VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Tượng khắc đá Đại Túc, Trùng Khánh

Dazu Shike, 大足石刻, Bảo Đỉnh Sơn Ma Nhai Tạo Tượng, 宝顶山摩崖造像, Bắc Sơn Thạch Khắc, Dazu Rock Carvings Chongqing

Hơn năm vạn pho tượng đá và mười vạn chữ minh văn tạc vào vách sa thạch xứ Xuyên Đông từ cuối đời Đường tới thời Nam Tống, nơi danh tăng Triệu Trí Phượng biến cả hẻm núi móng ngựa Bảo Đỉnh Sơn thành một pho kinh sống động về từ bi, đạo hiếu và Tam giáo hòa đồng.

Niên đại tạo tác
892 tới 1249
khởi tạc năm 892 thời Đường ở Bắc Sơn, đỉnh cao thời Nam Tống ở Bảo Đỉnh Sơn
Quy mô di sản
Hơn 50.000 pho tượng đá
75 điểm vách đá trên 5 cụm núi chính cùng hơn 100.000 chữ minh văn
Xếp hạng
Di sản Thế giới UNESCO
ghi danh năm 1999 theo các tiêu chí văn hóa (i), (ii) và (iii)

Men theo con đường đá xanh rợp bóng tre trúc trên sườn núi Bảo Đỉnh ở quận Đại Túc, phía tây thành phố Trùng Khánh, người hành hương bất ngờ bước xuống một hẻm núi sâu uốn cong như vành móng ngựa dài nửa cây số mang tên Đại Phật Loan. Dọc khắp hai tầng vách đá sa thạch cao từ mười lăm tới ba mươi mét bao quanh hẻm núi ấy không phải là những bức vách trơ trụi, mà là cả một thế giới chư Phật, Bồ Tát, Kim Cương hộ pháp, cha mẹ bồng con và mục đồng thổi sáo trên lưng trâu được chạm nổi sống động với sắc sơn khoáng thạch và ánh vàng lá rực rỡ. Giữa lòng hẻm núi, pho tượng Đức Thích Ca Mâu Ni Nhập Niết Bàn dài ba mươi mốt mét nằm nghiêng thanh thản như đang hòa nửa thân mình vào dãy núi ngàn năm.

Quần thể kỳ vĩ ấy là Tượng khắc đá Đại Túc (chữ Hán: 大足石刻, Pinyin: Dazu Shike), bao gồm 75 điểm di tích phân bố quanh năm cụm núi tiêu biểu là Bảo Đỉnh Sơn, Bắc Sơn, Nam Sơn, Thạch Triện Sơn và Thạch Môn Sơn, được UNESCO ghi danh Di sản Thế giới năm 1999. Nếu Đôn Hoàng, Vân Cương và Long Môn đại diện cho thời kỳ hoàng kim đầu và giữa của nghệ thuật thạch khố phương Bắc từ thế kỷ 4 tới thế kỷ 8, thì Đại Túc chính là chương kết viên mãn nhất từ thế kỷ 9 tới thế kỷ 13 ở phương Nam, nơi giáo lý Phật giáo hội ngộ cùng Đạo giáo và Nho giáo trong đời sống nhân sinh gần gũi.

Tượng khắc đá Đại Túc, Trùng Khánh
Tượng khắc đá Đại Túc, Trùng Khánh. Ảnh: G41rn8, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IĐại Mạn Đà La Bảo Đỉnh Sơn Của Triệu Trí Phượng Và Tinh Thần Tam Giáo Hợp Lưu

Tượng khắc đá Đại Túc lấy Phật giáo Bắc truyền (kết hợp Hoa Nghiêm tông, Tịnh Độ tông, Thiền tông và dòng Mật giáo bản địa Liễu Bản Tôn vùng Xuyên Tây) làm trục cốt lõi, đồng thời trở thành minh chứng điêu khắc tiêu biểu bậc nhất châu Á cho tư tưởng Tam giáo hợp lưu (Phật, Đạo và Nho cùng đứng chung trên một dải núi). Khác với các quần thể hang đá thời Bắc Ngụy hay sơ Đường mang vẻ uy nghiêm cách biệt của vương quyền, nghệ thuật tạc đá thời Lưỡng Tống ở Đại Túc đưa thần thái của chư Phật và thánh hiền tiến sát lại với tình cảm con người: từ nỗi đau đáu của người mẹ mang nặng đẻ đau, giọt nước mắt hối lỗi của kẻ sa ngã cho tới nét thư thái của chú bé chăn trâu ngủ quên bên khe suối.

Theo giáo nghĩa

Đỉnh cao tư tưởng của toàn bộ di sản kết tinh tại Bảo Đỉnh Sơn, nơi danh tăng thời Nam Tống là Triệu Trí Phượng (Zhao Zhifeng, sinh năm 1159 tại Đại Túc, kế thừa pháp mạch Mật giáo Du Già của cư sĩ Liễu Bản Tôn thế kỷ thứ 9) đã bỏ ra trọn bảy mươi năm (từ năm 1179 tới 1249) để quy hoạch hẻm núi Đại Phật Loan và Tiểu Phật Loan thành một đại đạo tràng Mật thừa thống nhất. Khác với mọi quần thể thạch khố khác vốn do nhiều thế hệ đục nối tiếp một cách rời rạc, toàn bộ 31 nhóm phù điêu liên hoàn tại Đại Phật Loan đều tuân theo một bản thiết kế tổng thể duy nhất của Triệu Trí Phượng như một cuốn kinh bằng đá có mở đầu, cao trào và kết thúc.

Mạch giáo lý tại Đại Phật Loan dẫn người chiêm bái đi qua ba tầng giác ngộ: mở đầu bằng cảnh vô thường sinh tử ở Lục Đạo Luân Hồi Đồ (nơi quỷ Vô Thường ngậm bánh xe sáu nẻo luân hồi để nhắc con người tỉnh thức về nhân quả), đi sâu vào từ bi và trí tuệ cứu độ qua Hoa Nghiêm Tam Thánh, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm và đại tượng Thích Ca Nhập Niết Bàn, rồi neo chặt vào đạo làm người hàng ngày qua Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh Biến (mười cảnh khắc họa ơn nghĩa sinh thành dưỡng dục của cha mẹ) và Đại Phương Quảng Phật Báo Ân Kinh Biến, trước khi khép lại bằng mười bức Mục Ngưu Đồ của Thiền tông dạy cách gột rửa vọng tâm để trở về bản tính thanh tịnh giữa thiên nhiên.

Theo sử liệu

Theo hồ sơ Di sản Thế giới số 912 của UNESCO và tư liệu của Viện Nghiên cứu Tượng khắc đá Đại Túc, sự dung hợp Tam giáo ở Đại Túc không dừng ở lời giảng mà hiển hiện rõ rệt trên từng cụm núi thế kỷ 11 và 12. Tại Thạch Triện Sơn (đục từ năm 1082 tới 1096 dưới thời Bắc Tống do điền chủ địa phương Nghiêm Tốn xuất tiền), khám số 6 tôn trí Khổng Tử cùng mười vị đệ tử Thập Triết, khám số 7 thờ Tam Thân Phật, và khám số 8 thờ Thái Thượng Lão Quân cùng mười bốn vị chân nhân Đạo giáo đứng liền vách nhau. Sang Thạch Môn Sơn (1094 tới 1151), các khám Phật giáo như Dược Sư Lưu Ly và Quán Âm xen kẽ trực tiếp với khám Ngọc Hoàng Đại Đế, Tam Hoàng Động và Độc Cước Ngũ Thông Đại Đế. Còn tại Nam Sơn (thế kỷ 12), khám Tam Thanh Cổ Động bảo tồn hệ thống tượng đá Đạo giáo gồm Tam Thanh, Tứ Ngự và chư vị Tinh quân tinh xảo bậc nhất thời Nam Tống.

Chỗ hay hiểu lầm

Có hai chi tiết về Đại Túc thường bị truyền tụng thiếu chính xác. Một là nhiều người nghĩ Đại Túc gồm những hang tối khoét sâu vào lòng núi như Mạc Cao ở Đôn Hoàng, trong khi phần lớn tác phẩm ở Bảo Đỉnh Sơn là ma nhai tạo tượng (tượng phù điêu khối cao chạm trực tiếp trên vách đá dựng đứng ngoài trời dưới vòm đá che tự nhiên và hiên gỗ bảo vệ). Hai là pho Thiên Thủ Quán Âm nổi tiếng ở khám số 8 Đại Phật Loan thường được gọi là có đúng một nghìn cánh tay, hoặc một số sách cũ ghi 1.007 tay, nhưng thực tế đợt khảo sát quét không gian ba chiều và bảo tồn cấp quốc gia hoàn thành năm 2015 đã kiểm đếm chính xác pho tượng có 830 bàn tay và cánh tay đá tạc rời vươn ra khỏi vách núi, mỗi tay cầm một pháp khí khác nhau và vẽ một con mắt trí tuệ trong lòng bàn tay.

IIBốn Thế Kỷ Chạm Đá Từ Pháo Đài Bắc Sơn Thời Đường Tới Đại Công Trường Bảo Đỉnh Sơn Thời Nam Tống

Nhờ vị trí địa lý nằm sâu trong bồn địa Tứ Xuyên được núi non che chở khỏi các cuộc chiến loạn lớn ở Trung Nguyên vào cuối thời Đường, thời Ngũ Đại và thời Tống, vùng đất Xương Châu (tức Đại Túc ngày nay) trở thành miền đất lành quy tụ các bậc cao tăng, nghệ nhân điêu khắc đá và dòng tài trợ dồi dào từ cả quan phủ lẫn dân gian suốt gần bốn trăm năm.

  • 892Tiết độ sứ Vi Quân Tĩnh khởi tạc cụm tượng đá Bắc Sơn
    Năm Cảnh Phúc nguyên niên nhà Đường (892), Xương Châu thứ sử Vi Quân Tĩnh xây dựng thành trại Vĩnh Xương trên núi Long Cương (Bắc Sơn) và cho tạc khám tượng Tỳ Sa Môn Thiên Vương đầu tiên, mở đầu 250 năm điêu khắc liên tục tại vách đá Phật Loan.
  • 907 tới 965Hưng thịnh dưới hai vương triều Tiền Thục và Hậu Thục
    Trong thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc, vùng đất Thục thái bình thịnh trị giúp các khám tượng tại Bắc Sơn chuyển dần từ nét đường bệ thời Đường sang vẻ thanh tú, tỉ mỉ làm tiền đề cho phong cách mỹ thuật nhà Tống.
  • 1082 tới 1151Mở rộng sang Thạch Triện Sơn, Thạch Môn Sơn và Nam Sơn
    Từ niên hiệu Nguyên Phong đời Bắc Tống (1082) tới niên hiệu Thiệu Hưng đời Nam Tống (1151), hàng loạt vách đá Tam giáo hợp lưu và Đạo giáo được tạo tác hoàn chỉnh tại Thạch Triện Sơn, Thạch Môn Sơn và Nam Sơn, cùng kiệt tác hang Chuyển Luân Kinh Tạng số 136 tại Bắc Sơn (1142 tới 1146).
  • 1179 tới 1249Danh tăng Triệu Trí Phượng kiến tạo Đại Phật Loan trên Bảo Đỉnh Sơn
    Từ năm Thuần Hy thứ 6 (1179) lúc mới 20 tuổi cho tới năm Thuần Hựu thứ 9 (1249) lúc 90 tuổi, đại sư Triệu Trí Phượng chủ trì tạc hơn một vạn pho tượng lớn nhỏ nối liền nhau suốt hẻm núi Đại Phật Loan, Tiểu Phật Loan và dựng chùa Thánh Thọ trên Bảo Đỉnh Sơn.
  • Thế kỷ 15 tới thế kỷ 19Trùng tu chùa Thánh Thọ và làm mái che tượng thời Minh, Thanh
    Trải qua hỏa hoạn thời cuối Nguyên và cuối Minh, ngôi chùa gỗ Thánh Thọ Tự cạnh Đại Phật Loan được trùng tu lớn dưới triều Vĩnh Lạc nhà Minh và Khang Hy, Càn Long nhà Thanh, đồng thời dựng thêm các nhà bia và hiên gỗ Đại Bi Các che mưa nắng cho tượng đá.
  • 1961Đơn vị Bảo hộ Văn vật Trọng điểm Toàn quốc đợt 1
    Tháng 3 năm 1961, Quốc vụ viện Trung Quốc xếp hai quần thể cốt lõi là Bắc Sơn và Bảo Đỉnh Sơn vào danh sách đợt đầu tiên các di tích văn vật trọng điểm cấp quốc gia, ngang hàng với Đôn Hoàng, Vân Cương và Long Môn.
  • 1999 và 2015Ghi danh Di sản Thế giới UNESCO và hoàn tất trùng tu Thiên Thủ Quán Âm
    Tháng 12 năm 1999, UNESCO công nhận toàn bộ 5 cụm núi (75 điểm di tích) của Tượng khắc đá Đại Túc là Di sản Thế giới. Tháng 6 năm 2015, dự án trùng tu khoa học kéo dài 8 năm đã khôi phục vẻ rực rỡ với hơn một triệu lá vàng thật trên 830 cánh tay tượng Thiên Thủ Quán Âm.
Theo sử liệu

Khi khảo cứu lịch sử bảo tồn của Đại Túc, giới chuyên môn đặc biệt đánh giá cao trình độ kỹ thuật công trình của thợ đá Nam Tống thế kỷ 12. Vùng Trùng Khánh có lượng mưa hàng năm lớn và độ ẩm rất cao, đá sa thạch hạt trung và hạt mịn dễ bị nước ngầm làm bong tróc nếu đọng ẩm. Ngay khi đục hẻm núi Đại Phật Loan, Triệu Trí Phượng và các hiệp thợ đã đào sẵn một mạng lưới rãnh thu nước trên đỉnh vách đá, kết hợp dẫn mạch nước ngầm tự nhiên chảy vào đúng miệng con rồng đá lớn ngay phía trên đầu tượng Thái Tử Tất Đạt Đa mới đản sinh (khám Cửu Long Dục Thái Tử), vừa làm thành dòng nước tắm Phật chảy róc rách quanh năm suốt tám thế kỷ, vừa tiêu thoát áp lực nước ngầm trong vách núi xuống hồ nước bên dưới. Về con số cánh tay của tượng Thiên Thủ Quán Âm, bài viết ghi nhận song song cả con số truyền thống 1.007 tay trong tư liệu thế kỷ 20 và con số đo đạc khảo cổ chính thức năm 2015 là 830 cánh tay và bàn tay đá.

IIIBố Cục Cơ Học Đá, Thủy Lực Ngầm Và Sáu Cụm Điêu Khắc Kiệt Xuất Giữa Lòng Núi

Toàn vùng Đại Túc lưu giữ hơn 50.000 pho tượng đá và hơn 100.000 chữ minh văn khắc trên vách núi (gồm cả kinh văn, kệ tụng, bia ký lịch sử và tên tuổi thợ tạc). Khác với cách tạc tượng phẳng độc lập của các đời trước, nghệ nhân thời Tống ở Đại Túc làm chủ trọn vẹn bốn nguyên lý kỹ thuật: một là lợi dụng góc nghiêng từ 10 tới 20 độ về phía trước của thân tượng trên vách cao để khắc phục sai số thị giác khi người xem đứng sát chân vách ngước nhìn, hai là biến các dải lụa y phục, đám mây và tòa sen thành những cột trụ đá chịu lực giấu kín đỡ các khối đá nặng hàng tấn vươn ra khoảng không, ba là giữ nguyên màu sắc đắp tô khoáng chất kết hợp thếp vàng lá trên đá sa thạch, và bốn là kết nối âm thanh tiếng suối chảy thật vào bối cảnh điêu khắc.

Tượng Thích Ca Mâu Ni Nhập Niết Bàn dài 31 mét (khám số 11 Đại Phật Loan)

Pho tượng trung tâm lớn nhất toàn vùng Đại Túc nằm chiếm trọn vách phía đông của hẻm núi móng ngựa Bảo Đỉnh Sơn. Đức Phật nằm nghiêng bên sườn phải dài 31 mét, chỉ tạc phần nửa thân trên nhô ra khỏi vách núi còn đôi chân ẩn sâu vào dải đá tự nhiên để gợi cảm giác pháp thân vô biên trùm khắp hư không, phía trước có 14 vị đệ tử và cư sĩ lộ rõ nét bi thương tiễn biệt từ dưới lòng đất trồi lên nửa người.

Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm mạ vàng rộng 88 mét vuông (khám số 8)

Pho tượng Thiên Thủ Quán Âm duy nhất trên thế giới tạc nổi thực sự hàng trăm cánh tay đá phủ kín toàn bộ mặt vách cao 7,7 mét, rộng 12,5 mét (diện tích 88 mét vuông) như một bộ lông chim khổng tước xòe rực rỡ ánh vàng. Qua 8 năm trùng tu hoàn tất năm 2015, toàn bộ 830 bàn tay đá cầm búa, kiếm, chày kim cương, hoa sen, kinh quyển và gương báu đã được phục hồi nguyên trạng vẻ huy hoàng thời Nam Tống.

Hoa Nghiêm Tam Thánh và mạch nước Cửu Long Dục Thái Tử

Ba pho tượng Tỳ Lô Giá Na Phật, Văn Thù và Phổ Hiền Bồ Tát đứng cao 7 mét trên vách nam Đại Phật Loan, nghiêng đầu nhìn xuống chúng sinh. Trên bàn tay trái của Văn Thù Bồ Tát nâng một ngôi bảo tháp bảy tầng bằng đá nặng gần nửa tấn vươn hẳn ra ngoài không trung mà không gãy suốt tám trăm năm nhờ vạt áo cà sa bằng đá buông rủ khéo léo biến thành trụ đỡ chịu lực. Kế bên là khám Chín Rồng Phun Nước Tắm Thái Tử dẫn nguồn nước khe núi chảy qua miệng rồng đá thật.

Lục Đạo Luân Hồi Đồ và Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh Biến

Tại Lục Đạo Luân Hồi Đồ cao 7,8 mét, hình tượng thần Vô Thường nhe răng trợn mắt hai tay ôm bánh xe tròn lớn chia sáu ngăn biểu thị nhân quả nghiệp báo sáu cõi. Cách đó không xa là bộ mười một tổ hợp phù điêu Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh Biến rộng hơn 14 mét, khắc họa chân thực cảnh cha mẹ cầu con, mẹ mang thai mười tháng, nhường chỗ khô nằm chỗ ướt, mớm từng miếng ăn và tiễn con đi xa, khiến bao thế hệ người xem rơi lệ.

Tranh đá Mục Ngưu Đồ dài 30 mét và chùa cổ Thánh Thọ Tự

Ở khúc uốn phía nam Đại Phật Loan, mười chặng chăn trâu tìm tâm của Thiền tông được tạc nối tiếp theo sườn đá tự nhiên dài khoảng 30 mét với cảnh rừng cây, suối chảy và mười dáng điệu sinh động giữa mục đồng và con trâu. Ngay trên đỉnh vách đá phía nam hẻm núi là quần thể kiến trúc gỗ Thánh Thọ Tự (trùng tu thời Minh và Thanh) từng là bản tự của đại sư Triệu Trí Phượng.

Hang Chuyển Luân Kinh Tạng Bắc Sơn (số 136) và các khám Tam giáo

Tại vách đá Phật Loan trên Bắc Sơn (dài gần 300 mét với 290 khám), hang số 136 đục vào các năm 1142 tới 1146 thời Nam Tống được giới mỹ thuật ca ngợi là phòng trưng bày ngọc quý của điêu khắc đá nhà Tống: giữa lòng hang có tháp Chuyển Luân Kinh Tạng chạm rồng cuộn, hai bên là các pho Nhật Nguyệt Quán Âm, Ngọc Ấn Quán Âm, Phổ Hiền cưỡi voi trắng và Văn Thù cưỡi sư tử xanh có đường nét gương mặt thanh thoát, chuỗi anh lạc chạm thủng mảnh như sợi tơ.

Bảng tổng hợp thông số của các cụm tượng tiêu biểu tại Di sản Tượng khắc đá Đại Túc, Trùng Khánh. Nguồn: Hồ sơ Di sản Thế giới UNESCO số 912, Viện Nghiên cứu Tượng khắc đá Đại Túc, Encyclopaedia Britannica..
Hạng mụcThông số và đặc điểmNguồn đối chiếu
Tổng quy mô toàn di sản75 điểm vách đá trên 5 cụm núi chính, hơn 50.000 pho tượng và hơn 100.000 chữ minh vănUNESCO (hồ sơ 912), Viện Nghiên cứu Đại Túc
Hẻm núi Đại Phật Loan (Bảo Đỉnh Sơn)Hình móng ngựa dài khoảng 500 m, vách sa thạch cao 15 tới 30 m, tạc từ 1179 tới 1249UNESCO, Encyclopaedia Britannica
Tượng Thích Ca Nhập Niết BànDài 31 m tại vách đông Đại Phật Loan, bố cục nửa thân nhô khỏi đá núiChina.org.cn, Travel China Guide
Tượng Thiên Thủ Quán Âm (khám số 8)Cao 7,7 m, rộng 12,5 m (diện tích 88 m²), 830 cánh tay đá mạ vàng (tư liệu cũ ghi 1.007)Báo cáo trùng tu quốc gia 2015, Viện Nghiên cứu Đại Túc
Vách đá Phật Loan tại Bắc SơnDài gần 300 m, cao 7 tới 10 m, 290 khám tượng tạc từ năm 892 tới 1162UNESCO, hồ sơ di tích Bắc Sơn
Tọa độ vệ tinh khu Bảo Đỉnh Sơn29,7544 độ vĩ Bắc, 105,7941 độ kinh Đông (cao độ đỉnh núi 527,8 m)Wikidata (Q651278, Q10949515), OpenStreetMap

IVThế Đất Và Hướng

Giáo lý Phật giáo nguyên thủy vốn không dựa vào thuật phong thủy địa lý, nhưng khi kiến tạo các đại đạo tràng Mật thừa và Thiền lâm trên núi đá vùng Ba Thục thời Tống, các bậc cao tăng như Triệu Trí Phượng đã khảo sát vô cùng thấu đáo địa mạo sơn khê, hướng nắng, hướng gió và thủy mạch để bảo vệ công trình hàng nghìn năm đồng thời đúng với pháp tắc kinh điển. Phần dưới đây đọc lại cấu trúc hình thế thực địa của Đại Phật Loan theo góc nhìn đối chiếu của thư viện.

Thế đất và hướng

Xét trên địa hình vùng đồi núi Xuyên Đông tại tọa độ 29,7544 độ vĩ Bắc, 105,7941 độ kinh Đông, ngọn Bảo Đỉnh Sơn vươn lên ở độ cao 527,8 mét giữa vùng lưu vực sông Lại Khê (nhánh giữa hệ thống Đà Giang và Phù Giang), bốn bề có những ngọn đồi lượn sóng như cánh hoa sen bao bọc. Ngay gần đỉnh núi, thiên nhiên kiến tạo nên hẻm Đại Phật Loan là một thung lũng đá trũng sâu từ 15 tới 30 mét, uốn cong khép kín ba bề bắc, đông và nam giống hệt một chiếc ngai bành móng ngựa mở miệng về phía tây nam. Trong phép xem hình thế cổ truyền, thung lũng đá trũng có ba bề vách núi ôm vòng và rừng tùng trúc dày đặc che phủ phía trên chính là thế oa huyệt tàng phong (huyệt hình lòng chảo giữ gió tụ khí): các luồng gió lạnh phương bắc bị dải vách bắc cản lại hoàn toàn, còn hơi ẩm và mây sương tích tụ vừa đủ dưới đáy khe giúp bầu không khí trong lòng thung lũng luôn tĩnh mịch, mát mẻ vào mùa hạ và ấm áp vào mùa đông, giảm thiểu tối đa biên độ giãn nở nhiệt làm nứt vỡ tầng đá sa thạch.

Xét về phương vị tôn tượng và phép dẫn thủy, đại sư Triệu Trí Phượng đã tận dụng tài tình chính hướng tự nhiên của ba mặt vách đá trong hẻm móng ngựa để sắp đặt đúng phương vị kinh điển Phật giáo. Tại trung tâm đáy móng ngựa ở vách phía đông, pho đại tượng Thích Ca Nhập Niết Bàn dài 31 mét được tạc nằm nghiêng sườn phải theo đúng nghi quỹ Bắc chẩm Tây hướng trong Kinh Đại Bát Niết Bàn: đầu Đức Phật gối về phương Bắc, lưng tựa vững chãi vào mạch núi phía Đông, còn gương mặt từ hòa quay thẳng về phương Tây (hướng Tây Phương Cực Lạc và thánh địa Ấn Độ), lấy toàn bộ lòng thung lũng rộng mở phía trước cùng hồ nước Thanh Trì làm nội minh đường tụ khí. Hơn thế nữa, mạch nước ngầm trên sườn núi vốn là yếu tố dễ gây xói lở vách đá (thủy sát) đã được nhà sư chuyển hóa thành thủy mạch hộ trì: nước từ khe suối phía đông bắc được gom vào rãnh đá ngầm, tuôn qua miệng rồng tại khám Cửu Long Dục Thái Tử chảy xuống ao phóng sinh giữa lòng thung lũng rồi thoát êm ả về phía tây nam, tạo nên thế sơn tàng cổ tượng, thủy dẫn sinh cơ bền vững suốt tám thế kỷ.

VĐại Hội Bảo Đỉnh Hương Hội Mười Chín Tháng Hai Và Sợi Dây Đồng Điệu Với Văn Hóa Việt Nam

Đời sống tín ngưỡng tại Đại Túc vận hành theo âm lịch cổ truyền, gắn liền với ngôi chùa cổ Thánh Thọ Tự nằm sát vách nam Đại Phật Loan và truyền thống trẩy hội mùa xuân sôi động của cư dân khắp vùng Tứ Xuyên, Trùng Khánh, Quý Châu từ thời Minh, Thanh cho tới ngày nay.

Các kỳ lễ hội Phật giáo và dân gian tiêu biểu hàng năm tại khu di sản Tượng khắc đá Đại Túc. Nguồn: Viện Nghiên cứu Tượng khắc đá Đại Túc, Chùa Thánh Thọ Bảo Đỉnh Sơn, UNESCO..
Thời điểmTheo lịch nàoTên lễ tiếtÝ nghĩa và sinh hoạt lễ hội tại Đại Túc
Ngày 19 tháng Hai (hội kéo dài suốt tháng Hai)Âm lịchBảo Đỉnh Hương Hội (Đại lễ vía Quán Thế Âm Bồ Tát đản sinh)Kỳ hội miếu cổ truyền lớn nhất vùng Xuyên Đông có lịch sử hàng trăm năm. Đặc biệt vào đêm 18 rạng sáng 19 tháng Hai âm lịch, hàng vạn Phật tử và người dân cầm nến hương nối đuôi nhau lên chùa Thánh Thọ và Đại Phật Loan chiêm bái tượng Thiên Thủ Quán Âm cầu bình an.
Mùng 8 tháng TưÂm lịchĐại lễ Phật Đản (Lễ Tắm Phật)Chư tăng chùa Thánh Thọ cử hành khóa lễ Mộc Dục (tắm Phật), kết nối ý nghĩa trực tiếp với dòng nước suối tự nhiên chảy từ miệng rồng xuống tượng Thái Tử Tất Đạt Đa tại khám Cửu Long Dục Thái Tử.
Ngày 19 tháng Sáu và 19 tháng ChínÂm lịchLễ vía Quán Thế Âm Bồ Tát thành đạo và xuất giaHai kỳ hành hương lớn mùa hạ và mùa thu quy tụ các đạo tràng về Bắc Sơn và Bảo Đỉnh Sơn tụng Phổ Môn Phẩm và chú Đại Bi trước các khám Quán Âm đời Tống.
Rằm tháng BảyÂm lịchĐại lễ Vu Lan Báo HiếuCác gia đình đưa con cháu tới đứng trước bộ phù điêu đá Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh Biến và Đại Phương Quảng Phật Báo Ân Kinh Biến tại Đại Phật Loan để giảng giải đạo hiếu thảo và cầu siêu cho tổ tiên.

Gắn kết hành hương và sự đồng điệu sâu sắc với văn hóa tâm linh Việt Nam. Ngày nay, nhờ các tuyến bay kết nối thuận tiện từ Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh tới Trùng Khánh, Đại Túc là điểm chiêm bái được đông đảo chư tăng ni, Phật tử và giới nghiên cứu mỹ thuật cổ Việt Nam tìm đến. Đứng trước vách đá Bảo Đỉnh Sơn và Thạch Triện Sơn, người Việt bắt gặp hầu như trọn vẹn những mạch nguồn tinh thần từng định hình văn hóa Đại Việt thời Lý, Trần và Lê trung hưng: từ mô hình Tam giáo đồng nguyên (Phật, Đạo, Nho hòa quyện không xung đột), bộ tranh chăn trâu Mục Ngưu Đồ gắn liền với giáo lý Thiền phái Trúc Lâm trên núi Yên Tử, bản kinh báo hiếu cha mẹ Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh được khắc ván in lưu truyền khắp các chùa làng Bắc Bộ, cho tới phong cách tạc tượng Phật Bà Nghìn Mắt Nghìn Tay ở Chùa Bút Tháp và thần thái trầm tư giàu chất người của mười tám vị Tổ La Hán tại Chùa Tây Phương.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Trấn Baoding (Bảo Đỉnh Sơn) và núi Beishan (Bắc Sơn), quận Dazu (Đại Túc), thành phố trực thuộc trung ương Trùng Khánh (重庆市大足区宝顶镇大足石刻景区)
Đường tới
Quận Đại Túc nằm cách trung tâm đô thị Trùng Khánh khoảng 90 km về phía tây. Từ ga đường sắt cao tốc Chongqing West (Trùng Khánh Tây) hoặc Chongqing North, quý vị có thể đi tàu cao tốc khoảng 30 tới 40 phút tới ga Dazu South (Đại Túc Nam), hoặc đi xe khách tuyến thẳng từ bến xe Trùng Khánh tới bến xe Đại Túc, sau đó bắt xe buýt du lịch nội quận số 205 lên khu Bảo Đỉnh Sơn (cách trung tâm quận 15 km về phía đông bắc) và Bắc Sơn (cách trung tâm quận 2 km).
Toạ độ
29.7544, 105.7941
Khi tới nơi

Hầu hết các tác phẩm điêu khắc tại Đại Phật Loan (Bảo Đỉnh Sơn) và Phật Loan (Bắc Sơn) là tượng đá sa thạch cổ có lớp màu khoáng và vàng lá lộ thiên trong môi trường ẩm. Khi đi dọc lối tham quan dưới chân vách đá, quý vị tuyệt đối không chạm tay lên bề mặt đá, không bật đèn nháy máy ảnh (flash) chiếu vào các bức tượng sơn màu và bức Thiên Thủ Quán Âm, đồng thời giữ trật tự nhẹ nhàng khi đi qua khu vực chùa Thánh Thọ đang có chư tăng tu học. Đường xuống hẻm núi Bảo Đỉnh Sơn có nhiều bậc đá rêu ẩm vào những ngày mưa phùn vùng Trùng Khánh, quý vị nên mang giày đế bám tốt và bước đi cẩn thận.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tượng khắc đá Đại Túc, Trùng Khánh

Contribute photos, information or video for Dazu Rock Carvings, Chongqing

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Tượng khắc đá Đại Túc khác gì so với ba đại thạch khố Đôn Hoàng, Vân Cương và Long Môn

Nếu Đôn Hoàng, Vân Cương và Long Môn tiêu biểu cho giai đoạn đầu và giữa của nghệ thuật hang đá Trung Hoa ở phương Bắc (từ thế kỷ 4 tới thế kỷ 8), thì Đại Túc ở Trùng Khánh là đỉnh cao khép lại lịch sử thạch khố vào giai đoạn muộn từ cuối thời Đường (892) tới thời Nam Tống (1249). Đặc trưng riêng của Đại Túc là sự dung hợp Tam giáo (Phật, Đạo, Nho cùng hiện diện) và phong cách điêu khắc gần gũi đời thường, giàu tính giáo dục đạo hiếu nhân văn.

Ai là người đã thiết kế quần thể Đại Phật Loan trên núi Bảo Đỉnh và xây dựng trong bao lâu

Toàn bộ quần thể Đại Phật Loan (dài 500 mét hình móng ngựa) và Tiểu Phật Loan trên núi Bảo Đỉnh do một vị cao tăng duy nhất thời Nam Tống là đại sư Triệu Trí Phượng (sinh năm 1159) trực tiếp quy hoạch và chỉ huy đục chạm liên tục suốt 70 năm, từ năm 1179 tới năm 1249. Nhờ vậy, hơn một vạn pho tượng tại đây gắn kết chặt chẽ như một bộ kinh liên hoàn hoàn chỉnh mà không bị trùng lặp.

Pho tượng Thiên Thủ Quán Âm ở Đại Túc thực tế có bao nhiêu cánh tay đá

Pho tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm tại khám số 8 Đại Phật Loan là pho tượng đá duy nhất tạc nổi từng cánh tay vươn kín diện tích vách đá rộng 88 mét vuông. Dù các tài liệu cũ từng ước đếm là 1.007 tay, cuộc khảo sát đo đạc quét ba chiều và trùng tu thếp vàng cấp quốc gia hoàn thành năm 2015 đã xác định chính xác pho tượng có 830 cánh tay và bàn tay đá cầm các pháp khí Phật giáo khác nhau.

Tinh thần Tam giáo hợp lưu Phật, Đạo, Nho được thể hiện ở những cụm núi nào tại Đại Túc

Tinh thần Tam giáo hợp lưu thể hiện rõ nhất ở các cụm núi thời Tống: tại Thạch Triện Sơn (tạc năm 1082 tới 1096), khám thờ Khổng Tử và Mười đệ tử Nho giáo, khám Tam Thân Phật và khám Thái Thượng Lão Quân của Đạo giáo được đục nằm liền kề nhau trên cùng một vách đá. Tại Thạch Môn Sơn, các khám Phật giáo xen kẽ với khám Đạo giáo, còn Nam Sơn lưu giữ hệ thống tượng đá Đạo giáo Tam Thanh thời Nam Tống bậc nhất Trung Hoa.

Vì sao pho tượng Phật Nhập Niết Bàn dài 31 mét chỉ tạc nửa thân trên mà không tạc bàn chân

Pho tượng Thích Ca Mâu Ni Nhập Niết Bàn ở vách đông Đại Phật Loan dài 31 mét chỉ tạc lộ rõ phần đầu, vai và nửa thân trên nằm nghiêng sườn phải, còn phần chân ẩn chìm vào hai đầu vách núi tự nhiên. Các nghệ nhân đời Tống chủ ý dùng thủ pháp mỹ thuật để ẩn tạo ảo giác thân lượng của Đức Phật lớn lao vô biên, nối liền với cả dãy núi đá hùng vĩ bao quanh.

›Đọc Tiếp