Ở cực đông bắc của vùng Đông Anatolia thuộc tỉnh Kars, cách trung tâm thành phố Kars khoảng 42 kilômét về phía đông, thảo nguyên cao nguyên rộng mênh mông ở độ cao hơn một nghìn ba trăm mét bất ngờ đứt gãy trước một hẻm núi đá bazan sâu thẳm nơi dòng sông Akhurian (sông Arpaçay, tạo thành đường biên giới tự nhiên ngày nay giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Cộng hòa Armenia) cuộn chảy. Trên mũi đất hình tam giác được che chở bởi những bức tường thành đá hai lớp có chạm hình báo gấm ấy hiện lên bóng dáng trầm mặc của những ngôi thánh đường xây bằng đá tufa núi lửa màu đỏ hồng, vàng mật ong và đen nhánh giữa gió lộng thảo nguyên. Đó chính là cố đô Ani, đô thị lẫy lừng từng được các sử gia Trung cổ tôn xưng là Thành phố của Bốn Mươi Cổng Thành và Một Nghìn Lẻ Một Nhà Thờ.
Giữa khung cảnh hùng vĩ của thành cổ biên thùy ấy, công trình bề thế và hoàn mỹ nhất làm chủ toàn bộ đường chân trời là Nhà thờ chính tòa Ani (tên nguyên thủy là Surp Asdvadzadzin, tức Nhà thờ Đức Trinh Nữ Maria Mẹ Thiên Chúa, và sau năm 1064 còn được gọi là Fethiye Camii). Được khởi công năm 989 dưới triều Vua Smbat II và hoàn thành năm 1001 dưới sự bảo trợ của Hoàng hậu Katranide II theo bản vẽ của đại kiến trúc sư Trdat (Tiridates), Nhà thờ chính tòa Ani cùng vòng cung các nhà thờ đá biên giới quanh bờ vực sông Akhurian là đỉnh cao của nghệ thuật kiến trúc Kitô giáo Đông phương và Chính thống giáo vùng Kavkaz. Năm 2016, UNESCO đã chính thức ghi danh Khu khảo cổ Ani là Di sản Thế giới (mã số 1518).

ICung Hiến Đức Mẹ Thiên Chúa, Thánh Giá Cứu Độ Và Bích Họa Cuộc Đời Thánh Gregory Người Khai Sáng
Khi Quốc vương Ashot III Nhân Từ dời kinh đô của vương triều Bagratuni về thành Ani vào năm 961 và tiếp đó Thượng phụ tối cao (Catholicos) Khachik I cũng đặt ngai tòa Giáo hội tại đây năm 992, Ani trở thành trung tâm thần học và phụng vụ tối cao của vùng cao nguyên Armenia và Tiểu Á. Ngôi Nhà thờ chính tòa Ani ở trung tâm thành phố được cung hiến cho Đức Trinh Nữ Maria Mẹ Thiên Chúa (Surp Asdvadzadzin / Theotokos), vị Bổn mạng tối cao che chở cho vương triều và toàn thể cư dân kinh đô. Khác với không gian u tối của các pháo đài đá đương thời, nội thất Nhà thờ chính tòa được kiến trúc sư Trdat nâng cao vút với bốn trụ cột chùm đỡ mái vòm trung tâm, hướng toàn bộ ánh nhìn của tín hữu về phía cung thánh bán nguyệt phía đông (bema), nơi đặt bàn thờ cử hành Phụng vụ Thánh và mười hốc tường hình bán trụ chạm trổ hoa văn tinh xảo nơi hàng giáo phẩm đồng tế.
Bao quanh Nhà thờ chính tòa trên khắp các sườn đồi và bờ vực của cao nguyên Ani là hàng chục ngôi thánh đường đá mang những sứ mệnh tâm linh riêng biệt: Nhà thờ Chúa Cứu Thế (Surp Amenaprkitch, xây năm 1035) được kiến tạo riêng để tôn trí một mảnh Thánh Giá Đích Thực (True Cross) của Chúa Giêsu được Hoàng thân Ablgharib Pahlavuni rước về từ kinh đô Constantinople; còn Nhà thờ Thánh Gregory của Tigran Honents (xây năm 1215) bên sườn hẻm núi phía đông lại là bản trường ca bằng hình ảnh tôn vinh Thánh Gregory Người Khai Sáng (Saint Gregory the Illuminator), vị tông đồ đã đưa đức tin Kitô giáo trở thành quốc giáo tại vùng đất này ngay từ đầu thế kỷ thứ 4.
Giá trị giáo nghĩa và thần học độc đáo nhất tại Ani ngày nay được bảo tồn sống động bên trong Nhà thờ Thánh Gregory của thương gia Tigran Honents. Toàn bộ mặt tường đá bên trong và phần hiên vòm phía tây của ngôi nhà thờ năm 1215 này được phủ kín bởi một hệ thống bích họa (fresco) nguyên bản do các họa sư theo truyền thống Chính thống giáo Chalcedon (kết hợp phong cách Byzantine hậu kỳ và Georgia) thực hiện. Trên vòm mái và hậu cung là các cảnh lớn trong cuộc đời Chúa Giêsu Kitô từ lễ Truyền Tin, Giáng Sinh, Phép Rửa trên sông Jordan, Biến Hình trên núi Tabor, Vào thành Jerusalem cho tới cảnh Chúa Xuống Ngục Tổ Tông (Anastasis) và Lễ Ngũ Tuần.
Trong khi đó, toàn bộ nhánh phía tây của nhà thờ được dành trọn cho mười sáu bức bích họa liên hoàn kể lại cuộc đời và những phép lạ tử đạo của Thánh Gregory Người Khai Sáng cùng sự kiện Vua Tiridates III chịu phép rửa tội. Sự giao thoa giữa phụng vụ truyền thống Armenia (khắc trên các tấm bia chữ thập đá khachkar ngoài tường) và thần học hội họa Chính thống giáo Byzantine - Georgia bên trong lòng đền biến Ani thành một chứng nhân tiêu biểu cho tinh thần đối thoại và đa dạng văn hóa tâm linh tại ngã tư Á - Âu.
Trên bức tường đá tufa phía nam của Nhà thờ chính tòa Ani hiện vẫn còn nguyên vẹn tấm minh văn lịch sử khắc bằng chữ cổ cực kỳ sắc nét của Hoàng hậu Katranide II (phu nhân của Vua Gagik I và là công chúa xứ Syunik), ghi lại nguồn gốc xây dựng công trình: Vào năm 1001 (năm 450 theo lịch Armenia), dưới thời trị vì của Đức Vua Gagik và Thượng phụ Sarkis, tôi là Katranide, Nữ hoàng của người Armenia và là con gái của Vua Vasak xứ Syunik, đã đặt trọn niềm cậy trông vào lòng thương xót của Thiên Chúa và theo lệnh của phu quân tôi là Vua Gagik đã hoàn thành việc xây dựng ngôi nhà thờ chính tòa thánh thiện này, vốn do vị vua vĩ đại Smbat đã đặt nền móng từ trước.
Các sử gia đương thời như Stepanos Asoghik (Stepanos xứ Taron) còn ghi lại rằng khi hoàn tất mái vòm của Nhà thờ chính tòa năm 1001, Hoàng hậu Katranide II đã cho dựng trên đỉnh vòm một cây Thánh giá khổng lồ bằng bạc nguyên chất cao bằng kích thước người thật và treo bên trong lòng đền một chùm đèn pha lê quý giá được mua về từ tận Ấn Độ với giá một nghìn đồng vàng dinar.
Nhiều người khi nghe danh hiệu lịch sử Ani, Thành phố Một Nghìn Lẻ Một Nhà Thờ thường nghĩ rằng trên diện tích khoảng 80 héc-ta của mũi đất cổ này từng thực sự có đúng 1.001 ngôi nhà thờ đứng san sát nhau. Thực chất, trong ngôn ngữ phương Đông thời Trung cổ (tương tự như cách người Thổ Nhĩ Kỳ gọi cụm nhà thờ cổ vùng Karaman là Binbirkilise hay Nghìn Lẻ Một Đêm), con số 1.001 là một ước lệ tu từ biểu thị sự vô số và mật độ dày đặc đáng kinh ngạc của các công trình tôn giáo. Tính tới nay, các cuộc khảo sát khảo cổ học hiện đại đã xác định được nền móng và di tích của khoảng 40 tới 50 nhà thờ, nhà nguyện và lăng mộ riêng biệt nằm trong và ngay sát ngoài tường thành Ani, một con số vốn đã vô cùng đồ sộ đối với một kinh đô thời thế kỷ 10 và 11.
IITừ Thời Hoàng Kim Của Kiến Trúc Sư Trdat Và Vương Triều Bagratuni Tới Cuộc Giao Thoa Seljuk Và Bảo Tồn Thế Kỷ 21
Lịch sử của Nhà thờ chính tòa Ani và quần thể thành cổ gắn liền với sự trỗi dậy thần kỳ của Ani từ một pháo đài trên đỉnh đồi thế kỷ thứ 5 trở thành một đại đô thị quốc tế trên nhánh phía bắc của Con đường Tơ lụa. Năm 989, Quốc vương Smbat II sau khi cho đắp hệ thống tường thành đá đôi hùng vĩ chắn ngang eo đất phía bắc đã mời vị kiến trúc sư lừng danh nhất thời đại là Trdat (Tiridates) bắt tay vào xây dựng ngôi Nhà thờ chính tòa mới xứng tầm kinh đô. Tuy nhiên, ngay trong năm 989 ấy, Vua Smbat II đột ngột qua đời, và cùng năm đó một trận động đất lớn tại Constantinople đã làm sập vòm phía tây và một phần mái vòm của Đại thánh đường Hagia Sophia.
Hoàng đế Byzantine Basiliô II đã mời đích danh kiến trúc sư Trdat từ Ani sang Constantinople để chỉ huy việc dựng lại mái vòm Hagia Sophia (hoàn thành năm 994). Sau khi hoàn tất sứ mệnh lẫy lừng tại kinh đô Byzantine, Trdat trở về Ani dưới triều Vua Gagik I và Hoàng hậu Katranide II để tiếp tục công trình tâm huyết của mình, chính thức khánh thành Nhà thờ chính tòa Ani vào năm 1001.
- Năm 961 tới năm 989Định đô tại Ani và khởi công Nhà thờ chính tòa dưới triều Vua Smbat IIVua Ashot III dời đô về Ani năm 961; tới năm 989, Vua Smbat II giao cho kiến trúc sư hoàng gia Trdat khởi công xây dựng Nhà thờ chính tòa Đức Mẹ (Surp Asdvadzadzin) ngay trung tâm kinh đô.
- Năm 1001Hoàng hậu Katranide II và kiến trúc sư Trdat hoàn thành Nhà thờ chính tòa AniSau khi trở về từ việc sửa chữa mái vòm Hagia Sophia ở Constantinople, kiến trúc sư Trdat hoàn tất toàn bộ Nhà thờ chính tòa dưới sự bảo trợ của Hoàng hậu Katranide II và Vua Gagik I.
- Năm 1035Hoàng thân Ablgharib Pahlavuni xây dựng Nhà thờ Chúa Cứu Thế (Amenaprkitch)Ngôi nhà thờ tròn đa giác 19 cạnh được hoàn thành để tôn trí thánh tích mảnh gỗ Thánh Giá Đích Thực mang về từ Constantinople.
- Tháng 8 năm 1064 và năm 1072Sultan Alp Arslan chinh phục Ani và sự ra đời của Thánh đường MenuçehrNăm 1064, đại quân Seljuk của Sultan Alp Arslan tiến vào Ani và chuyển Nhà thờ chính tòa thành Thánh đường Chiến thắng (Fethiye Camii); năm 1072, Tiểu vương Ebu'l Menuçehr của vương triều Shaddadid xây dựng Thánh đường Menuçehr bên bờ vực sông Akhurian.
- Năm 1199 tới năm 1215Phục hưng thời Zakarian và xây dựng Nhà thờ Tigran Honents (1215)Dưới sự bảo trợ của Nữ hoàng Tamar xứ Georgia, hai anh em tướng quân Zakare và Ivane Zakarian khôi phục lại Nhà thờ chính tòa năm 1199; năm 1215, phú thương Tigran Honents xây dựng Nhà thờ Thánh Gregory rực rỡ bích họa.
- Năm 1319, 1988 và ngày 15/7/2016Các trận động đất lịch sử, công cuộc gia cố bảo tồn và danh hiệu Di sản Thế giới UNESCOTrận động đất năm 1319 làm sập phần tháp vòm chóp nón của Nhà thờ chính tòa và trận động đất Spitak năm 1988 làm hư hại góc tây bắc; từ thập niên 2000, Bộ Văn hóa và Du lịch Thổ Nhĩ Kỳ phối hợp cùng Quỹ Di tích Thế giới (WMF) bảo tồn toàn diện và đưa Ani vào danh sách Di sản Thế giới UNESCO năm 2016.
Cuộc tranh luận lịch sử kiến trúc thế giới: Phải chăng kiến trúc sư Trdat tại Ani đã khai sinh tiền thân của kiến trúc Gothic châu Âu? Khi các học giả và kiến trúc sư phương Tây (như Charles Texier, Josef Strzygowski và Toros Toramanian) khảo sát bên trong Nhà thờ chính tòa Ani vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, họ đã vô cùng kinh ngạc trước những gì nhìn thấy trong một công trình hoàn thành từ năm 1001. Thay vì dùng vòm cuốn bán nguyệt tròn và cột trụ tròn đơn điệu của kiến trúc Romanesque hay Byzantine đương thời, kiến trúc sư Trdat đã thiết kế hệ thống vòm cuốn nhọn (pointed arches) cao vút kết hợp với bốn cột trụ chùm (clustered piers) gồm mười hai tới mười sáu gờ chỉ đá thẳng đứng chạy suốt từ chân cột vọt thẳng lên các sống gân của vòm mái. Tất cả những yếu tố cấu trúc cốt lõi làm nên cuộc cách mạng kiến trúc Gothic tại Pháp và Tây Âu vào giữa thế kỷ 12 (như tại Vương cung thánh đường Saint-Denis năm 1144) đều đã xuất hiện hoàn chỉnh bằng đá tufa tại Nhà thờ chính tòa Ani sớm hơn tới gần một trăm năm mươi năm.
IIIKiệt Tác Đá Tufa Núi Lửa Năm 1001 Của Trdat, Nhà Thờ Bích Họa Tigran Honents Và Nhà Thờ Tròn Tách Đôi
Toàn bộ các công trình tôn giáo tại Ani được xây dựng theo kỹ thuật lõi vữa đá hộc bọc đá tufa núi lửa cắt gọt chính xác (opus emplectum / rubble masonry faced with dressed tuff stone). Nhờ nguồn đá tufa núi lửa phong phú trong vùng có đủ các sắc độ từ đỏ gạch, cam san hô, vàng cát cho tới xám tro và đen bazan, các nghệ nhân đá đã ghép xen kẽ các khối đá khác màu tạo nên hiệu ứng thị giác đa sắc rực rỡ dưới ánh nắng thảo nguyên, đồng thời giúp các bức tường có trọng lượng nhẹ và độ đàn hồi kháng chấn cao.
Tâm điểm của toàn khu di tích là Nhà thờ chính tòa Ani, một vương cung thánh đường mái vòm theo mặt bằng chữ thập nội tiếp hình chữ nhật (domed basilica / inscribed cross), dài khoảng 34,3 mét, rộng 22,2 mét và cao hơn 20 mét (từng đạt chiều cao trên 30 mét khi còn phần tháp trống và mái chóp nón trước năm 1319). Mặt ngoài của cả bốn bức tường được trang trí bằng một hệ thống hàng vòm cuốn mù (blind arcades) mảnh mai tựa trên những đôi cột bán trụ thanh thoát, trong khi bên trong bốn cột trụ chùm khổng lồ chia không gian thành ba gian dọc và nâng đỡ bốn vòm nhọn hướng lên bầu trời.
Kiệt tác lớn nhất của kiến trúc sư Trdat với mặt bằng chữ nhật 34,3 x 22,2 mét, ba cánh cổng lớn hướng Bắc (dành cho Thượng phụ), Tây (dành cho dân chúng) và Nam (dành cho Quốc vương). Nội thất gây choáng ngợp bởi bốn cột trụ chùm mảnh mai đỡ vòm nhọn và hậu cung phía đông khoét sâu mười hốc vòm bán trụ chạm khắc tinh xảo.
Nằm trên vách đá nhìn thẳng xuống hẻm núi sông Akhurian ở rìa phía đông, ngôi nhà thờ vẫn giữ nguyên vẹn tháp vòm chóp nón hình chiếc ô (umbrella roof). Mặt ngoài khắc dải minh văn dài kể về các tài sản hiến tặng của thương gia Tigran Honents cùng hàng trăm phù điêu chim công, đại bàng, sư tử và rồng trong vòm mù; mặt trong lưu giữ trọn vẹn bích họa thế kỷ 13 về Chúa Kitô và Thánh Gregory.
Được Hoàng thân Ablgharib Pahlavuni xây dựng để lưu giữ mảnh Thánh Giá Đích Thực với mặt bằng đa giác 19 cạnh ở bên ngoài và 8 hốc bán nguyệt ở bên trong đỡ một tháp trống vòm khổng lồ. Năm 1957, một tia sét dữ dội trong cơn bão đã đánh sập toàn bộ nửa phía tây, để lại nửa phía đông đứng sừng sững như một lát cắt giải phẫu kiến trúc kỳ vĩ giữa bầu trời Kars.
Nằm gần vách vực phía tây nhìn xuống thung lũng Bostanlar, đây là ngôi nhà nguyện lăng mộ gia tộc của Hoàng thân Grigor Pahlavuni xây trước năm 994. Công trình là một tháp tròn 12 cạnh nhỏ nhắn nhưng cân đối hoàn hảo, có 6 hốc vòm khoét sâu vào tường và tháp trống 12 cửa sổ lợp mái đá hình nón.
Do chính kiến trúc sư Trdat thiết kế theo lệnh Vua Gagik I nhằm tái hiện lại ngôi đền tròn 3 tầng Zvartnots cổ đại với đường kính hơn 30 mét (hiện còn nền móng cột tròn và pho tượng đá của Vua Gagik I đang nâng mô hình nhà thờ trên tay). Cách đó không xa là Nhà thờ các Thánh Tông Đồ (Surp Arakelots, năm 1031) với mái vòm muqarnas đá độc đáo ở tiền sảnh.
Được Tiểu vương Ebu'l Menuçehr xây dựng năm 1072 ngay sát vực sông Akhurian, đây là ngôi thánh đường Hồi giáo thời Seljuk đầu tiên được xây dựng trong lãnh thổ Anatolia với ngọn tháp bát giác khắc chữ Bismillah và trần đá ghép hình học đa sắc; trong khi ở phía bắc là hệ tường thành hai lớp của Vua Smbat II với Cổng Sư Tử (Aslanlı Kapı) chạm nổi hình báo gấm đang bước đi.
| Công trình tiêu biểu tại Ani | Niên đại và người sáng lập | Đặc trưng kiến trúc và di sản nổi bật |
|---|---|---|
| Nhà thờ chính tòa Ani (Surp Asdvadzadzin) | 989 tới 1001 (Vua Smbat II và Hoàng hậu Katranide II; KTS Trdat) | Dài 34,3 m, rộng 22,2 m; trụ chùm và vòm nhọn bằng đá tufa đi trước kiến trúc Gothic châu Âu |
| Nhà thờ Thánh Gregory của Tigran Honents | Năm 1215 (Thương gia Tigran Honents thời Zakarian) | Nguyên vẹn mái chóp nón hình ô; phù điêu linh vật mặt ngoài và bích họa toàn cảnh mặt trong |
| Nhà thờ Chúa Cứu Thế (Surp Amenaprkitch) | Hoàn thành năm 1035 (Hoàng thân Ablgharib Pahlavuni) | Mặt bằng tròn 19 cạnh thờ mảnh Thánh Giá; nửa phía đông đứng vững sau vụ sét đánh năm 1957 |
| Nhà thờ Thánh Gregory của Abughamrents | Thập niên 980 tới 994 (Hoàng thân Grigor Pahlavuni) | Nhà nguyện lăng mộ hình trụ đa giác 12 cạnh với 6 hốc nội thất và mái chóp đá nguyên vẹn |
| Nhà thờ Vua Gagik I (Gagkashen) | 1001 tới 1005 (Vua Gagik I; kiến trúc sư Trdat) | Đại đền tròn đường kính trên 30 m mô phỏng Zvartnots; phát hiện tượng đá Vua Gagik I |
| Thánh đường Ebu'l Menuçehr | Năm 1072 (Tiểu vương Ebu'l Menuçehr nhà Shaddadid) | Thánh đường Hồi giáo cổ nhất vùng Tiểu Á còn tháp minaret bát giác nguyên bản nhìn ra sông Akhurian |
IVThế Đất Và Hướng
Cần lưu ý rằng quy hoạch của kinh đô Ani và các nhà thờ Chính thống giáo Đông phương hoàn toàn không sử dụng lý thuyết phong thủy Á Đông. Các nhà thờ tại Ani đều tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc định hướng phụng vụ Kitô giáo cổ đại: đặt cung thánh và bàn thờ quay thẳng về hướng Đông (Ad Orientem) để đón ánh mặt trời mọc tượng trưng cho Chúa Kitô Phục Sinh, kết hợp với địa thế phòng thủ quân sự tự nhiên của mũi đá tam giác giữa hai hẻm núi sâu. Dưới đây là phần phân tích địa thế cao nguyên và sông vực của Ani theo nhãn quan đối chiếu hình thế sơn thủy cổ truyền của thư viện.
Xét trên đại cục địa hình vùng cao nguyên Đông Anatolia và Nam Kavkaz tại tọa độ 40,5061 độ vĩ bắc, 43,5728 độ kinh đông, cố đô Ani tọa lạc trên một bán đảo đá bazan hình tam giác nhọn ở độ cao trung bình 1.340 mét so với mực nước biển, được thiên nhiên cắt gọt như một pháo đài lơ lửng giữa đất trời. Ở toàn bộ sườn phía đông và đông nam của thành phố là hẻm núi dựng đứng sâu gần 100 mét nơi dòng sông Akhurian (Arpaçay) chảy xiết từ bắc xuống nam; trong khi ở sườn phía tây và tây nam là thung lũng vực sâu Bostanlar (suối Aladzha / Tsaghkotsadzor). Hai dòng nước sâu chạy dọc hai bên sườn rồi hợp lưu ngay tại mũi nhọn phía nam (đỉnh thành nội İç Kale / Citadel) tạo nên cách cục nhị thủy giao khâm, tam giác long đầu (hai dòng sông ôm khép mũi đất đầu rồng) cực kỳ hiểm yếu: ba mặt Đông, Nam, Tây đều là vách vực đá dựng đứng không kẻ thù nào leo lên được, còn mặt duy nhất nối liền với thảo nguyên bằng phẳng ở phía bắc được khóa chặt bởi hai lớp trường thành đá của Vua Ashot III và Vua Smbat II.
Xét về trục hướng của Nhà thờ chính tòa Ani, công trình được đặt ngay trên thềm đất bằng phẳng và cao ráo nhất ở trung tâm mũi đất tam giác theo trục Tây - Đông chuẩn xác: cổng chính dành cho giáo dân mở về hướng Tây, còn hậu cung bán nguyệt nơi đặt bàn thờ chính hướng thẳng về phía Đông (hướng mặt trời mọc vượt qua hẻm núi sông Akhurian). Từ quảng trường quanh Nhà thờ chính tòa phóng tầm mắt về phương đông nam trong những ngày trời quang, lữ khách có thể nhìn thấy đỉnh núi tuyết thiêng Ararat (Ağrı Dağı, cao 5.137 mét) hiện lên sừng sững nơi đường chân trời như một ngọn triều sơn và án sơn vĩnh cửu đối diện với kinh đô cổ.
VKý Ức Đại Lễ Phụng Vụ Kinh Đô Xưa, Tuần Lễ Văn Hóa Kars Và Hành Trình Chiêm Ngưỡng Thảo Nguyên Bốn Mùa
Ngày nay, toàn bộ Khu khảo cổ Ani hoạt động dưới quy chế một Bảo tàng Khảo cổ Lịch sử Quốc gia ngoài trời trực thuộc Bộ Văn hóa và Du lịch Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ, không còn cư dân sinh sống thường xuyên bên trong tường thành từ thế kỷ 18 nhưng đón hàng trăm nghìn du khách, học giả và những đoàn hành hương văn hóa tâm linh tìm về mỗi năm để tưởng niệm những cột mốc lịch sử của cả truyền thống Kitô giáo phương Đông lẫn Hồi giáo Anatolia.
| Thời điểm trong năm | Hệ lịch | Sự kiện lịch sử và lễ tiết văn hóa | Ý nghĩa và hoạt động tại Khu di tích cổ Ani, Kars |
|---|---|---|---|
| Ngày 15 tháng 8 hằng năm (Lễ Đức Mẹ Lên Trời / Surp Asdvadzadzin) | Dương lịch / Lịch Phụng vụ Đông phương | Ngày Bổn mạng lịch sử của Nhà thờ chính tòa Đức Mẹ tại Ani | Thời Trung cổ, đây là đại lễ lớn nhất trong năm tại kinh đô Ani khi Thượng phụ và các vua nhà Bagratuni cử hành đại lễ rước quanh Nhà thờ chính tòa; ngày nay đây là dịp nhiều đoàn học giả và khách hành hương quốc tế tới chiêm niệm dưới vòm đá của kiến trúc sư Trdat. |
| Ngày 16 tháng 8 hằng năm | Dương lịch | Lễ kỷ niệm Chiến thắng Ani năm 1064 và Di sản Thánh đường Fethiye - Menuçehr | Tỉnh Kars tổ chức các hoạt động văn hóa lịch sử kỷ niệm sự kiện ngày 16 tháng 8 năm 1064 khi Sultan Alp Arslan tiến vào Ani, đánh dấu bước mở đầu cho sự hiện diện của văn minh Seljuk và Hồi giáo tại vùng Tiểu Á. |
| Tháng 5 tới tháng 6 (Mùa hoa thảo nguyên) | Dương lịch | Mùa hoa dại nở rộ trên cao nguyên Ani và Liên hoan Nhiếp ảnh Di sản | Khi băng tuyết mùa đông tan hết, toàn bộ cao nguyên Ani quanh Nhà thờ chính tòa và Nhà thờ Tigran Honents phủ kín thảm cỏ xanh mướt cùng hoa anh túc đỏ, hoa cúc vàng, thu hút các đoàn nghệ sĩ và nhiếp ảnh gia khắp thế giới. |
| Tháng 12 tới tháng 3 (Mùa tuyết trắng Đông Anatolia) | Dương lịch | Hành trình tàu tốc hành phương Đông (Doğu Ekspresi) về cố đô tuyết Ani | Hàng vạn du khách đi chuyến tàu hỏa nổi tiếng Doğu Ekspresi từ Ankara xuyên qua các dãy núi tuyết tới Kars để chiêm ngưỡng những nhà thờ đá tufa đỏ cam nổi bật rực rỡ trên nền tuyết trắng xóa bên hẻm núi sông Akhurian. |
Trải nghiệm đi bộ qua Cổng Sư Tử và lắng nghe tiếng gió trên bờ vực sông Akhurian. Hành trình khám phá Ani mang lại một cảm xúc tĩnh lặng hiếm có trên thế giới. Khi bước qua Cổng Sư Tử (Aslanlı Kapı) có bức phù điêu báo gấm khắc trên tường đá đỏ và đi dọc theo con đường lát đá hướng về phía nam, du khách sẽ thấy bóng dáng Nhà thờ chính tòa Ani lớn dần lên giữa đồng cỏ mênh mông không một bóng nhà hiện đại. Bước vào bên trong lòng Nhà thờ chính tòa, nơi bầu trời xanh thẳm hiện ra qua khoảng vòm trống từng sập năm 1319 và những tia nắng xiên qua các ô cửa sổ hẹp chiếu sáng những cột trụ chùm nghìn năm tuổi của kiến trúc sư Trdat, người lữ khách như nghe thấy nhịp thở của cả một nền văn minh từng kết nối phương Đông và phương Tây trên Con đường Tơ lụa.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Khu di tích khảo cổ Ani, làng Ocaklı, 36000 Merkez, tỉnh Kars, Thổ Nhĩ Kỳ
- Đường tới
- Khu di tích cổ Ani nằm tại làng Ocaklı, cách trung tâm thành phố Kars 42 km về phía đông theo tuyến đường nhựa cao tốc D070 / Ani Yolu rất êm thuận. Để tới Kars, quý vị có thể bay thẳng từ Sân bay Istanbul (IST) hoặc Sân bay Sabiha Gökçen (SAW) và Ankara tới Sân bay Kars Harakani (KSY, thời gian bay khoảng 2 giờ), hoặc trải nghiệm tuyến tàu hỏa nổi tiếng Doğu Ekspresi (Tàu tốc hành Phương Đông) chạy từ Ankara tới Ga Kars. Từ trung tâm thành phố Kars (trước Quảng trường Tượng đài Gazi Ahmet Muhtar Paşa), hằng ngày đều có xe buýt du lịch của thành phố khởi hành đi Ani vào buổi sáng và buổi chiều (thời gian di chuyển khoảng 45 phút, xe đợi khách tham quan 2,5 giờ rồi đưa về lại trung tâm Kars), hoặc quý vị có thể thuê xe taxi trọn gói hai chiều rất thuận tiện.
- Toạ độ
- 40.5061, 43.5728
Khu khảo cổ Ani nằm sát biên giới quốc tế nhưng hoàn toàn an toàn, có hệ thống lối đi bộ lát gỗ và biển thuyết minh song ngữ Thổ - Anh - Armenia rất rõ ràng tại từng công trình. Khu di tích mở cửa đón khách hằng ngày từ 8 giờ sáng tới chiều muộn (mùa hè tới 19 giờ, mùa đông tới 17 giờ, có bán vé vào cửa hoặc dùng thẻ Museum Pass Türkiye). Vì toàn bộ cao nguyên Ani rộng hơn 80 héc-ta hoàn toàn không có bóng cây che nắng hay chắn gió, quý vị cần chuẩn bị trang phục phù hợp theo mùa: mùa hè nên đội mũ rộng vành, đeo kính râm và mang theo đủ nước uống; mùa đông tại Kars nhiệt độ thường xuống dưới âm 15 tới âm 25 độ C kèm tuyết dày và gió buốt từ hẻm núi thổi lên nên bắt buộc phải mặc áo phao chống gió, đội mũ len, găng tay và đi giày cổ cao chống trượt. Toàn bộ vòng đi bộ tham quan trọn vẹn từ Cổng Sư Tử qua Nhà thờ Chúa Cứu Thế, Nhà thờ Tigran Honents, Nhà thờ chính tòa Ani tới Thánh đường Menuçehr mất khoảng 2 giờ 30 phút tới 3 giờ. Hiện Nhà thờ chính tòa Ani đang được lắp đặt hệ thống giàn giáo bảo tồn khoa học của Quỹ Di tích Thế giới (WMF) ở một số mảng tường để gia cố chống động đất, du khách vẫn có thể quan sát cận cảnh kiến trúc đá tufa và các minh văn cổ.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Nhà thờ chính tòa cổ Ani và các nhà thờ đá biên giới, Kars (Di sản UNESCO)
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Nhà thờ chính tòa cổ Ani được ai xây dựng vào thời gian nào và thờ vị thánh nào?
Nhà thờ chính tòa Ani được khởi công vào năm 989 dưới triều Quốc vương Smbat II của vương triều Bagratuni và hoàn thành vào năm 1001 dưới sự bảo trợ của Hoàng hậu Katranide II (phu nhân Vua Gagik I). Công trình được cung hiến cho Đức Trinh Nữ Maria Mẹ Thiên Chúa (Surp Asdvadzadzin) và sau cuộc chinh phục của Sultan Alp Arslan năm 1064 còn được gọi là Thánh đường Fethiye (Fethiye Camii).
Kiến trúc sư Trdat (Tiridates), người thiết kế Nhà thờ chính tòa Ani, có mối liên hệ lịch sử đặc biệt nào với Đại thánh đường Hagia Sophia ở Istanbul?
Trdat (khoảng 940 tới 1020) là đại kiến trúc sư lừng danh nhất vùng Tiểu Á và Kavkaz cuối thế kỷ 10. Ngay khi ông vừa khởi công Nhà thờ chính tòa Ani năm 989 thì một trận động đất lớn làm sập vòm phía tây và một phần mái vòm chính của Đại thánh đường Hagia Sophia tại Constantinople. Hoàng đế Byzantine Basiliô II đã mời Trdat sang Constantinople để thiết kế và chỉ huy việc xây dựng lại mái vòm Hagia Sophia (hoàn thành năm 994, vẫn đứng vững tới ngày nay), sau đó Trdat mới trở về Ani hoàn thành Nhà thờ chính tòa vào năm 1001.
Vì sao các nhà nghiên cứu lịch sử kiến trúc lại coi Nhà thờ chính tòa Ani là công trình báo trước phong cách kiến trúc Gothic của châu Âu?
Hoàn thành vào năm 1001, tức sớm hơn sự ra đời của kiến trúc Gothic tại Pháp (thế kỷ 12) tới hơn một thế kỷ, Nhà thờ chính tòa Ani đã hội tụ đầy đủ những giải pháp kết cấu đặc trưng của phong cách Gothic: hệ thống bốn cột trụ chùm (clustered piers) gồm nhiều gờ đá thẳng đứng bó lại với nhau, các vòm cuốn nhọn (pointed arches) vươn cao giảm lực đẩy ngang và sự phân bổ tải trọng giúp bức tường trở nên thanh thoát.
Vì sao cố đô Ani lại được gọi là Thành phố Một Nghìn Lẻ Một Nhà Thờ và hiện còn những công trình tiêu biểu nào?
Vào thời kỳ cực thịnh thế kỷ 10 và 11 với dân số lên tới gần 100.000 người, các quý tộc và thương gia giàu có tại Ani đều thi nhau xây dựng nhà thờ và nhà nguyện riêng, khiến sử sách Trung cổ dùng con số ước lệ 1.001 nhà thờ để ca ngợi mật độ thánh đường dày đặc tại đây (khảo cổ học đã tìm thấy khoảng 50 nhà thờ). Nổi bật nhất hiện còn đứng vững cùng Nhà thờ chính tòa là Nhà thờ Thánh Gregory của Tigran Honents (1215) ngập tràn bích họa, Nhà thờ Chúa Cứu Thế 19 cạnh (1035) bị sét đánh tách đôi, Nhà thờ tròn Abughamrents và Thánh đường Hồi giáo Menuçehr (1072).
Cấu trúc một nửa đứng vững kỳ lạ của Nhà thờ Chúa Cứu Thế (Surp Amenaprkitch) tại Ani hình thành do đâu?
Nhà thờ Chúa Cứu Thế được xây dựng năm 1035 với mặt bằng đa giác 19 cạnh vô cùng kiên cố để lưu giữ thánh tích mảnh Thánh Giá Đích Thực. Công trình vẫn giữ được hình khối tròn suốt chín thế kỷ cho tới năm 1957, khi một cơn bão sét dữ dội đánh trúng làm sập toàn bộ nửa phía tây, để lại nửa phía đông cùng nửa tháp trống mái vòm đứng sừng sững trên thảo nguyên như một lát cắt kiến trúc độc nhất vô nhị.