VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền Chora (Kariye Camii) với bích họa và tranh ghép đá Byzantine, Istanbul

Kariye Camii, Kariye Mosque, Church of the Holy Saviour in Chora, Nhà thờ Chúa Cứu Thế vùng Ngoại thành Chora

Báu vật rực rỡ nhất còn lưu giữ được của nền nghệ thuật Phục hưng Palaeologan hậu kỳ Byzantine nằm trên Ngọn đồi thứ sáu gần tường thành Theodosius tại Istanbul, được học giả kiêm Đại tể tướng Theodore Metochites tô điểm từ năm 1315 tới 1321 bằng gần một trăm bức tranh khảm đá mạ vàng và bích họa nhà nguyện mộ sống động bậc nhất lịch sử trước khi trở thành Thánh đường Kariye từ năm 1511.

Thời kỳ kiệt tác
1315 tới 1321 Công nguyên
đỉnh cao thời kỳ Phục hưng Palaeologan dưới triều Hoàng đế Andronikos II
Đại thí chủ kiến tạo
Theodore Metochites (1270 tới 1332)
nhà bác học, thiên văn học kiêm Đại tể tướng Đế quốc Đông La Mã
Chuyển đổi Ottoman
Năm 1511 (Thánh đường Kariye)
do Đại tể tướng Atik Ali Pasha thực hiện dưới triều Sultan Bayezid II
Báu vật nghệ thuật
Tranh khảm vàng và Bích họa
2 vòm gia phả Chúa Kitô, bức khảm dâng đền và bức bích họa Phục Sinh Anastasis
Triết lý tên gọi
Chora (Cõi Sống và Đấng Vô Biên)
từ nghĩa vùng ngoại thành chuyển thành danh hiệu thần học của Chúa và Đức Mẹ
Di sản nhân loại
UNESCO 1985 (Mã số 356)
mở cửa trở lại tháng 5/2024 sau bốn năm đại trùng tu bảo tồn từng viên đá khảm

Nằm yên bình giữa khu phố cổ kính Edirnekapı trên sườn Ngọn đồi thứ sáu của bán đảo lịch sử Fatih, Istanbul, chỉ cách bức tường thành ba lớp ngàn năm tuổi của Hoàng đế Theodosius II vài trăm bước chân và nhìn xuống làn nước xanh thẳm của vịnh Sừng Vàng (Haliç), có một công trình gạch đỏ xen đá trắng mang dáng vẻ khiêm nhường hơn nhiều so với quy mô khổng lồ của Đại thánh đường Hagia Sophia hay Thánh đường Süleymaniye. Thế nhưng, ngay khi lữ khách bước qua cánh cửa gỗ để tiến vào khu tiền sảnh ngoài và tiền sảnh trong, một thế giới ánh sáng vàng ròng và màu sắc siêu việt lập tức bừng nở trên khắp các vòm cuốn, khiến mọi sử gia nghệ thuật trên thế giới đều tôn vinh nơi đây là Nhà nguyện Sistine của nền văn minh Đông La Mã.

Công trình vô giá ấy là Đền Chora, tên đầy đủ trong lịch sử Byzantine là Nhà thờ Chúa Cứu Thế vùng Chora (tiếng Hy Lạp là Ekklēsia tou Hagiou Sōtēros en tē Chōra) và từ thế kỷ 16 tới nay mang tên Thánh đường Kariye (Kariye Camii, phiên âm tiếng Ả Rập và Thổ Nhĩ Kỳ của chữ Chora). Được học giả kiêm Đại tể tướng Theodore Metochites trùng tu và trang hoàng toàn diện từ năm 1315 tới năm 1321 trước khi chuyển đổi thành thánh đường Hồi giáo vào năm 1511 dưới triều Sultan Bayezid II, Đền Chora lưu giữ bộ sưu tập tranh ghép đá (mosaic) và bích họa (fresco) nguyên vẹn và sống động nhất của thế giới Chính thống giáo thời kỳ hậu kỳ Byzantine, là một trong bốn quần thể trụ cột tạo nên Di sản Thế giới UNESCO Các khu lịch sử của Istanbul (công nhận năm 1985, mã số 356).

Đền Chora (Kariye Camii) với bích họa và tranh ghép đá Byzantine, Istanbul
Đền Chora (Kariye Camii) với bích họa và tranh ghép đá Byzantine, Istanbul. Ảnh: PlanetKorriban, giấy phép CC BY-SA 2.0, nguồn Wikimedia Commons.

IThần Học Về Chữ Chora: Từ Vùng Đất Ngoại Thành Tới Cõi Của Kẻ Sống, Chiếc Lòng Chứa Đựng Đấng Vô Biên Và Sự Tôn Kính Trong Hồi Giáo

Không ở đâu trong lịch sử kiến trúc tôn giáo thế giới mà tên gọi địa lý của một ngôi đền lại được nâng lên thành một triết lý thần học sâu sắc và thơ mộng như tại Đền Chora (Kariye Camii). Khởi thủy vào thế kỷ 4 Công nguyên, khi tu viện đầu tiên được dựng lên trên sườn đồi phía tây bắc kinh đô Constantinople, khu đất này nằm ở bên ngoài bức tường thành cổ của Hoàng đế Constantine Đại Đế nên được gọi giản dị là en tē Chōra, nghĩa đen trong tiếng Hy Lạp là Ở Vùng Ngoại Thành (Ngoài Đồng Nội). Ngay cả sau năm 413 khi Hoàng đế Theodosius II xây dựng bức tường thành mới mở rộng đưa ngôi đền vào bên trong lòng thành phố, cái tên Chora vẫn được giữ nguyên.

Tới đầu thế kỷ 14, khi nhà bác học Theodore Metochites thiết kế chương trình tranh khảm đá cho ngôi đền, ông đã lấy một nghĩa khác của từ Hy Lạp Chora là Không Gian Chứa Đựng / Miền Đất / Nơi Cư Ngụ để giải thích mầu nhiệm Nhập Thể của Kitô giáo ngay trên các bức tường đá khảm vàng. Trên các bức tranh khảm lớn đặt đối xứng tại tiền sảnh, Chúa Giêsu Kitô được khắc danh hiệu bằng chữ vàng là He Chora ton Zonton (Miền Đất Của Những Kẻ Sống), trích từ Thánh Vịnh 116:9: Tôi sẽ bước đi trước tôn nhan Chúa trong miền đất của những kẻ sống. Và ngay phía trên cổng vào hoặc trên vòm tiền sảnh, bức khảm Đức Trinh Nữ Maria với Chúa Hài Đồng ngự trong lòng Mẹ lại mang dòng chữ: He Chora tou Achoretou (Không Gian Chứa Đựng Đấng Không Thể Chứa Đựng / Chiếc Lòng Ôm Trọn Đấng Vô Biên), ca ngợi mầu nhiệm cung lòng hữu hạn của người nữ trinh khiết đã cưu mang chính Đấng Tạo Hóa vô cùng vô tận của vũ trụ.

Theo giáo nghĩa

Khi công trình được chuyển đổi thành Thánh đường Kariye (Kariye Camii) vào năm 1511 dưới triều đại Ottoman và tiếp tục là nơi thờ phượng Hồi giáo Sunni ngày nay, không gian trung tâm của tòa chính điện (Naos) được dâng hiến cho việc thờ phượng Thượng Đế Duy Nhất (Allah) với hốc cầu nguyện Mihrab bằng đá cẩm thạch đặt ở góc đông nam xoay hướng về thánh địa Mecca. Điều đáng trân trọng bậc nhất trong lịch sử giao thoa tôn giáo tại Kariye là cách ứng xử văn minh của các thế hệ người Hồi giáo Ottoman đối với di sản nghệ thuật Kitô giáo tiền nhiệm.

Trong tín ngưỡng Hồi giáo, Đấng Tiên tri Isa (Chúa Giêsu) và Đức Mẹ Maryam (Đức Trinh Nữ Maria) vốn được tôn kính sâu sắc trong kinh Qur'an (riêng chương thứ 19 của kinh Qur'an mang tên Surah Maryam). Vì giáo luật Hồi giáo chỉ quy định không để hình ảnh nhân dạng hiện diện trực tiếp trước mặt người đang hành lễ Salat, vào thế kỷ 16 các nghệ nhân Ottoman đã không hề đục phá các bức tranh khảm và bích họa của Đền Chora, mà chỉ phủ lên một lớp vữa vôi mỏng bảo vệ hoặc lắp các cánh cửa gỗ che lại trong giờ lễ. Chính nhờ lớp vữa vôi bảo tồn ấy mà toàn bộ kho tàng nghệ thuật thế kỷ 14 của Theodore Metochites đã vượt qua hơn bốn trăm năm lịch sử để tỏa sáng nguyên vẹn trước nhân loại.

Theo sử liệu

Chân dung lịch sử của người đã tạo nên diện mạo bất tử cho Đền Chora được lưu giữ sống động ngay trên bức tranh khảm vòm cửa chính dẫn từ tiền sảnh trong vào chính điện: đó là Đại tể tướng Theodore Metochites (1270 tới 1332). Là nhân vật quyền lực thứ hai chỉ sau Hoàng đế Andronikos II Palaiologos, Metochites đồng thời là nhà nhân văn chủ nghĩa uyên bác nhất thế kỷ 14, tác giả của những bộ sách triết học, thiên văn học, toán học và thơ ca, đồng thời là thầy dạy của triết gia Nicephorus Gregoras.

Trên bức tranh khảm nổi tiếng này, Theodore Metochites mặc bộ lễ phục đại thần triều đình dệt kim tuyến vàng rực rỡ và đội chiếc mũ quan khổng lồ hình bầu dục kẻ sọc trắng vàng (mũ skiadion), đang quỳ gối cung kính bằng cả hai chân để dâng mô hình thu nhỏ của ngôi Đền Chora lên Chúa Kitô đang ngự trên ngai báu. Cuộc đời của vị đại học giả này cũng chính là một bài học vô thường sâu sắc: năm 1328, khi người cháu nội của hoàng đế làm cuộc chính biến lật đổ Andronikos II, toàn bộ dinh thự của Metochites bị tịch thu và ông bị lưu đày. Hai năm cuối đời (1330 tới 1332), người cựu tể tướng được phép quay về sống như một tu sĩ nghèo mang pháp danh Theoleptos ngay trong chính ngôi Đền Chora mà mình từng bỏ cả gia sản ra tô điểm, và khi nhắm mắt xuôi tay ngày 13 tháng 3 năm 1332, ông được an táng trong ngôi mộ đá dưới những bức bích họa Phục Sinh do chính mình kiến tạo.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều người thường nhầm lẫn rằng nghệ thuật tranh ghép đá (mosaic) và bích họa Byzantine suốt một nghìn năm chỉ là những hình vẽ cứng nhắc, phẳng lì, thiếu cảm xúc và không có chiều sâu không gian trước khi thời kỳ Phục hưng Ý ra đời. Đền Chora chính là bằng chứng đập tan hoàn toàn định kiến ấy: được sáng tác từ năm 1315 tới năm 1321 (cùng thời điểm danh họa Giotto đang vẽ ở Ý), các bức tranh khảm và bích họa thuộc Phục hưng Palaeologan tại Chora thể hiện những chuyển động cơ thể uyển chuyển đầy kịch tính, những tà áo bay phấp phới trong gió, phối cảnh kiến trúc đa chiều và những nét mặt tràn ngập tình mẫu tử, nỗi đau thương hay niềm hân hoan nhân bản chưa từng có trong nghệ thuật Trung cổ.

IIMười Sáu Thế Kỷ Lịch Sử: Từ Tu Viện Ngoài Tường Thành Thế Kỷ 4 Tới Kiệt Tác Năm 1321 Và Thánh Đường Kariye Đương Đại

Lịch sử kiến trúc của Đền Chora trải qua năm giai đoạn xây dựng lớn chồng xếp lên nhau trên sườn đồi thứ sáu của Constantinople. Giai đoạn đầu tiên khởi nguồn từ thế kỷ 4 Công nguyên với một tu viện nhỏ bên ngoài tường thành Constantine, nơi an táng hài cốt của Thánh tử đạo Babylas, và được Thánh Theodore (chú của Hoàng hậu Theodora) xây dựng lại vào năm 536 dưới triều Hoàng đế Justinianus I sau một trận động đất.

Tòa nhà chính hiện hữu bắt đầu định hình vào giai đoạn thứ hai và thứ ba (thế kỷ 11 và thế kỷ 12) dưới vương triều Komnenos, khi cung điện hoàng gia chuyển từ khu vực Hagia Sophia về Cung điện Blachernae ngay gần đồi Chora. Từ năm 1077 tới 1081, Hoàng thái hậu Maria Doukaina (mẹ vợ của Hoàng đế Alexios I Komnenos) đã xây dựng lại ngôi đền theo kiểu chữ thập nội tiếp bốn cột; và khoảng năm 1120, Hoàng tử Isaac Komnenos (con trai thứ ba của Alexios I) đã cải tạo chính điện thành một không gian mở rộng lớn đỡ bởi bốn trụ đá góc không cột chắn. Sau thời kỳ Thập tự chinh thứ tư (1204 tới 1261), công trình bước vào giai đoạn thứ tư huy hoàng nhất (1315 tới 1321) dưới bàn tay của Đại tể tướng Theodore Metochites, trước khi chuyển sang giai đoạn thứ năm (từ năm 1511 tới nay) trong vai trò Thánh đường Kariye và bảo tàng di sản thế giới.

  • Thế kỷ 4 và năm 536 Công nguyênKhởi lập Tu viện Chora ngoài tường thành Constantine và tái thiết thời Justinianus I
    Tu viện ban đầu được dựng ở vùng đồi ngoại thành (Chora), sau năm 413 nằm trong tường thành Theodosius II; năm 536 được Thánh Theodore trùng tu với sự bảo trợ của Hoàng đế Justinianus I.
  • Năm 1077 tới 1081 và khoảng năm 1120Maria Doukaina và Hoàng tử Isaac Komnenos xây dựng tòa chính điện thời Komnenos
    Mẹ vợ của Hoàng đế Alexios I Komnenos xây dựng lại nhà thờ vào năm 1077; tới đầu thế kỷ 12, Hoàng tử Isaac Komnenos mở rộng gian chính điện (Naos) với mái vòm lớn và dựng mộ phần riêng cho mình.
  • Năm 1315 tới năm 1321Đại tể tướng Theodore Metochites kiến tạo hai tiền sảnh, nhà nguyện mộ và kho tàng tranh khảm, bích họa
    Dưới triều Hoàng đế Andronikos II Palaiologos, học giả Theodore Metochites xây thêm tiền sảnh ngoài, tiền sảnh trong, nhà nguyện mộ phía nam (Parekklesion) và thuê những nghệ nhân bậc thầy nhất đế chế hoàn thành hệ thống tranh ghép đá mạ vàng và bích họa.
  • Năm 1511Đại tể tướng Atik Ali Pasha chuyển đổi công trình thành Thánh đường Kariye (Kariye Camii)
    Dưới triều Sultan Bayezid II, Đại tể tướng Hadım (Atik) Ali Pasha chuyển đổi ngôi đền thành thánh đường Hồi giáo Kariye, xây thêm ngọn tháp giáo đường bằng đá và phủ lớp vữa bảo vệ lên các bức tranh khảm.
  • Năm 1945 tới năm 1958 và năm 1985Viện Byzantine Hoa Kỳ phát lộ phục chế toàn bộ tranh khảm và UNESCO công nhận Di sản Thế giới
    Từ năm 1948 tới 1958, các chuyên gia Viện Byzantine Hoa Kỳ và trung tâm Dumbarton Oaks do Paul Underwood dẫn đầu đã bóc lớp vữa vôi làm lộ diện nguyên vẹn các bức tranh khảm và bích họa; năm 1985 công trình được UNESCO ghi danh Di sản Thế giới (mã số 356).
  • Năm 2020 tới ngày 6 tháng 5 năm 2024Hoàn thành cuộc đại trùng tu 4 năm và mở cửa trở lại với mô hình tham quan kết hợp hành lễ
    Sau bốn năm trùng tu khoa học tỉ mỉ từng viên đá khảm của Tổng cục Quỹ Tôn giáo Thổ Nhĩ Kỳ, Thánh đường Kariye chính thức mở cửa trở lại ngày 6 tháng 5 năm 2024, giữ nguyên toàn bộ tranh khảm và bích họa ở hai tiền sảnh và nhà nguyện để đón du khách quốc tế.
Theo sử liệu

Công cuộc phục chế thập niên 1950 của Dumbarton Oaks và cuộc đại trùng tu thế kỷ 21. Một trong những kỳ tích bảo tồn di sản đẹp nhất thế kỷ 20 tại Istanbul đã diễn ra từ năm 1948 tới năm 1958, khi Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ phối hợp với Viện Nghiên cứu Byzantine Hoa Kỳ (Byzantine Institute of America) và trung tâm Dumbarton Oaks (Đại học Harvard) dưới sự chỉ đạo của giáo sư Paul A. Underwood tiến hành dự án phục chế Đền Chora. Bằng dụng cụ nha khoa và chổi lông mềm, các chuyên gia Thổ Nhĩ Kỳ và Mỹ đã kiên nhẫn làm sạch từng milimét lớp vữa vôi và sơn vàng phủ suốt bốn thế kỷ, làm hiện ra gần một trăm bức tranh ghép đá thủy tinh mạ vàng và toàn bộ bức bích họa Phục Sinh Anastasis rực rỡ. Gần bảy thập niên sau, từ năm 2020 tới tháng 5 năm 2024, các chuyên gia bảo tồn của Tổng cục Quỹ Tôn giáo Thổ Nhĩ Kỳ (Vakıflar) một lần nữa gia cố toàn bộ mái chì, tường gạch và từng viên đá khảm tesserae để đảm bảo kiệt tác này trường tồn trước nguy cơ địa chấn của vùng biển Marmara.

IIIBố Cục Ba Không Gian Nghệ Thuật, Hai Vòm Khảm Đá Gia Phả Chúa Kitô Và Bích Họa Phục Sinh Anastasis Bất Hủ

Về mặt cấu trúc không gian, Đền Chora (Kariye Camii) được chia thành bốn khu vực kiến trúc rõ rệt vây quanh nhau như những lớp vỏ bọc bảo vệ viên ngọc trung tâm: (1) Tiền sảnh ngoài (Exonarthex) chạy dọc mặt tiền phía tây và vòng sang phía nam; (2) Tiền sảnh trong (Esonarthex) có hai mái vòm khía múi dưa tuyệt đẹp; (3) Gian Chính điện (Naos) ở trung tâm có mái vòm cao đỡ trên bốn vòm lớn cùng hốc Mihrab và bục giảng Minbar phục vụ cầu nguyện Hồi giáo, kèm phòng phụ Pastophoria ở phía bắc; và (4) Nhà nguyện Mộ phía Nam (Parekklesion) chạy dài dọc theo sườn nam của chính điện.

Điều làm nên sự kỳ diệu của công trình là gần như toàn bộ diện tích trần vòm, cung vòm (lunette) và trụ tường của Tiền sảnh ngoài, Tiền sảnh trong và Nhà nguyện Parekklesion đều được phủ kín bằng một chương trình nghệ thuật thống nhất gồm hai chuỗi tranh khảm đá (về Cuộc đời Đức Trinh Nữ Maria và Thời thơ ấu cùng Phép lạ của Chúa Giêsu) và một chuỗi bích họa (về Sự Phục Sinh và Phán Xét Cuối Cùng).

Hai mái vòm khía múi dưa tại Tiền sảnh trong (Esonarthex): Gia phả các Tổ phụ của Chúa Kitô

Ngước nhìn lên hai mái vòm khía rãnh ở phía bắc và phía nam của Tiền sảnh trong, du khách sẽ choáng ngợp trước hai mặt trời bằng vàng ròng: ở tâm vòm phía nam là bức khảm Chúa Kitô Pantokrator, bao quanh bởi 39 vị Tổ phụ từ Adam tới Giacóp xếp theo từng múi vòm; còn ở tâm vòm phía bắc là Đức Trinh Nữ Maria bế Chúa Hài Đồng, bao quanh bởi 27 vị Vua nhà David và các tổ tiên dòng dõi hoàng gia Cựu Ước.

Chuỗi 18 bức tranh khảm Cuộc đời Đức Mẹ Maria và Bức khảm Dâng Đền của Theodore Metochites

Dọc theo các vòm của Tiền sảnh trong là chuỗi 18 bức tranh khảm đá thủy tinh mạ vàng kể lại đầy cảm xúc cuộc đời thời thơ ấu của Đức Trinh Nữ Maria (dựa theo Tiền Phúc Âm Giacôbê): đặc biệt bức 'Bảy bước đi đầu đời của Đức Maria' và bức 'Thánh Giôakim và Thánh Anna âu yếm đứa con thơ Maria' được coi là đỉnh cao nhân văn của nghệ thuật Byzantine. Ngay phía trên cửa vào chính điện là bức khảm nổi tiếng khắc họa Đại tể tướng Theodore Metochites đội mũ quan cao quỳ gối dâng mô hình Đền Chora lên Chúa Kitô.

Bức đại khảm đá Deesis (Lời Chuyển Cầu) và Chuỗi tranh khảm Thời thơ ấu của Chúa Giêsu

Ở gian phía nam của Tiền sảnh trong là bức tranh khảm lớn nhất công trình mang tên Deesis (cao hơn 4 mét), khắc họa Chúa Kitô và Đức Mẹ Maria với nét mặt từ bi sâu thẳm, dưới chân có hình Hoàng tử Isaac Komnenos và nữ tu Melania (Công chúa Mông Cổ - Byzantine Maria Palaiologina). Còn tại Tiền sảnh ngoài (Exonarthex) là chuỗi hơn 25 bức tranh khảm kể về cuộc điều tra dân số tại Bethlehem, Giáng Sinh, Hành trình của Ba Vua và các phép lạ chữa lành của Chúa Giêsu.

Nhà nguyện Mộ Parekklesion và Kiệt tác Bích họa Chúa Phục Sinh (Anastasis) ở vòm hậu cung

Bước sang Nhà nguyện phía Nam (vốn được Theodore Metochites xây làm nơi an táng bản thân và các bậc danh thần), toàn bộ không gian chuyển từ tranh khảm sang nghệ thuật bích họa (fresco). Chiếm trọn bán vòm hậu cung phía đông là bức bích họa Anastasis (Chúa Phục Sinh ngự xuống Ngục Tổ Tông) nổi tiếng nhất thế giới: Chúa Kitô trong tà áo trắng rực sáng bao bọc bởi hào quang mandorla đính sao đang đứng trên hai cánh cửa đồng bị đạp tung của cõi chết, hai tay Ngài nắm chặt cổ tay kéo phăng nguyên tổ Adam từ mộ bên trái và nguyên tổ Eva trong áo choàng đỏ từ mộ bên phải bay vút lên cõi sống.

Vòm bích họa Phán Xét Cuối Cùng (Cuộn Bầu Trời Lại) và Mộ đá các Danh gia Byzantine

Trên vòm cuốn trước hậu cung của Nhà nguyện Parekklesion là bức bích họa Phán Xét Cuối Cùng với chi tiết thiên thần đang cuộn tròn cả bầu trời có mặt trời, mặt trăng và các vì sao lại như một cuộn giấy da trắng xoáy ốc. Dọc hai bên tường nhà nguyện là các hốc mộ đá vòm (arcosolia) chạm khắc tinh xảo, nơi an nghỉ của chính Đại tể tướng Theodore Metochites và thống chế Michael Tornikes.

Gian Chính điện (Naos), Đá cẩm thạch vân đối xứng, Mihrab Ottoman và Bức khảm Đức Mẹ Ngủ

Tại trung tâm công trình là Gian Chính điện (Naos) hiện dùng làm nơi cầu nguyện của Thánh đường Kariye. Bốn mặt tường được ốp những tấm đá cẩm thạch màu tím, xanh lục và hồng cắt xẻ từ cùng một khối đá để tạo thành các đường vân đối xứng như mặt gương (book-matched marble). Tại đây có hốc Mihrab đá cẩm thạch hướng về Mecca, bục giảng Minbar và ngay trên bức tường phía tây phía trên cửa ra vào vẫn lưu giữ nguyên vẹn bức tranh khảm tuyệt đẹp khắc họa Lễ Đức Trinh Nữ Maria An Giấc Ngủ (Koimesis).

Cấu trúc các không gian kiến trúc và danh mục các tác phẩm tranh khảm, bích họa tại Đền Chora (Kariye Camii), Istanbul. Nguồn: Hồ sơ Di sản Thế giới UNESCO (mã số 356), Viện Nghiên cứu Dumbarton Oaks (Paul A. Underwood) và Tổng cục Quỹ Tôn giáo Thổ Nhĩ Kỳ..
Không gian kiến trúcKỹ thuật nghệ thuật và niên đạiTác phẩm kiệt tác tiêu biểu nhất
Tiền sảnh ngoài (Exonarthex)Tranh khảm đá mạ vàng (Mosaic), năm 1315 tới 1321Chúa Kitô Miền Đất Kẻ Sống; Đức Mẹ Chiếc Lòng Đấng Vô Biên; Chuỗi Giáng Sinh và Phép lạ của Chúa
Tiền sảnh trong (Esonarthex)Tranh khảm đá trên 2 vòm khía múi dưa và tường, 1315 tới 1321Hai vòm Gia phả Chúa Kitô; 18 cảnh Cuộc đời Đức Mẹ; Bức khảm Theodore Metochites dâng đền; Đại khảm Deesis
Nhà nguyện Mộ (Parekklesion)Bích họa trên vữa (Fresco) và mộ đá vòm, năm 1315 tới 1321Bức bích họa Chúa Phục Sinh (Anastasis) kéo Adam và Eva khỏi Ngục Tổ Tông; Bích họa Cuộn Bầu Trời Phán Xét
Chính điện (Naos / Khu cầu nguyện)Ốp đá cẩm thạch vân đối xứng thế kỷ 12 - 14 và nội thất năm 1511Bức tranh khảm Đức Mẹ An Giấc Ngủ (Koimesis) ở tường tây; Hốc Mihrab đá cẩm thạch và Bục giảng Minbar Ottoman
Phòng phụ phía Bắc (Pastophoria)Kiến trúc gạch đá hai tầng có mái vòm nhỏ, thế kỷ 12 tới 14Từng là nơi lưu giữ kinh sách và thư viện học thuật lừng danh của Đại tể tướng Theodore Metochites
Ngoại thất phía Đông và Tháp MinaretTường gạch xen đá kiểu Byzantine (recessed brick) và tháp đá 1511Ba hậu cung đa giác có vòm cuốn bay phía đông kết hợp với ngọn tháp giáo đường thanh thoát thời Ottoman

IVThế Đất Và Hướng

Cần nêu rõ rằng kiến trúc Byzantine Đông La Mã và kiến trúc Ottoman không sử dụng thuật phong thủy phương Đông. Vị trí và hướng của Đền Chora được quyết định bởi quy hoạch bảy ngọn đồi của kinh đô Constantinople (nằm trên sườn bắc của Ngọn đồi thứ sáu gần Cung điện hoàng gia Blachernae) và quy tắc định hướng Ad Orientem (xoay hậu cung bàn thờ về phía Mặt trời mọc phương Đông) của Chính thống giáo, sau đó vào năm 1511 được bổ sung thêm trục hướng Qibla (xoay hốc Mihrab về phía Đông Nam hướng thẳng tới Mecca) của Hồi giáo. Dưới đây là phần phân tích hình thế sông núi và bố cục không gian của công trình dưới góc nhìn đối chiếu cổ truyền của thư viện.

Thế đất và hướng

Xét trên đại cục sơn thủy của bán đảo lịch sử Istanbul tại tọa độ 41,0314 độ vĩ bắc, 28,9392 độ kinh đông, Đền Chora (Kariye Camii) tọa lạc trên một thế đất cao nguyên nội thành, tàng phong vọng thủy vô cùng đắc địa trên sườn bắc của Ngọn đồi thứ sáu (Sixth Hill of Constantinople, đồi Edirnekapı), ngọn đồi cao nhất trong bảy ngọn đồi của thành phố cổ (đạt độ cao khoảng 70 tới 77 mét so với mực nước biển). Ngay phía tây và tây nam công trình là bức Tường thành trên bộ vĩ đại của Hoàng đế Theodosius II cùng Cổng thành Charisius (nay là cổng Edirnekapı) đóng vai trò hậu chẩm sơn thành kiên cố chắn gió tây từ lục địa Thrace thổi vào; trong khi ở phía bắc và đông bắc, địa hình thoai thoải hạ thấp dần qua các khu vườn cổ để mở tầm nhìn thẳng xuống eo nước êm đềm của vịnh Sừng Vàng (Haliç / Golden Horn). Trong phép xem hình thế cổ truyền, vị trí nằm ở sườn đồi thoai thoải phía trong bức tường thành cao nhất kinh đô và nhìn xuống vịnh nước lớn thu nạp thủy khí từ biển Bosphorus chảy vào chính là cách cục nội thành tàng ngọc, sơn thành hộ vệ, giúp công trình tránh được sự ồn ào náo nhiệt của khu thương cảng để giữ trọn mạch khí thanh tịnh của chốn học thuật và tu hành.

Xét về trục hướng nội cục và sự hài hòa của hai hệ tọa độ, toàn bộ tòa nhà Đền Chora được xây dựng theo trục Tây Bắc - Đông Nam (xoay hậu cung chính điện và hậu cung nhà nguyện Parekklesion về hướng Đông Đông Nam khoảng 120 tới 125 độ) để đón ánh nắng mặt trời buổi sớm chiếu xuyên qua các ô cửa sổ vòm làm bừng sáng hàng triệu viên đá khảm mạ vàng (vốn được các nghệ nhân Byzantine cố tình gắn nghiêng một góc nhỏ để phản xạ ánh sáng xuống mắt người đứng dưới sàn). Đặc biệt, khi chuyển đổi thành Thánh đường Kariye năm 1511, vì trục hướng của Istanbul về phía thánh địa Mecca là hướng Nam Đông Nam (khoảng 151 độ) chỉ lệch khoảng 25 tới 30 độ so với trục hậu cung Đông Đông Nam ban đầu, các kiến trúc sư Ottoman chỉ cần đặt nhẹ hốc Mihrab bằng đá cẩm thạch sang góc phải của bức tường hậu cung mà không làm xáo trộn cấu trúc đối xứng của tòa nhà.

VNghi Thức Cầu Nguyện Hằng Ngày Tại Thánh Đường Kariye, Chu Kỳ Chiêm Bái Nghệ Thuật Và Di Sản Bảy Ngọn Đồi Istanbul

Kể từ ngày 6 tháng 5 năm 2024, sau khi hoàn tất chương trình đại trùng tu kéo dài bốn năm của Tổng cục Quỹ Tôn giáo Thổ Nhĩ Kỳ (Vakıflar) và Bộ Văn hóa và Du lịch, Đền Chora / Thánh đường Kariye (Kariye Camii) hoạt động theo mô hình kết hợp hài hòa giữa một thánh đường Hồi giáo sống động và một không gian bảo tồn nghệ thuật mở cửa cho du khách toàn cầu.

Lịch trình hoạt động cầu nguyện và tham quan di sản nghệ thuật tại Đền Chora / Thánh đường Kariye, Istanbul. Nguồn: Tổng cục Quỹ Tôn giáo Thổ Nhĩ Kỳ (Vakıflar) và Sở Văn hóa và Du lịch Istanbul (Cập nhật quy chế năm 2024)..
Thời điểm / Chu kỳKhông gian thực hànhHoạt động tôn giáo và văn hóaCách thức tổ chức và bảo tồn di sản tại Kariye Camii
5 thời cầu nguyện mỗi ngày và Lễ trưa Thứ Sáu (Cuma Namazı)Khu vực Gian Chính điện (Naos) ở trung tâmCử hành lễ cầu nguyện Hồi giáo (Salat) hướng về hốc Mihrab thế kỷ 16Cộng đồng tín hữu khu phố Edirnekapı và Fatih hành lễ trên thảm đỏ trong Gian Chính điện; trong 15 phút trước và trong giờ cầu nguyện, hệ thống rèm tự động nhẹ nhàng khép lại phía trước bức tranh khảm Koimesis và mở ra ngay sau khi lễ kết thúc.
Hằng ngày từ 9:00 sáng tới 18:00 chiều (trừ ngày Thứ Sáu chỉ dành cho cầu nguyện)Tiền sảnh ngoài, Tiền sảnh trong và Nhà nguyện ParekklesionHành trình chiêm bái Tranh khảm đá và Bích họa Phục hưng PalaeologanToàn bộ 95% kho tàng tranh khảm vàng (Gia phả Chúa Kitô, Cuộc đời Đức Mẹ, bức Deesis, bức Theodore Metochites) và toàn bộ bích họa Anastasis tại hai tiền sảnh cùng nhà nguyện phía nam được mở hoàn toàn không che rèm để đón du khách và các học giả quốc tế.
Tháng chay Ramadan và các đêm lễ KandilGian Chính điện và khuôn viên sân vườn KariyeĐêm cầu nguyện Teravih và sinh hoạt văn hóa khu phố cổ EdirnekapıKhu phố gỗ cổ kính quanh Thánh đường Kariye và tường thành Theodosius bừng sáng ánh đèn; người dân địa phương tụ họp cầu nguyện đêm và thưởng thức trà Thổ Nhĩ Kỳ dưới bóng cây tiêu huyền bên ngoài hậu cung đá.
Tháng 5 và tháng 10 hằng nămQuận Fatih và Bán đảo Lịch sử IstanbulLễ hội Đường Văn hóa Beyoğlu - Suriçi (Tường thành cổ) và Hội thảo Byzantine - OttomanCác tour đi bộ học thuật kết nối Thánh đường Kariye với Cung điện Porphyrogenitus (Tekfur Sarayı), Tường thành Theodosius và Thánh đường Mihrimah Sultan của Mimar Sinan ngay cổng Edirnekapı.

Cung đường di sản trên Ngọn đồi thứ sáu từ Đền Chora tới Tường thành Theodosius. Một chuyến viếng thăm Đền Chora (Kariye Camii) sẽ trở nên vô cùng trọn vẹn khi du khách dành thêm một buổi chiều tản bộ quanh khu phố cổ Edirnekapı và Fener - Balat ngay lân cận. Chỉ cách Đền Chora khoảng ba trăm mét về phía tây là Cung điện Porphyrogenitus (Tekfur Sarayı), tòa cung điện Byzantine thế kỷ 13 duy nhất còn nguyên vẹn tại Istanbul nay là bảo tàng gốm sứ tuyệt đẹp, nối liền với bức tường thành cổ Theodosius nơi du khách có thể ngắm nhìn toàn cảnh thành phố. Và ngay bên cạnh cổng thành Edirnekapı là ngôi Thánh đường Mihrimah Sultan ngập tràn ánh sáng do đại kiến trúc sư Mimar Sinan xây dựng cho công chúa con gái vua Süleyman Đại Đế, tạo nên một cuộc đối thoại kiến trúc kỳ diệu giữa hai nền văn minh vĩ đại bên bờ vịnh Sừng Vàng.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Derviş Ali Mahallesi, Kariye Cami Sokak No:18, Edirnekapı, 34087 Fatih, Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ
Đường tới
Đền Chora (Thánh đường Kariye) nằm tại khu phố Edirnekapı, quận Fatih, cách khu vực Sultanahmet khoảng 4,5 km về phía tây bắc. Cách đi bằng phương tiện công cộng thuận tiện và đẹp nhất là bắt tuyến Xe điện mặt đất cổ điển dọc bờ vịnh Sừng Vàng số T5 (T5 Eminönü - Alibeyköy Tramvay Hattı) từ bến Eminönü đến trạm Fener hoặc trạm Ayvansaray, sau đó đi bộ lên dốc khoảng 10 tới 12 phút xuyên qua khu phố cổ; hoặc đi tuyến Tàu điện ngầm M1 (M1A / M1B) hay tuyến xe buýt Metrobüs tới trạm Edirnekapı, đi qua cổng thành cổ Theodosius khoảng 400 mét là tới ngay quảng trường Kariye. Ngoài ra, các tuyến xe buýt đô thị İETT số 31E, 32, 336E, 36KE, 37E, 38E và 87 từ Eminönü hoặc Taksim đều dừng tại trạm Edirnekapı / Şehit Yunus Emre Ezer cách đền chỉ 3 phút đi bộ.
Toạ độ
41.0314, 28.9392
Khi tới nơi

Từ tháng 5 năm 2024, Thánh đường Kariye (Đền Chora) áp dụng quy chế quản lý phân luồng riêng cho du khách tham quan văn hóa và tín hữu hành lễ: du khách quốc tế mua vé tham quan bảo tồn (hiện khoảng 20 Euro) để đi vào hành trình tham quan trọn vẹn khu vực Tiền sảnh ngoài (Exonarthex), Tiền sảnh trong (Esonarthex) và Nhà nguyện Mộ phía Nam (Parekklesion), nơi trưng bày toàn bộ các bức tranh khảm vàng và bích họa Anastasis nổi tiếng. Cần lưu ý đặc biệt rằng vào ngày Thứ Sáu hằng tuần (từ sáng tới chiều), công trình chỉ mở cửa cho các tín hữu Hồi giáo vào cầu nguyện và tạm dừng đón khách du lịch tham quan; vào các ngày khác trong tuần, khu vực tham quan mở cửa từ 9 giờ 00 sáng tới 18 giờ 00 chiều (tạm ngưng bán vé ngắn trong khoảng 15 - 30 phút vào đúng các giờ cầu nguyện chính trong ngày). Vì đây là thánh đường đang hoạt động, mọi du khách khi vào bên trong bắt buộc phải mặc trang phục kín đáo (không mặc quần đùi hoặc váy ngắn trên đầu gối, áo che kín vai; phụ nữ bắt buộc phải quàng khăn trùm tóc, có phát sẵn tại lối vào).

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền Chora (Kariye Camii) với bích họa và tranh ghép đá Byzantine, Istanbul

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Tên gọi Đền Chora và Thánh đường Kariye có nghĩa là gì?

Chữ Chora trong tiếng Hy Lạp ban đầu có nghĩa là Vùng Ngoại Thành (Ngoài Đồng Nội), vì khi tu viện đầu tiên được xây dựng vào thế kỷ 4, nơi này nằm bên ngoài bức tường thành cổ của Hoàng đế Constantine. Tới thế kỷ 14, chữ Chora được nâng lên thành danh hiệu thần học trên các bức tranh khảm, gọi Chúa Kitô là Miền Đất Của Những Kẻ Sống (Chora ton Zonton) và gọi Đức Mẹ Maria là Không Gian Chứa Đựng Đấng Vô Biên (Chora tou Achoretou). Tên gọi Kariye trong tiếng Thổ Nhĩ Kỳ (Kariye Camii) cũng có gốc từ tiếng Ả Rập Al-Qariyah nghĩa là vùng ngoại ô, dịch đúng nghĩa của chữ Chora.

Ai là người đã cho làm những bức tranh ghép đá (mosaic) và bích họa tuyệt đẹp bên trong Đền Chora?

Toàn bộ chương trình tranh ghép đá mạ vàng và bích họa còn lưu giữ tại Đền Chora ngày nay được kiến tạo trong khoảng thời gian 6 năm từ năm 1315 tới năm 1321 bởi học giả nhân văn chủ nghĩa, nhà thiên văn học kiêm Đại tể tướng (Grand Logothete) của Đế quốc Byzantine là Theodore Metochites (1270 - 1332) dưới triều Hoàng đế Andronikos II Palaiologos. Hình ảnh chính ông đội mũ quan cao quỳ gối dâng mô hình ngôi đền lên Chúa Kitô vẫn còn hiện diện rực rỡ trên vòm cửa chính điện.

Bức bích họa nổi tiếng nhất bên trong Đền Chora là tác phẩm nào và nằm ở đâu?

Tác phẩm nổi tiếng nhất là bức đại bích họa Anastasis (Sự Phục Sinh / Chúa ngự xuống Ngục Tổ Tông) nằm trên bán vòm hậu cung của Nhà nguyện Mộ phía Nam (Parekklesion). Bức họa khắc họa đầy uy lực cảnh Chúa Kitô Phục Sinh trong tà áo trắng rực sáng đứng trên hai cánh cửa đồng bị phá tung của cõi âm, hai tay Ngài nắm chặt cổ tay kéo phăng nguyên tổ Adam và nguyên tổ Eva bay ra khỏi hai cỗ quan tài đá để đưa nhân loại về cõi sống.

Vì sao sau khi chuyển thành thánh đường Hồi giáo năm 1511, các bức tranh khảm của Đền Chora vẫn còn tồn tại nguyên vẹn?

Khi Đại tể tướng Atik Ali Pasha chuyển đổi công trình thành Thánh đường Kariye vào năm 1511 dưới triều Sultan Bayezid II, người Ottoman tôn trọng giá trị của ngôi đền cổ và các hình ảnh liên quan tới Tiên tri Isa (Chúa Giêsu) cùng Đức Mẹ Maryam nên không hề đục phá các bức tranh khảm và bích họa, mà chỉ quét một lớp vữa vôi mỏng che phủ lên trên để phù hợp với quy tắc cầu nguyện Hồi giáo. Nhờ lớp vữa vôi bảo vệ ấy, từ năm 1948 tới 1958 các chuyên gia đã bóc tách và phục hồi nguyên vẹn kho tàng nghệ thuật thế kỷ 14.

Sau khi mở cửa trở lại vào tháng 5 năm 2024, du khách có được xem toàn bộ tranh khảm và bích họa tại Kariye Camii không?

Hoàn toàn được xem trọn vẹn. Theo thiết kế bảo tồn mới áp dụng từ tháng 5 năm 2024, toàn bộ 95% các tác phẩm tranh khảm và bích họa của công trình (nằm ở Tiền sảnh ngoài, Tiền sảnh trong và Nhà nguyện Parekklesion) luôn mở hoàn toàn không che chắn để đón du khách tham quan hằng ngày (trừ ngày Thứ Sáu dành riêng cho cầu nguyện), trong khi khu vực Gian Chính điện ở trung tâm được trải thảm phục vụ các tín hữu Hồi giáo hành lễ.

›Đọc Tiếp