuyết pháp tại Tào Khê. Năm 705, Võ Tắc Thiên và Đường Trung Tông vời ngài về kinh nhưng ngài cáo bệnh từ chối, triều đình bèn ban tặng Thiên Phật Cà Sa thêu kim tuyến, bát pha lê và chiếu thư tôn sùng.
  • 713 tới 815Tôn trí chân thân Lục Tổ và sắc phong Đại Giám Thiền Sư
    Mùa thu năm 713 Lục Tổ viên tịch tại Tân Hưng, tháng Mười một nhục thân được rước về nhập tháp tại Tào Khê. Năm Nguyên Hòa thứ 10 (815), Đường Hiến Tông sắc thụy Đại Giám Thiền Sư, dựng tháp Linh Chiếu, văn hào Liễu Tông Nguyên chấp bút soạn văn bia.
  • 968Tống Thái Tổ sắc ban tên Nam Hoa Thiền Tự
    Năm Khai Bảo nguyên niên (968) thời Bắc Tống, sau khi trùng tu ngôi già lam bị cháy cuối thời Đường Ngũ Đại, hoàng đế Tống Thái Tổ chính thức ban tên Nam Hoa Thiền Tự và tu tạo tháp bảo vệ chân thân Tổ.
  • 1600 tới 1608Đại sư Hám Sơn Đức Thanh trung hưng tổ đình thời Minh
    Khi bị lưu đày xuống Lĩnh Nam năm Vạn Lịch thứ 28 (1600), đại sư Hám Sơn Đức Thanh thấy chùa Nam Hoa suy vi đã dốc sức chỉnh đốn thanh quy, chuộc lại đất chùa, mở trường giảng thiền suốt tám năm. Khi viên tịch năm 1623, nhục thân bất hoại của ngài cũng được rước về thờ cạnh Lục Tổ.
  • 1934 tới 1944Lão hòa thượng Hư Vân tái thiết toàn bộ đại tùng lâm ở tuổi bách niên
    Năm 1934, ở tuổi 95, thiền sư Hư Vân (1840 tới 1959) nhận lời thỉnh về Tào Khê khi mái điện sập nát thành chuồng trâu ngựa. Suốt mười năm giữa bom đạn kháng chiến, ngài nắn lại dòng suối Tào Khê, dựng mới hàng chục tòa điện lớn tạo nên diện mạo uy nghiêm hiện nay.
  • 1983 và 2001Chùa Trọng điểm Toàn quốc và Văn vật Trọng điểm Quốc gia
    Chùa được xếp vào danh sách Chùa Phật giáo Trọng điểm Toàn quốc đợt 1 năm 1983 và được Quốc vụ viện Trung Quốc công nhận là Đơn vị Bảo hộ Văn vật Trọng điểm Toàn quốc đợt 5 vào tháng 6 năm 2001.
Theo sử liệu

Về kỹ thuật bảo tồn kim thân nhục thân Lục Tổ Huệ Năng suốt hơn 1.300 năm. Theo khảo cứu của các nhà sử học mỹ thuật và văn bản Tào Khê Đại Sư Biệt Truyện, trước lúc viên tịch năm 713, đệ tử Phương Biện vốn giỏi nghề đắp tượng đã đắp tượng chân dung thầy và sau khi ngài xả báo thân, các môn đệ áp dụng kỹ thuật giáp trữ sơn mài cổ thời Đường ngay trên nhục thân khô tự nhiên của ngài: sau khi thân thể ngài ngồi thiền thoát hết hơi ẩm trong hòm đá vôi củi thơm, đệ tử quấn vải gai mịn tẩm sơn ta nguyên chất nhiều lớp phủ kín toàn thân để cách tuyệt hoàn toàn với không khí ẩm và côn trùng vùng nhiệt đới Lĩnh Nam, bên trên thếp vàng trang nghiêm. Chính nhờ phương pháp kết hợp công phu định lực và sơn mài tự nhiên ấy, pho chân thân cao 80 xentimét ngồi kiết già của Lục Tổ là pho tượng nhục thân có niên đại xác thực cổ xưa nhất còn tồn tại nguyên vẹn của Phật giáo Trung Hoa.

Về bộ 360 pho tượng La Hán chạm gỗ bách thời Bắc Tống. Một kỳ quan khảo cổ khác của Chùa Nam Hoa là bộ tượng gỗ La Hán có niên đại từ năm Khánh Lịch thứ 3 tới Hoàng Hựu thứ 5 đời Tống Nhân Tông (1043 tới 1053 SCN). Vốn ban đầu gồm trọn 500 vị La Hán do các tín chủ vùng Quảng Châu và Thiều Châu phát tâm tạc từ những thân gỗ bách nguyên khối cao từ 49 tới 58 xentimét, trên đế mỗi pho đều khắc rõ tên người cúng dường, ngày tháng và tên thợ tạc thời Bắc Tống. Tới thế kỷ 20, hòa thượng Hư Vân đã dày công kiểm kê, tu bổ và bảo tồn được 360 pho (trong đó có 133 pho từng bị thất lạc sang chùa khác được thu hồi và xác minh niên đại), nay là bộ điêu khắc gỗ quy mô lớn duy nhất của triều Bắc Tống còn lưu lại tại Trung Quốc.

IIITrục Già Lam Bảy Tầng Dưới Tán Thủy Tùng Nghìn Năm, Tháp Linh Chiếu Và Lục Tổ Điện

Quần thể Chùa Nam Hoa hiện có diện tích khuôn viên khoảng 42.500 mét vuông (hơn 12.000 mét vuông diện tích sàn xây dựng), trải dài nghiêm cẩn từ nam lên bắc theo sườn thoai thoải của núi Tượng Sơn. Khác với kiểu sân nhỏ khép kín của chùa miền núi, mặt bằng Nam Hoa Thiền Tự mở ra bảy lớp kiến trúc khoáng đạt nối tiếp trên một trục thần đạo thẳng tắp: từ Tào Khê Môn (Đầu Sơn Môn), qua hồ Phóng Sinh với Ngũ Hương Đình, vào Bảo Lâm Môn (Nhị Sơn Môn), Thiên Vương Điện, Đại Hùng Bảo Điện, Pháp Đường (Tàng Kinh Các), tòa Linh Chiếu Tháp vươn cao ở trung tâm hậu viện, rồi tới Lục Tổ Điện và Phương Trượng Thất.

Điểm gây ấn tượng thị giác sâu đậm nhất ở hậu sơn phía bắc chùa là rừng thủy tùng cổ thụ (Glyptostrobus pensilis, loài cây hóa thạch sống quý hiếm bậc nhất phương Nam) gồm chín cây khổng lồ cao vút hơn bốn mươi mét có tuổi đời từ năm trăm tới gần một nghìn năm, rễ thở trồi lên quanh mạch suối cổ Trác Tích Tuyền tạo nên bầu không khí thâm nghiêm cổ kính hiếm nơi nào sánh kịp.

Tào Khê Môn, hồ Phóng Sinh và Bảo Lâm Môn

Lớp cổng đầu tiên Tào Khê Môn dựng lại dưới tay hòa thượng Hư Vân, vòm cửa giữa đắp nổi hàng chữ Đông Độ Thiền Tông Chánh Mạch. Bước qua cổng là hồ Phóng Sinh hình elip rộng rãi có lầu bát giác Ngũ Hương Đình ở giữa mặt nước, dẫn thẳng vào Bảo Lâm Môn treo bức hoành đại tự Bảo Lâm Đạo Tràng nhắc lại pháp danh khai sơn năm 502 đời Lương.

Đại Hùng Bảo Điện và 500 vị La Hán đất đắp

Khởi dựng lại từ năm 1936 tới 1938 thời hòa thượng Hư Vân, tòa điện bề thế hai tầng mái lợp ngói lưu ly xanh lục rộng 7 gian, cao hơn 20 mét. Giữa lòng điện tôn trí ba pho đại tượng Tam Bảo Phật (Thích Ca, Dược Sư, A Di Đà) thếp vàng cao tới 8,3 mét đặt trên tòa sen cao hơn 2 mét, chung quanh bốn bức tường đắp nổi cảnh núi biển và 500 vị La Hán đất nung tô màu vây chầu tầng tầng lớp lớp.

Linh Chiếu Tháp (Tháp chân thân thuở đầu)

Đứng sừng sững ngay giữa sân sau Pháp Đường và trước Lục Tổ Điện là ngôi tháp bát giác năm tầng mái lầu các, cao 29,6 mét. Tiền thân là ngôi tháp gỗ đời Đường Nguyên Hòa năm 812 sắc ban tên Linh Chiếu Chi Tháp (chỗ đặt nhục thân Lục Tổ buổi đầu), sang thời Bắc Tống đổi xây bằng gạch và hoàn thiện kiến trúc gạch giả gỗ bền chắc dưới triều Minh Thành Hóa năm 1477.

Lục Tổ Điện và ba pho kim thân nhục thân bất hoại

Thánh đường linh thiêng nhất của toàn cõi Thiền tông Nam phương. Bên trong ba khám gỗ chạm trổ sơn thếp đặt trang nghiêm ba pho kim thân bất hoại: chính giữa là chân thân Lục Tổ Huệ Năng (viên tịch năm 713, cao 80 cm, sắc sơn nâu đỏ thâm trầm, đầu hơi cúi nhẹ như đang nhập đại định lắng nghe chúng sinh), khám bên trái là nhục thân đại sư Hám Sơn Đức Thanh (viên tịch năm 1623) và khám bên phải là nhục thân thiền sư Đan Điền.

Tàng Kinh Các, Thiên Phật Cà Sa và Trác Tích Tuyền

Nơi bảo quản hơn ba trăm văn vật quốc gia của chùa: chiếc áo Thiên Phật Cà Sa thêu một nghìn vị Phật cùng rồng phượng bằng chỉ vàng và đạo chiếu thư trên lụa của Võ Tắc Thiên ban năm 705, quả chuông sắt vạn cân đúc năm Trị Bình thứ 4 đời Bắc Tống (1067), chiếc chảo đồng Thiên Tăng Oa đúc năm Chí Nguyên thứ 4 đời Nguyên (1338) và 360 pho La Hán gỗ bách Bắc Tống. Phía sau tường bắc dưới bóng thủy tùng nghìn năm là suối Trác Tích Tuyền (Cửu Long Tuyền), nơi tương truyền Lục Tổ chống tích trượng xuống đá khơi mạch nước giặt y truyền pháp.

Bảng tổng hợp kiến trúc và các quốc bảo lịch sử lưu giữ tại Tổ đình Chùa Nam Hoa, Thiều Quan. Nguồn: Cục Văn vật Quốc gia Trung Quốc, China Culture và Encyclopædia Britannica..
Hạng mục và bảo vậtThông số và niên đạiNguồn kiểm chứng
Quy mô khuôn viên chùaRộng khoảng 42.500 m2, diện tích sàn hơn 12.000 m2, 7 lớp kiến trúc trục nam bắcHồ sơ Văn vật Trọng điểm Toàn quốc đợt 5 (2001)
Chân thân Lục Tổ Huệ NăngNhục thân phủ sơn ta giáp trữ từ năm 713 SCN, ngồi kiết già cao 80 cm tại Lục Tổ ĐiệnTào Khê Đại Sư Biệt Truyện, Encyclopædia Britannica
La Hán gỗ bách Bắc Tống360 pho tượng gỗ bách khắc minh văn niên hiệu Khánh Lịch tới Hoàng Hựu (1043 tới 1053)Cục Văn vật Quốc gia Trung Quốc, China Culture
Thiên Phật Cà Sa và chiếu thưÁo cà sa thêu 1.000 tượng Phật và thánh chỉ Võ Tắc Thiên ban năm Thần Long nguyên niên (705)Hồ sơ quốc bảo Chùa Nam Hoa, China Culture
Linh Chiếu Tháp và Chuông TốngTháp gạch bát giác 5 tầng cao 29,6 m (trùng tu 1477), chuông sắt Bắc Tống đúc năm 1067 nặng 5 tấnNam Hoa Thiền Tự Chí, Wikidata
Tọa độ vệ tinh24,6492 độ vĩ Bắc, 113,6314 độ kinh ĐôngWikidata (Q1847550), OpenStreetMap

IVThế Đất Và Hướng

Chính Lục Tổ Huệ Năng trong bộ Pháp Bảo Đàn Kinh từng dạy Tâm bình hà lao trì giới, hành trực hà dụng tu thiền, lấy cái tâm ngay thẳng bình đẳng làm cõi tịnh chứ không tìm cầu phúc báu ngoại cảnh. Tuy vậy, ngay từ năm 502 khi Trí Dược Tam Tạng nếm nước suối Tào Khê ngắm thế núi Tượng Sơn, và đặc biệt vào năm 1934 khi lão hòa thượng Hư Vân trực tiếp khảo sát lại long mạch và cho nắn dòng suối chảy lệch trước cửa chùa để khôi phục cục diện cổ, Chùa Nam Hoa đã trở thành một hình mẫu kinh điển về cách cục bối Tượng diện Khê của vùng núi Lĩnh Nam. Phần dưới đây đối chiếu thực địa theo phép xem hình thế cổ truyền của thư viện.

Thế đất và hướng

Xét trên đại cuộc sơn hà Bắc Quảng Đông tại tọa độ 24,6492 độ vĩ Bắc, 113,6314 độ kinh Đông, vùng Thiều Quan nằm ngay dưới chân phía nam dãy Ngũ Lĩnh (Đại Dữu Lĩnh), nơi mạch núi lớn từ Trung Nguyên vượt ải Mai Quan đổ xuống vùng đất phương Nam. Một nhánh mạch uyển chuyển trườn về phía đông nam Khúc Giang kết thành ngọn Tượng Sơn (còn gọi là Bảo Lâm Sơn) có dáng tròn đầy đặn, sườn dốc thoai thoải hệt một thớt voi báu đang phục mình quay đầu nhìn xuống suối. Chùa Nam Hoa đặt toàn bộ bảy lớp điện tựa lưng vào chính giữa bụng sườn nam Tượng Sơn làm hậu chẩm Huyền Vũ dày dặn, trên đỉnh và sau lưng được rừng thủy tùng nghìn năm cùng rừng cổ thụ cận nhiệt đới che phủ xanh rợp bốn mùa (sơn phì mộc mậu, biểu hiện của mạch đất đang vượng khí). Hai bên đông và tây có hai cánh đồi vươn ra ôm vòng lấy khu chùa theo đúng thế tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ cân xứng, chắn hết gió lốc và giữ cho nội viện yên ắng tuyệt đối.

Xét về sơn hướng và thủy pháp, trục thần đạo của Chùa Nam Hoa định vị chuẩn xác theo thế tọa Bắc hướng Nam (tọa Tý hướng Ngọ hơi kiêm Quý Đinh), nền đất nâng dần từng cấp từ Tào Khê Môn lên tới Lục Tổ Điện và suối Trác Tích ở điểm cao phía bắc. Phía trước sơn môn chính là dòng Tào Khê Thủy chảy từ đông sang tây uốn cong mềm mại ôm lấy mặt tiền chùa tạo thành thế ngọc đới hoàn yêu (đai ngọc quấn ngang lưng). Sử chùa chép rằng trước năm 1934, do mưa lũ lâu đời xói lở, dòng suối Tào Khê từng bị đổi dòng đâm xiên chéo trước cổng chùa tạo thế phản cung và cát bồi ngổn ngang. Khi hòa thượng Hư Vân về tiếp quản ở tuổi 95, ngài đã huy động tăng tục đắp đê nắn lại lòng suối Tào Khê chảy uốn vòng hữu tình cách cổng một khoảng ngoại minh đường rộng rãi, kết hợp với hồ Phóng Sinh thu nước bên trong cổng làm nội minh đường và dãy đồi thấp tròn trịa bên kia bờ suối làm tiền án sơn chầu về, khôi phục trọn vẹn khí tượng trang nghiêm của chốn tổ đình bậc nhất phương Nam.

VCác Kỳ Đại Lễ Vía Lục Tổ Và Cội Nguồn Huyết Mạch Của Các Thiền Phái Việt Nam

Nếp tu hành tại Chùa Nam Hoa giữ nghiêm thanh quy thiền lâm cổ truyền do Bách Trượng và Hư Vân hòa thượng định lập, cử hành khóa lễ và pháp hội theo âm lịch cổ truyền. Trọng đại bậc nhất trong năm là hai kỳ lễ vía Đức Lục Tổ Huệ Năng vào mùa xuân và mùa thu, khi chư tôn đức từ khắp các tự viện Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam vân tập về Tào Khê đảnh lễ nhục thân Tổ. Bảng dưới đây tổng hợp các ngày lễ chính trong năm.

Các kỳ đại lễ và pháp hội truyền thống hàng năm tại Tổ đình Chùa Nam Hoa, Thiều Quan. Nguồn: Ban Quản trị Tổ đình Nam Hoa Thiền Tự và Hiệp hội Phật giáo tỉnh Quảng Đông..
Thời điểmTheo lịch nàoTên đại lễNghi thức cổ truyền tại Tổ đình Chùa Nam Hoa
Mùng 3 tháng TámÂm lịchĐại lễ kỷ niệm ngày Lục Tổ Huệ Năng viên tịch (Lục Tổ Niết Bàn Pháp Hội)Pháp hội lớn nhất trong năm tại Tào Khê. Hàng vạn chư tăng và Phật tử vân tập trước Lục Tổ Điện cử hành lễ truyền đăng, tụng Pháp Bảo Đàn Kinh, nhiễu tháp Linh Chiếu và chiêm bái kim thân Lục Tổ.
Mùng 8 tháng HaiÂm lịchLễ vía Lục Tổ Huệ Năng đản sinhKỷ niệm ngày ra đời của vị Tổ sư thứ sáu Thiền tông Đông Độ (638 SCN), kết hợp khóa lễ cầu an đầu xuân và thuyết giảng tư tưởng đốn ngộ tại Pháp Đường.
Mùng 9 tháng HaiÂm lịchNgày truyền thống kỷ niệm Lục Tổ Huệ Năng xuất giaNgay sau ngày vía đản sinh, chư tăng cử hành lễ tụng kinh tri ân công đức cầu pháp quên mình của Lục Tổ từ Lĩnh Nam lên Hoàng Mai cho tới khi về mở hội Tào Khê.
Tháng Chín hoặc tháng Mười (mùa thu đông)Âm lịchTuần lễ Thiền thất mùa đông (Đông tham Thiền thất) và Lễ tưởng niệm Hòa thượng Hư VânKỳ nhập thất tọa thiền miên mật nhiều tuần liền theo gia phong Thiền tông cổ và khóa lễ tưởng niệm ngày viên tịch Hòa thượng Hư Vân (12 tháng Chín âm lịch năm 1959), vị tổ trung hưng Nam Hoa thế kỷ 20.

Cội nguồn huyết mạch trực tiếp của Thiền phái Vô Ngôn Thông, Thảo Đường và Trúc Lâm Việt Nam. Đối với lịch sử Phật giáo và văn hóa tư tưởng Việt Nam, Chùa Nam Hoa bên suối Tào Khê mang một ý nghĩa cội nguồn hết sức đặc biệt và gần gũi. Bản thân Lục Tổ Huệ Năng khi còn hàn vi tự nhận mình là người Tân Châu đất Lĩnh Nam (vùng bách Việt phương Nam xưa), và chính từ pháp tòa Tào Khê của ngài, các dòng thiền chủ lưu đã truyền thẳng vào Đại Việt định hình nên thời đại rực rỡ nhất của văn minh Lý Trần.

Cụ thể, Thiền phái Vô Ngôn Thông (lập năm 820 tại chùa Kiến Sơ, Phù Đổng, Bắc Ninh) bắt nguồn trực tiếp từ thiền sư Vô Ngôn Thông (Bất Không) vốn là đệ tử nối pháp của Bách Trượng Hoài Hải, tức thuộc thế hệ pháp tôn đời thứ tư tính thẳng từ Lục Tổ Huệ Năng tại Tào Khê (qua Nam Nhạc Hoài Nhượng và Mã Tổ Đạo Nhất). Dòng thiền Tào Khê ấy đã sản sinh ra những bậc quốc sư rường cột dựng nước của Việt Nam như Ngô Chân Lưu (Khuông Việt Đại Sư), thiền sư Vạn Hạnh (người đỡ đầu vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long tại Chùa Trấn Quốc), Mãn Giác thiền sư và Nguyễn Minh Không. Tiếp đó vào năm 1069, Thiền phái Thảo Đường do vua Lý Thánh Tông tôn lập tại Thăng Long lại truyền thừa trực tiếp từ tông Vân Môn (khai sáng tại núi Vân Môn ngay cùng vùng Thiều Quan, Quảng Đông từ nhánh Thanh Nguyên Hành Tư của Tào Khê). Tới năm 1299, khi Phật hoàng Trần Nhân Tông dung hợp các dòng thiền trước đó với dòng Lâm Tế để sáng lập Thiền phái Trúc Lâm mang bản sắc thuần Việt trên núi Yên Tử và chốn tổ Chùa Vĩnh Nghiêm, bộ Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục Tổ Tào Khê cùng tư tưởng Phật tại tâm, cư trần lạc đạo vẫn luôn là ngọn đuốc soi đường được khắc ván in truyền tụng qua hàng chục thế hệ tăng ni Việt Nam cho tới tận hôm nay.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Bên suối Caoxi (Tào Khê), trấn Maba (Mã Bá), quận Qujiang (Khúc Giang), thành phố Shaoguan (Thiều Quan), tỉnh Quảng Đông (广东省韶关市曲江区马坝镇曹溪路南华禅寺)
Đường tới
Chùa Nam Hoa nằm tại trấn Mã Bá, quận Khúc Giang, cách trung tâm thành phố Thiều Quan khoảng 24 km về phía đông nam. Quý vị có thể đi tàu cao tốc tuyến Bắc Kinh Quảng Châu từ Quảng Châu Nam tới ga Thiều Quan (Shaoguan High-Speed Railway Station) chỉ mất khoảng 45 tới 50 phút, từ quảng trường ga tàu cao tốc Thiều Quan hoặc ga tàu thường Thiều Quan Đông đều có xe buýt công cộng chuyên tuyến chạy thẳng tới trước cổng Tào Khê Môn của Chùa Nam Hoa trong khoảng 35 tới 40 phút.
Toạ độ
24.6492, 113.6314
Khi tới nơi

Chùa Nam Hoa là chốn tổ đình Thiền tông nghiêm cẩn bậc nhất phương Nam, đặc biệt khu vực Lục Tổ Điện là nơi phụng thờ trực tiếp ba pho kim thân nhục thân hơn nghìn năm và hàng trăm năm tuổi. Khi bước vào Lục Tổ Điện đảnh lễ, quý vị xin giữ im lặng tuyệt đối, cất mũ nón, tuyệt đối không chụp ảnh hay quay phim bên trong lòng điện thờ nhục thân để giữ gìn sự tôn nghiêm và bảo vệ lớp sơn ta cổ trước ánh sáng. Khi ra phía sau thăm suối cổ Trác Tích Tuyền, xin đi trên lối đá quy định để không giẫm lên hệ rễ thở của rặng thủy tùng cổ thụ.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Nam Hoa (Tổ đình Lục Tổ Huệ Năng), Thiều Quan

Contribute photos, information or video for Nanhua Temple, Shaoguan

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Vì sao Chùa Nam Hoa bên suối Tào Khê được tôn là tổ đình của Thiền tông phương Đông?

Chùa Nam Hoa (vốn mang tên Bảo Lâm Tự khởi dựng năm 502 SCN) là nơi Lục Tổ Huệ Năng đã trụ trì và thuyết pháp suốt 37 năm từ năm 677 tới 713 SCN. Từ pháp tòa Tào Khê này, tư tưởng Đốn ngộ kiến tính của ngài đã nở rộ thành Ngũ gia Thất tông (năm nhà bảy phái Thiền tông), lan tỏa khắp Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản, nên chùa được tôn là Đông Độ Thiền Tông Chánh Mạch.

Vì sao tác phẩm Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục Tổ Huệ Năng lại được gọi là Kinh?

Trong truyền thống Phật giáo, chữ Kinh vốn chỉ dành riêng cho lời thuyết giảng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, còn trước tác của các bậc cao tăng đời sau chỉ được gọi là Luận hoặc Ngữ lục. Riêng bộ Pháp Bảo Đàn Kinh ghi lại lời giảng của Lục Tổ Huệ Năng tại Thiều Châu và Tào Khê vì khế hợp trọn vẹn tâm ấn giác ngộ trực tiếp của Đức Phật nên là tác phẩm duy nhất của một bậc Tổ sư phương Đông được tôn xưng là Kinh.

Ba pho tượng nhục thân bất hoại thờ trong Lục Tổ Điện của Chùa Nam Hoa là những vị nào?

Bên trong Lục Tổ Điện hiện cung phụng ba pho kim thân nhục thân bất hoại phủ sơn ta cổ truyền: ở khám chính giữa là chân thân của Lục Tổ Huệ Năng (viên tịch năm 713 SCN ở tuổi 76, là pho nhục thân có niên đại cổ xưa nhất còn tồn tại ở Trung Quốc), khám bên trái là nhục thân đại sư Hám Sơn Đức Thanh thời Minh (viên tịch năm 1623) và khám bên phải là nhục thân thiền sư Đan Điền.

Ai là người đã trùng tu và tạo dựng diện mạo kiến trúc hiện nay của Chùa Nam Hoa?

Đó là đại lão hòa thượng Hư Vân (1840 tới 1959), bậc cao tăng Thiền tông lỗi lạc thời cận đại. Vào năm 1934 khi đã 95 tuổi, ngài nhận lời thỉnh về Tào Khê lúc chùa đổ nát hoang tàn, tự mình đứng ra nắn lại dòng suối Tào Khê và xây dựng lại toàn bộ trục điện đường hùng tráng suốt mười năm ròng cho tới năm 1944.

Chùa Nam Hoa và dòng thiền Tào Khê gắn bó như thế nào với các thiền phái Việt Nam?

Hầu hết các thiền phái lớn trong lịch sử Việt Nam đều bắt nguồn trực tiếp từ dòng pháp Tào Khê của Lục Tổ Huệ Năng tại Chùa Nam Hoa: từ Thiền phái Vô Ngôn Thông thời Lý (lập năm 820, thuộc đời thứ tư sau Lục Tổ), Thiền phái Thảo Đường (lập năm 1069 từ nhánh Vân Môn vùng Thiều Quan), cho tới Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử của Phật hoàng Trần Nhân Tông và hai dòng Lâm Tế, Tào Động truyền vào Việt Nam thế kỷ 17.

›Đọc Tiếp