Giữa vùng bình nguyên trù phú nơi sông Mun uốn mình hội tụ cùng các nhánh phụ lưu Chakkarat và Khem thông nước quanh năm ở phía đông bắc thành phố Nakhon Ratchasima khoảng sáu mươi cây số, những bức tường đá ong đỏ sẫm của tòa thành cổ Vimayapura mở ra một khoảng sân cỏ bằng phẳng rộng mênh mông. Bước qua nhịp cầu rắn thần Naga bắc ngang thềm đá sa thạch hồng phía nam, khách chiêm bái nhìn thấy từ xa một ngọn tháp búp sen bằng đá sa thạch trắng ngà vươn cao hai mươi tám mét lên nền trời nắng gió vùng Isan, nổi bật giữa hai ngọn tháp phụ một bằng đá ong sẫm màu và một bằng sa thạch đỏ gạch đứng hầu hai bên tả hữu.
Đó là Đền đá Khmer Phimai (tên tiếng Thái là Prasat Hin Phimai, ปราสาทหินพิมาย), quần thể đền tháp Phật giáo có tường vây lớn bậc nhất của nền văn minh Khmer cổ còn bảo tồn trên lãnh thổ Thái Lan hiện nay. Khác với đại đa số đền đài thời đế chế Angkor vốn quay mặt về hướng chính Đông để đón mặt trời mọc và phụng thờ các vị thần Ấn Độ giáo trước khi chuyển đổi tôn giáo, Prasat Hin Phimai ngay từ buổi đặt đá móng vào cuối thế kỷ 11 đã được quy hoạch thuần túy làm một đại đạo tràng Phật giáo Đại thừa và Mật giáo Kim Cương thừa, đồng thời xoay toàn bộ trục thần đạo về hướng Nam Đông Nam để nối liền mạch tâm linh theo tuyến Hoàng lộ cổ dài hai trăm hai mươi lăm cây số dẫn về kinh đô Angkor.

IĐức Phật Che Rắn Naga, Minh Vương Trailokyavijaya Và Mạn Đà La Kim Cương Thừa Bằng Đá
Tên gọi Phimai trong tiếng Thái hiện đại bắt nguồn trực tiếp từ địa danh tiếng Phạn và tiếng Khmer cổ khắc trên các tấm bia đá tại di tích là Vimayapura hay Bhimapura, trong đó gốc từ Vimaya hàm nghĩa đấng vô úy vượt thoát cõi mê lầm và cũng là tôn hiệu riêng của pho tượng Phật chủ từng ngự tại tâm điểm điện thờ chính: Kamrateng Jagat Vimaya (Đức Chúa Tể Tối Thượng của thành Vimaya). Pho tượng nguyên thủy tại nội điện trung tâm thể hiện Đức Phật ngồi thiền định tĩnh tại trên các cuộn thân rắn thần Mucalinda (rắn Naga bảy đầu xòe tán che mưa bão cho Đức Thế Tôn trong tuần lễ thứ sáu sau đêm thành đạo), một hình mẫu điêu khắc đặc trưng bậc nhất của nghệ thuật Phật giáo Khmer từ thế kỷ 11 tới thế kỷ 13. Dù pho tượng gốc của nội điện nay được bảo quản tại Bảo tàng Quốc gia Phimai gần đó và thay bằng bản phục chế chuẩn xác tại chỗ, sự hiện diện của Đức Phật tọa thiền dưới tán Naga vẫn định hình toàn bộ cốt tủy tâm linh trầm mặc của ngôi đền.
Điểm làm nên vị thế học thuật đặc biệt của Prasat Hin Phimai trong lịch sử mỹ thuật Đông Nam Á chính là chương trình phù điêu Mật giáo Kim Cương thừa (Vajrayana) hoàn chỉnh chạm khắc trên hệ thống mi cửa (lintel) vây quanh tiền sảnh và nội thất của ngọn tháp trung tâm Prang Prathan. Trong khi các mặt tường bên ngoài của tháp chính và các cổng gopura khắc họa những trường đoạn sử thi Ramayana (như cảnh hoàng tử Rama và Lakshmana bị trói bằng mũi tên rắn Nagapasha rồi được chim thần Garuda bay xuống giải cứu) cùng các huyền tích thần Krishna nâng núi Govardhana nhằm biểu thị vòng sinh tử thế tục bên ngoài cõi giác ngộ, thì khi bước chân qua ngưỡng cửa tiến vào lòng nội điện tối thâm nghiêm, toàn bộ phù điêu trên bốn vách trong lập tức chuyển sang thế giới chư Phật, Bồ tát và Minh vương của Mật tông.
Nổi bật trên vách mi cửa phía trong của nội điện là hình tượng chư vị Phật thiền định xếp thành hàng mạn đà la, cảnh Đức Phật thuyết pháp cảm hóa ác ma và đặc biệt là bức phù điêu khắc họa Minh vương Trailokyavijaya (Hàng Tam Thế Minh Vương) với mười cánh tay cầm pháp khí Kim Cương thừa và bốn gương mặt uy nộ đang bước chân hàng phục sự vô minh chấp ngã của tam giới. Song hành với hình tượng chính tôn ấy, các nhà khảo cổ còn nhận diện hình tượng Kim Cương Tát Đỏa (Vajrasattva) cầm chày kim cương và chuông pháp cùng đoàn tùy tùng các nữ thần Yogini nhảy múa trong nghi quỹ quán đảnh. Sự phân lớp trong ngoài rõ rệt ấy biến hành trình bước từ sân ngoài vào lòng tháp trắng thành một cuộc nhập đàn mạn đà la bằng xương bằng thịt: gác lại huyền thoại anh hùng thế gian bên ngoài hiên đá để đi thẳng vào tâm điểm bất động của trí tuệ Bát nhã và đại định Kim Cương thừa.
Trong tư tưởng Phật giáo Mật thừa thịnh hành tại vùng cao nguyên Khorat dưới vương triều Mahidharapura, hình tượng Hàng Tam Thế Minh Vương (Trailokyavijaya) không mang hàm nghĩa xung đột tôn giáo thế tục mà là pháp thân phẫn nộ hóa hiện từ lòng đại bi của Đức Phật Đại Nhật và Bồ tát Kim Cương Thủ nhằm phá tan ba độc tham, sân, si đang trói buộc chúng sinh trong ba cõi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Việc đặt tượng Đức Phật tọa thiền điềm tĩnh dưới tán rắn Naga ở ngay tâm điểm mạn đà la và bao quanh bởi các Minh vương uy mãnh trên mi cửa cho thấy pháp môn tu tập tại Vimayapura lấy thiền quán tĩnh lặng làm thể và mật chú kim cương làm dụng: bên ngoài sắc tướng dũng mãnh phá trừ chướng ngại, bên trong tâm thức phẳng lặng như mặt nước hồ sen.
Cùng với hệ thống tượng pháp Mật tông, ngọn tháp trung tâm Prang Prathan cao 28 mét được kiến tạo theo đồ hình núi vũ trụ Tu Di (Sumeru) của Phật giáo. Bốn cửa mở ra bốn phương tại chân tháp kết hợp với các tầng mái giật cấp thu nhỏ dần lên cao và kết thúc bằng búp sen đá chạm trổ cánh sen nở rộ tượng trưng cho quá trình tâm thức người hành giả vươn từ bùn lầy phàm tục lên tới quả vị Phật toàn giác nơi đỉnh vũ trụ.
Bằng chứng chữ viết quan trọng bậc nhất xác lập niên đại và tôn giáo của ngôi đền là tấm bia khắc chữ Phạn và chữ Khmer cổ K.397 tìm thấy trên khung cửa cổng gopura phía nam dẫn vào khu nội viện thứ nhất. Văn bia ghi nhận vào năm 1030 lịch Saka (tức năm 1108 Công nguyên, tiếp nối bằng dòng ghi năm 1034 Saka tức năm 1112 Công nguyên), vị đại tổng trấn cai quản thành Vimayapura tên là Sri Virendradhipativarman (vị tướng quốc từng được khắc họa trên phù điêu hành binh tại Angkor Wat sau này) đã long trọng dựng tôn tượng vị thần hộ pháp Kim Cương thừa Trailokyavijaya mang danh hiệu đại tướng quân bảo vệ Đức Chúa Tể Kamrateng Jagat Vimaya. Tư liệu bia ký quý giá này chứng minh ngay từ đầu thế kỷ 12, dưới triều vua Jayavarman VI (trị vì từ 1080 tới 1107) và vua Dharanindravarman I (trị vì từ 1107 tới 1113), Phimai đã là trung tâm Phật giáo gốc gác của hoàng tộc Mahidharapura xuất thân từ lưu vực sông Mun trước khi vương triều này nắm quyền cai trị toàn bộ đế chế Angkor.
Đến cuối thế kỷ 12 và đầu thế kỷ 13, vị hoàng đế Phật giáo nổi tiếng Jayavarman VII (trị vì từ 1181 tới 1219, người kiến tạo Đền Bayon tại Angkor Thom) đã tiếp tục tôn tạo lớn thánh địa tổ tiên tại Vimayapura. Nhà vua cho xây dựng thêm tháp đá ong Prang Brahmadat ở góc đông nam sân trong, nơi các nhà khảo cổ tìm thấy pho tượng đá sa thạch tạc chân dung chính vua Jayavarman VII ngồi xếp bằng với đôi mắt khép hờ từ bi trong dáng một người tu hành khiêm cung (dân gian địa phương về sau quen gọi pho tượng là vua Brahmadat trong truyền thuyết bản địa), đồng thời hoàn thiện hệ thống 17 trạm nghỉ chân hành hương (dharmasala) và các y viện từ thiện (arogyasala) nối liền Angkor với Phimai.
Khi chiêm ngưỡng dáng tháp búp sen uốn cong mềm mại của Prasat Hin Phimai rất giống năm ngọn tháp nổi tiếng của Angkor Wat bên đất Campuchia, nhiều du khách thường nghĩ rằng đền Phimai là một công trình tỉnh lẻ mô phỏng theo Angkor Wat. Sự thật khảo cổ học hoàn toàn ngược lại: ngọn tháp trung tâm bằng đá sa thạch trắng của Phimai được khởi dựng dưới thời vua Jayavarman VI vào cuối thế kỷ 11, sớm hơn Angkor Wat của vua Suryavarman II khoảng ba tới bốn thập niên. Chính tỷ lệ giật cấp thanh thoát và cấu trúc chóp búp sen hoàn mỹ của tháp Phimai mới là nguyên mẫu kiến trúc tiên phong mở đường cho phong cách cổ điển Angkor Wat lừng lẫy thế kỷ 12.
IIChín Thế Kỷ Từ Kinh Thành Vimayapura Tới Cuộc Giải Phẫu Trùng Tu Tiên Phong Tại Thái Lan
Mảnh đất lưu vực sông Mun quanh Phimai vốn đã có cư dân nông nghiệp trồng lúa nước và luyện đồng, luyện sắt cư trú liên tục từ thời tiền sử cách nay khoảng hai nghìn năm trăm năm tới ba nghìn năm (văn hóa đồ gốm đen Phimai danh tiếng vùng Đông Bắc Thái Lan). Trên nền tảng một thị ấp cổ phồn thịnh nằm ở giao điểm thủy bộ của cao nguyên Khorat, các bậc quân vương dòng Mahidharapura từ thế kỷ 11 đã kiến thiết Vimayapura thành một đô thị hình chữ nhật quy củ có hào nước và lũy thành bao bọc rộng tới sáu mươi sáu héc ta, đặt quần thể đền đá Prasat Hin Phimai làm trái tim tâm linh tối cao ở chính giữa lòng thành.
Sau khi đế chế Angkor suy yếu vào thế kỷ 14 và trung tâm quyền lực vùng lưu vực sông Chao Phraya chuyển sang vương quốc Ayutthaya rồi Rattanakosin, những mái hiên gỗ mục nát dần và ngọn tháp sa thạch trắng rơi vào cảnh hoang phế, nhiều tảng đá vòm gãy đổ chồng chất lên nhau qua hàng thế kỷ mưa nắng. Dù vậy, cư dân thị trấn Phimai định cư ngay trên nền thành cổ Vimayapura vẫn truyền đời giữ lòng tôn kính đối với tòa cổ tháp và pho tượng nhà vua ngồi thiền trong tháp đá ong. Bước sang thế kỷ 20, Prasat Hin Phimai trở thành công trường đầu tiên tại Thái Lan ứng dụng thành công phương pháp giải phẫu trùng tu (anastylosis, tháo dỡ đánh số từng viên đá gốc và lắp ghép phục nguyên theo đúng vị trí giải phẫu học kiến trúc), mở ra kỷ nguyên bảo tồn khoa học cho hàng loạt di tích đá Khmer khắp miền Đông Bắc.
- Cuối thế kỷ 11Vua Jayavarman VI khởi dựng tháp chính trên nền tín ngưỡng cổXuất thân từ vương triều Mahidharapura vùng thượng lưu sông Mun, vua Jayavarman VI (trị vì 1080 tới 1107) cho kiến thiết quần thể đền Phật giáo quy mô lớn bằng đá sa thạch trắng và sa thạch hồng ngay trung tâm thành Vimayapura.
- 1108 tới 1112Tổng trấn Sri Virendradhipativarman khắc bia và tôn trí tượng Minh vươngVăn bia K.397 trên cổng gopura phía nam ghi lại việc vị đại thần trấn thủ thành Vimayapura dâng cúng đất đai, nô bộc và an vị tôn tượng Minh vương Trailokyavijaya hộ trì Phật pháp năm 1108 dưới triều vua Dharanindravarman I.
- Cuối thế kỷ 12 tới đầu thế kỷ 13Vua Jayavarman VII mở rộng tường thành, dựng tháp phụ và Hoàng lộVua Jayavarman VII cho xây dựng tháp sa thạch đỏ Prang Hin Daeng, tháp đá ong Prang Brahmadat đặt tượng chân dung nhà vua, củng cố cổng thành thắng lợi phía nam và hoàn chỉnh 17 trạm nghỉ chân dọc tuyến đường dài 225 km từ Angkor tới Phimai.
- 1901 và 1936Khảo sát học thuật đầu tiên và xếp hạng Di tích Quốc giaNhà khảo cổ người Pháp Etienne Aymonier thực hiện đợt khảo tả khoa học và dịch giải bia ký đầu tiên năm 1901. Ngày 27 tháng 9 năm 1936, Chính phủ Thái Lan chính thức công bố đăng ký Prasat Hin Phimai vào danh mục Di tích lịch sử quốc gia trên Công báo Hoàng gia.
- 1964 tới 1969Trùng tu tháp trung tâm bằng kỹ thuật Anastylosis hợp tác Pháp TháiCục Mỹ thuật Thái Lan phối hợp cùng Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO) dưới sự cố vấn kỹ thuật của kiến trúc sư trưởng Angkor là Bernard-Philippe Groslier và Hoàng thân Subhadradis Diskul tiến hành hạ giải, gia cố móng bê tông cốt thép ẩn và lắp ghép phục nguyên ngọn tháp trắng Prang Prathan.
- 1989 và 2004Khánh thành Công viên Lịch sử Phimai và đệ trình hồ sơ UNESCOSau dự án chỉnh trang toàn bộ thành cổ kéo dài từ 1976 tới 1989, Công chúa Maha Chakri Sirindhorn chủ trì lễ khánh thành Công viên Lịch sử Phimai ngày 12 tháng 4 năm 1989. Năm 2004, quần thể Phimai cùng tuyến đường cổ và các đền liên đới được đưa vào Danh sách Dự kiến Di sản Thế giới của UNESCO.
Tuyến Hoàng lộ cổ dài 225 cây số nối kinh đô Angkor với thành Vimayapura. Các cuộc khảo sát ảnh viễn thám radar, không ảnh và khai quật thực địa của dự án Living Angkor Road đã dựng lại trọn vẹn con đường đắp đất thẳng tắp rộng từ mười tới mười lăm mét xuất phát từ cửa bắc kinh thành Angkor Thom, vượt qua dãy núi biên giới Dangrek tại đèo Ta Muen (nơi có cụm đền Ta Muen Thom và trạm nghỉ Ta Muen), đi ngang chân núi lửa Phanom Rung và đền Muang Tam ở tỉnh Buriram rồi tiến thẳng vào cổng thành phía nam Pratu Chai của Vimayapura. Cứ cách khoảng mười hai tới mười lăm cây số tương ứng một ngày đường bộ hành, vua Jayavarman VII lại cho dựng một ngôi nhà lửa (dharmasala hay wahni-griha bằng đá ong hoặc sa thạch có cửa sổ một bên) để lữ khách hành hương, sứ thần và đoàn voi ngựa nghỉ đêm xin lửa thắp đèn lễ Phật. Sự tồn tại của mười bảy nhà nghỉ đá dọc tuyến đường này minh chứng Phimai giữ vai trò thủ phủ hành chính và tôn giáo trọng yếu bậc nhất ở biên cương phía bắc đế chế Khmer suốt hai thế kỷ.
IIIBa Vòng Tường Đá Đồng Tâm, Bảo Tháp Sa Thạch Trắng Và Hai Tháp Hộ Vệ
Toàn bộ không gian đô thị và tôn giáo của Phimai được tổ chức thành ba lớp khung chữ nhật lồng vào nhau theo trật tự vũ trụ quan nghiêm ngặt. Lớp ngoài cùng là vòng tường thành đô thị Vimayapura rộng khoảng 565 mét theo chiều ngang và dài 1.030 mét theo chiều dọc, bốn mặt có hào nước sâu dẫn thủy từ sông Mun và trổ bốn cổng thành lớn xây đá sa thạch, trong đó cổng Pratu Chai (Cổng Chiến Thắng) ở phía nam đông nam nằm thẳng tắp trên trục chính dẫn vào đền. Bên trong lòng thị trấn hiện đại vẫn giữ nguyên trật tự bàn cờ cổ ấy là lớp tường đá sa thạch đỏ thứ hai (ngoại viện của khu đền, kích thước khoảng 220 mét nhân 277,5 mét) và lớp hành lang kín có mái vòm đá thứ ba (nội viện hay rabiang khot, ระเบียงคด, kích thước khoảng 72 mét nhân 80 tới 83 mét) vây quanh khoảng sân trung tâm lát đá phẳng phiu.
Sự tinh tế về vật liệu của các kiến trúc sư Khmer thế kỷ 11 tới 13 thể hiện qua cách phối hợp ba loại đá tự nhiên có sắc độ tương phản khai thác từ các mỏ đá khác nhau quanh vùng Khorat. Đá ong lỗ rỗ màu nâu sẫm già đanh, chịu lực nén tốt được dùng để đắp nền móng, xây tường bao ngoại vi, dựng tháp Prang Brahmadat và khu nhà tàng kinh. Đá sa thạch hồng đỏ hạt mịn được dùng cho toàn bộ cầu Naga, bốn cổng gopura, dãy hành lang vòm cuốn và tháp Prang Hin Daeng. Riêng đá sa thạch trắng vàng quý hiếm, sáng màu và mịn màng bậc nhất được dành trọn cho ngọn bảo tháp trung tâm Prang Prathan để ngay khi bước qua cổng gopura tối màu, mắt người chiêm bái lập tức hội tụ vào khối tháp trắng rực sáng giữa sân như đóa bạch liên vươn khỏi mặt đầm.
Mở đầu trục hành lễ phía nam đông nam là gian sảnh tiền đường chữ thập (dân gian gọi là Khlang Ngoen tức Kho Bạc, nhiều khả năng là sảnh dừng kiệu thay lễ phục hoàng gia) nối liền lên đôi lan can cầu Naga bảy đầu xòe mang uy nghi kèm tượng sư tử đá canh gác, biểu trưng cho chiếc cầu vồng nối cõi phàm trần với cõi chư thiên trên núi Tu Di.
Cả lớp tường ngoại viện lẫn lớp hành lang nội viện đều mở bốn cổng tháp chữ thập (gopura) ở bốn phương Nam Đông Nam, Bắc Tây Bắc, Đông Đông Bắc và Tây Tây Nam nhưng lệch nhẹ về phía nam để nhường khoảng sân trước rộng rãi cho tháp chính. Trên vòm cửa gopura nội viện phía nam vẫn lưu giữ các rãnh chốt cửa gỗ, lỗ tra bản lề đá và văn bia cổ K.397 năm 1108.
Cao khoảng 28 mét tính từ nền sân tới đỉnh búp sen, ngọn tháp chính gồm tiền sảnh kéo dài về phía nam đông nam (mandapa), cổ nối (antarala) và phương thất nội điện vuông vức (garbhagriha) mỗi cạnh trong lòng rộng chừng 4,2 mét. Bốn mặt ngoài của tháp chạm nổi dày đặc hình thần giữ phương Dikpala, chim thần Garuda nâng đỡ tầng diềm mái, các vũ nữ Apsara và vòng cánh sen khép chóp mềm mại.
Đứng đăng đối phía trước hai bên tả hữu của tháp trắng nhưng xây lùi về cuối thế kỷ 12 đầu thế kỷ 13 là hai ngọn tháp phụ bổ sung thời vua Jayavarman VII: bên trái (phía tây) là Prang Hin Daeng xây bằng sa thạch đỏ tươi còn giữ mi cửa khắc cảnh săn heo rừng trong sử thi Mahabharata, bên phải (phía đông) là Prang Brahmadat xây hoàn toàn bằng đá ong nâu đen nơi phát hiện pho tượng chân dung vua Jayavarman VII và tượng nữ hoàng Jayarajadevi quỳ lễ.
Ở khoảng sân giữa vòng tường ngoại viện và hành lang nội viện phía tây có hai tòa nhà chữ nhật dài bằng sa thạch xám hồng gọi là Bannalai (Tàng Kinh Các để lưu giữ kinh lá buông và pháp khí), trong khi bốn góc sân ngoài bố trí bốn hồ nước vuông vức kè đá tượng trưng cho bốn đại dương bao quanh chân núi vũ trụ.
Phía trước cổng nam ngoài tường đền là hồ nước vuông Sa Phleng mát rượi soi bóng tường thành, còn cách đền vài trăm mét về phía đông nam ngay giữa chợ Phimai là gò tháp gạch cổ Meru Brahmadat gắn với truyền thuyết dân gian bản địa, hoàn thiện chỉnh thể cảnh quan đô thị cổ Vimayapura.
| Hạng mục | Thông số và đặc điểm kỹ thuật | Nguồn kiểm chứng |
|---|---|---|
| Kích thước thành cổ Vimayapura | Hình chữ nhật rộng khoảng 565 m nhân dài 1.030 m (diện tích khoảng 66 ha), bao quanh bởi hào nước sông Mun | Hồ sơ Dự kiến UNESCO số 1919, Cục Mỹ thuật Thái Lan |
| Khuôn viên đền (ngoại viện và nội viện) | Tường ngoại viện 220 m nhân 277,5 m, hành lang nội viện 72 m nhân 80 tới 83 m xây bằng đá sa thạch hồng và đá ong | Cục Mỹ thuật Thái Lan (Fine Arts Department) |
| Chiều cao tháp chính Prang Prathan | Cao khoảng 28 m, xây hoàn toàn bằng đá sa thạch trắng vàng, trùng tu Anastylosis giai đoạn 1964 tới 1969 | Cục Mỹ thuật Thái Lan, Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp |
| Phương vị trục thần đạo | Quay hướng Nam Đông Nam (lệch khoảng 20 độ về phía đông so với hướng chính Nam, phương vị khoảng 159 tới 160 độ), hướng về phía kinh đô Angkor cách 225 km | Khảo sát khảo cổ học thiên văn và dự án Living Angkor Road |
| Danh hiệu di sản | Di tích quốc gia Thái Lan (27 tháng 9 năm 1936), Công viên lịch sử (12 tháng 4 năm 1989), Danh sách Dự kiến UNESCO (2004) | Công báo Hoàng gia Thái Lan, UNESCO |
IVThế Đất Và Hướng
Các bậc quy hoạch đô thị Khmer cổ đại khi chọn đất lập thành Vimayapura đã vận dụng triệt để nguyên lý thủy thành thiên nhiên của bồn địa sông Mun kết hợp với phép định hướng địa lý chính trị và tâm linh độc nhất vô nhị trong toàn bộ hệ thống đền tháp Angkor. Phần dưới đây đối chiếu địa thế thực địa của Prasat Hin Phimai qua lăng kính hình thế sơn thủy cổ truyền của thư viện.
Xét về thủy cục và thế đảo nổi giữa lòng sông tại tọa độ 15,22067 độ vĩ bắc, 102,49386 độ kinh đông, thành cổ Vimayapura ngự trên một gò đất phù sa cổ cao ráo không bao giờ ngập lụt (cao độ trung bình khoảng 160 mét so với mực nước biển), được ôm bọc cả bốn bề bởi mạng lưới sông rạch tự nhiên trù phú bậc nhất vùng bán khô hạn Đông Bắc Thái Lan. Phía bắc và phía đông thành là dòng chính sông Mun uốn lượn vòng cung như chiếc đai ngọc lớn, phía tây có sông Khem và phía nam có nhánh sông Chakkarat đổ về giao hội, biến toàn bộ kinh thành cổ thành một thủy trung châu đảo (hòn đảo đất lành nổi giữa vòng tay nước ôm hay thế ngọc đái hoàn yêu trong thủy pháp cổ truyền). Người Khmer xưa còn đào thêm các hồ chứa nước chữ nhật (baray) lớn ở rìa thành cùng bốn hồ vuông ở bốn góc sân đền và hồ Sa Phleng ngay trước cửa tiền đường, giúp mạch ngầm dưới chân móng sa thạch luôn giữ độ ẩm ổn định suốt mùa khô hạn gay gắt của cao nguyên Khorat mà không làm lún sụt khối đá nặng hàng nghìn tấn.
Điểm kỳ lạ và đắt giá nhất về phương vị của Prasat Hin Phimai là thế tọa Bắc Tây Bắc hướng Nam Đông Nam, cụ thể trục chính xuyên từ tâm bảo tháp trắng qua cầu Naga và cổng Chiến Thắng Pratu Chai xoay lệch khoảng 20 độ về phía đông so với hướng chính Nam (góc phương vị địa bàn khoảng 159 tới 160 độ, tức lệch khoảng 70 độ về phía nam so với hướng chính Đông, ứng vào sơn Bính tiếp giáp sơn Tỵ phía nam đông nam, trong khi cổng phía đông nằm ở phương vị khoảng 69,5 độ). Trong khi chín phần mười đền đài Khmer cổ đều nhất loạt quay về chính Đông (90 độ) hoặc cá biệt quay chính Tây như Angkor Wat, thì các quốc sư vương triều Mahidharapura đã chủ động xoay toàn bộ bình đồ thành trì và đền tháp Phimai chéo về phương nam đông nam để mặt tiền ngôi đền hướng về phía kinh đô Angkor (nằm ở phương vị trắc địa khoảng 144 độ bên kia dãy núi Dangrek).
Xét theo lý khí hình thế, hướng Nam Đông Nam vừa đón luồng gió mát mùa mưa từ biển thổi ngược theo lưu vực sông Mekong và sông Mun lên đồng bằng Khorat, vừa đặt cổng chính Pratu Chai đón thẳng điểm kết thúc của Hoàng lộ cổ 225 cây số tiến vào từ phương nam đông nam. Toàn bộ sinh khí hành hương, sứ bộ triều đình và giao thương từ trung tâm đế chế vượt đèo núi tiến lên phương bắc đều tụ thẳng vào minh đường hồ Sa Phleng và cầu Naga trước khi quy tâm về ngọn tháp sa thạch trắng ở chính huyệt thành cổ, tạo nên sự gắn kết đồng trục bền chặt suốt nhiều thế kỷ giữa đất tổ phương bắc và kinh sư phương nam.
VLễ Hội Phimai Hằng Năm, Đua Thuyền Dài Trên Sông Mun Và Đời Sống Văn Hóa Đương Đại
Ngày nay, dù Prasat Hin Phimai được bảo tồn nghiêm ngặt dưới quy chế một công viên lịch sử khảo cổ cấp quốc gia chứ không có tăng đoàn cư trú sinh hoạt ngay bên trong các tháp đá cổ, ngôi đền vẫn là trái tim văn hóa và tâm linh sống động của người dân huyện Phimai cùng toàn tỉnh Nakhon Ratchasima. Hằng ngày, cư dân địa phương vẫn giữ nếp mang hoa sen trắng, vòng hoa nhài tươi và nén hương thơm vào lễ bái trang nghiêm trước bản sao pho tượng Đức Phật che rắn Naga trong lòng tháp chính và trước tôn tượng vua Jayavarman VII trong tháp đá ong Prang Brahmadat để cầu bình an và sức khỏe. Bảng dưới đây tổng hợp các kỳ lễ hội và sinh hoạt văn hóa lớn gắn liền với di tích trong năm.
| Thời gian | Hệ lịch | Tên lễ hội và sự kiện | Hoạt động chính tại Prasat Hin Phimai |
|---|---|---|---|
| Tuần thứ hai của tháng 11 hằng năm (thường kéo dài 5 ngày) | Dương lịch (cuối mùa nước nổi sông Mun) | Lễ hội Phimai và Giải đua thuyền truyền thống (Phimai Festival and Long-Boat Races) | Buổi tối bên trong sân đền Prasat Hin Phimai diễn ra chương trình thực cảnh âm thanh và ánh sáng tái hiện huyền sử thành Vimayapura, vua Jayavarman VII cùng vũ điệu cổ điển Khmer trên nền tháp sa thạch trắng rực sáng. Ban ngày trên khúc sông Mun và hào nước Chakkarat sát thành cổ diễn ra giải vô địch đua thuyền rồng truyền thống sôi động bậc nhất vùng Đông Bắc Thái Lan. |
| Rằm tháng 3, tháng 6 và tháng 8 âm lịch Thái | Âm lịch Phật giáo (Makha Bucha, Visakha Bucha, Asanha Bucha) | Lễ dâng hoa chiêm bái Đức Phật Kamrateng Jagat Vimaya | Phật tử thị trấn Phimai và du khách thập phương thành kính dâng hoa sen, hương nến chiêm bái tượng Phật che rắn Naga trong nội điện Prang Prathan, kết hợp tham gia khóa lễ đi nhiễu nến tại các tự viện Phật giáo Nam tông quanh khu thành cổ. |
| Ngày 13 tới 15 tháng 4 hằng năm | Dương lịch (Tết cổ truyền Thái Lan) | Lễ hội Songkran và lễ rước cầu phúc đầu năm tại Phimai | Người dân địa phương tổ chức lễ dâng nước thơm tắm tượng Phật tại khu phố cổ trước cổng đền, bày mâm cỗ tri ân các bậc tiền nhân khai mở vùng đất sông Mun và biểu diễn nhạc dân gian Korat đặc sắc. |
| Tháng 2 hoặc tháng 3 mùa khô | Dương lịch | Đêm nhạc cổ điển và múa truyền thống dưới chân tháp trắng | Cục Mỹ thuật và ngành văn hóa tỉnh Nakhon Ratchasima định kỳ tổ chức các đêm biểu diễn múa mặt nạ Khon trích đoạn sử thi Ramakien ngay trước sân cầu Naga để tôn vinh các bức phù điêu cổ khắc trên mi cửa đền. |
Hành trình kết nối không gian văn hóa Đông Bắc Thái Lan (Isan) với du khách và kiều bào Việt Nam. Tỉnh Nakhon Ratchasima (quen gọi là Korat) chính là cửa ngõ mở đầu cho toàn vùng cao nguyên Isan, miền đất lịch sử gắn bó mật thiết với hàng chục vạn bà con người Thái gốc Việt định cư lâu đời tại các tỉnh dọc sông Mekong như Udon Thani, Nong Khai, Sakon Nakhon, Nakhon Phanom và Mukdahan. Trên tuyến cao tốc Mittraphap nối thủ đô Bangkok lên vùng Đông Bắc, Prasat Hin Phimai cùng cây đa đại thụ Sai Ngam hơn ba trăm năm tuổi nằm bên đập nước sông Mun cách đền chỉ hai cây số là điểm dừng chân văn hóa không thể thiếu.
Đứng dưới chân ngọn bảo tháp đá sa thạch trắng chín trăm năm tuổi, ngắm nhìn những cánh sen đá chạm trổ thanh thoát cùng nụ cười thiền định hiền hòa của Đức Phật dưới tán rắn Naga, người lữ khách dễ dàng cảm nhận sợi dây giao hòa sâu thẳm của văn hóa Phật giáo Đại thừa và Nam tông từng chảy xuyên suốt lục địa Đông Nam Á trước khi các đường biên giới hiện đại hình thành.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Anantachinda Road, Nai Mueang Subdistrict, Phimai District, Nakhon Ratchasima 30110, Thailand (ถนนอนันทจินดา ตำบลในเมือง อำเภอพิมาย จังหวัดนครราชสีมา)
- Đường tới
- Khu di tích tọa lạc trên đường Anantachinda, ngay trung tâm thị trấn Phimai (phường Nai Mueang, huyện Phimai), cách trung tâm thành phố Nakhon Ratchasima khoảng 60 km về phía đông bắc. Từ bến xe buýt số 2 (Terminal 2) của thành phố Nakhon Ratchasima trên quốc lộ Mittraphap, quý vị bắt tuyến xe buýt địa phương đi thẳng thị trấn Phimai (khởi hành đều đặn suốt ngày, thời gian di chuyển khoảng 1 giờ 15 phút) và xuống ngay gần cổng Công viên Lịch sử Phimai. Nếu đi từ Bangkok, quý vị có thể đi xe khách đường dài từ bến Mo Chit 2 hoặc đi tàu hỏa từ ga Krung Thep Aphiwat tới Nakhon Ratchasima rồi nối chuyến xe buýt vào Phimai.
- Toạ độ
- 15.22067, 102.49386
Mặc dù là khu di tích khảo cổ ngoài trời thuộc Công viên Lịch sử Phimai, lòng tháp trung tâm Prang Prathan và tháp đá ong Prang Brahmadat vẫn được người dân địa phương tôn kính như chốn thờ Phật trang nghiêm. Quý vị khi tới thăm nên mặc trang phục lịch sự kín vai và dài ngang gối, đội mũ rộng vành hoặc mang ô che nắng vì mặt sân lát đá sa thạch phản xạ nhiệt khá mạnh vào buổi trưa. Khi bước qua bậc đá cao để vào bên trong nội điện tháp trắng, xin quý vị cúi nhẹ đầu tránh va chạm mi cửa đá thấp, giữ trật tự, tuyệt đối không trèo lên các bệ đá đổ nát hay chạm tay cọ xát vào bề mặt các bức phù điêu mi cửa cổ. Sau khi chiêm bái khu đền chính, quý vị rất nên ghé thăm Bảo tàng Quốc gia Phimai nằm ngay bên bờ sông Mun gần cầu vào thị trấn để tận mắt chiêm ngưỡng các bức mi cửa gốc, bia đá K.397 và pho tượng chân dung vua Jayavarman VII bằng sa thạch nguyên bản.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền đá Khmer Phimai (Prasat Hin Phimai), Nakhon Ratchasima
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đền đá Prasat Hin Phimai thờ thần Ấn Độ giáo hay thờ Đức Phật?
Khác với nhiều đền tháp Khmer khác vốn khởi đầu là đền Ấn Độ giáo rồi mới cải thành chùa Phật, Prasat Hin Phimai ngay từ khi khởi dựng vào cuối thế kỷ 11 đã là một thánh địa Phật giáo Đại thừa kết hợp Mật giáo Kim Cương thừa. Nội điện tháp chính thờ Đức Phật tọa thiền dưới tán rắn thần Naga (mang tôn hiệu Kamrateng Jagat Vimaya), xung quanh khắc phù điêu Minh vương Trailokyavijaya và mạn đà la chư Phật, còn các cảnh sử thi Ấn Độ giáo ở mặt ngoài đóng vai trò lớp biểu tượng thế gian bao bọc cõi giác ngộ bên trong.
Vì sao đền Phimai lại quay mặt về hướng Nam Đông Nam thay vì hướng chính Đông như lệ thường?
Đại đa số đền đài Khmer đều quay mặt về hướng chính Đông đón mặt trời mọc, riêng Prasat Hin Phimai cùng cổng thành Chiến Thắng (Pratu Chai) được quy hoạch xoay hẳn theo trục Bắc Tây Bắc tới Nam Đông Nam (lệch khoảng 20 độ về phía đông so với hướng chính Nam, tức góc phương vị khoảng 159 tới 160 độ). Các khảo sát khảo cổ học thiên văn xác nhận phương vị này hướng mặt tiền đền về phía kinh đô Angkor cách đó 225 km và đón trực diện điểm cuối của tuyến Hoàng lộ cổ nối từ Angkor Thom vượt dãy Dangrek lên thành Vimayapura.
Đền đá Phimai và đền Angkor Wat ở Campuchia nơi nào được xây dựng trước?
Ngọn tháp trung tâm bằng đá sa thạch trắng của Prasat Hin Phimai được khởi dựng vào cuối thế kỷ 11 dưới triều vua Jayavarman VI (trị vì 1080 tới 1107), tức là sớm hơn đền Angkor Wat của vua Suryavarman II khoảng ba tới bốn mươi năm. Kiểu dáng tháp chóp búp sen uốn cong thanh thoát của Phimai chính là hình mẫu kiến trúc tiền thân trực tiếp cho năm ngọn tháp búp sen danh tiếng của Angkor Wat.
Ba ngọn tháp đứng cạnh nhau ở sân trong của đền Phimai được xây bằng những loại đá nào?
Ba ngọn tháp ở nội viện thể hiện ba chất liệu đá khác nhau và hai giai đoạn xây dựng kế tiếp: ngọn tháp lớn ở chính giữa (Prang Prathan, cao 28 mét, cuối thế kỷ 11) xây bằng đá sa thạch trắng vàng quý hiếm, ngọn tháp bên trái phía tây (Prang Hin Daeng, cuối thế kỷ 12 đầu thế kỷ 13) xây bằng đá sa thạch đỏ rực, còn ngọn tháp bên phải phía đông (Prang Brahmadat, thời vua Jayavarman VII) xây hoàn toàn bằng đá ong lỗ rỗ màu nâu đen.
Pho tượng nhà vua ngồi thiền tìm thấy trong tháp đá ong Prang Brahmadat là chân dung vị vua nào?
Pho tượng đá sa thạch tạc một người đàn ông vạm vỡ búi tóc cao, ngồi xếp bằng tĩnh lặng với gương mặt hiền từ phát hiện trong tháp Prang Brahmadat từng được dân gian địa phương gọi theo truyền thuyết là vua Brahmadat. Tuy nhiên, đối chiếu phong cách điêu khắc chân dung ở Angkor Thom và Preah Khan, giới khảo cổ học quốc tế đã xác nhận đây chính là một trong những pho tượng chân dung nguyên bản quý giá nhất của hoàng đế Phật giáo Jayavarman VII (trị vì 1181 tới 1219), hiện bản gốc được trưng bày tại Bảo tàng Quốc gia Phimai.