VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Đền vách đá Pura Luhur Uluwatu, Bali

Pura Uluwatu, Pura Luhur Uluwatu

Ngôi đại đền trấn phương tây nam thuộc hàng Sad Kahyangan Jagad của đảo Bali, tọa lạc chênh vênh trên mũi vách đá vôi dựng đứng cao bảy mươi mét nhô thẳng ra lòng Ấn Độ Dương, nơi bậc thánh tăng Dang Hyang Nirartha viên thành giải thoát Moksha vào thế kỷ 16.

Khởi lập
Thế kỷ 11 và thế kỷ 16
thánh tăng Mpu Kuturan khai sơn thế kỷ 11; đại sư Dang Hyang Nirartha mở rộng và đạt Moksha thế kỷ 16
Địa thế tự nhiên
Vách đá vôi cao 70 mét
ngự trên mũi đá cực tây nam của bán đảo Bukit nhìn thẳng xuống vùng biển sâu Ấn Độ Dương
Phẩm trật tâm linh
Pura Sad Kahyangan Jagad
một trong sáu (hoặc chín) đại đền trụ cột vũ trụ trấn giữ sự cân bằng tâm linh cho toàn đảo Bali

Ở tận cùng phía nam của đảo Bali, nơi bán đảo đá vôi Bukit vươn ra đón những luồng sóng sâu thẳm của Ấn Độ Dương thuộc địa phận làng Pecatu, huyện Kuta Selatan, tỉnh Badung, mặt đất đột ngột đứt gãy thành một dải vách đá dựng đứng cao khoảng bảy mươi mét trên mực nước biển. Đứng từ đường dạo lát đá uốn lượn theo gờ vực nhìn về phía mũi đất nhô xa nhất ra đại dương, người hành hương bắt gặp những bức tường đá san hô trắng xám và ngọn tháp gỗ lợp sợi cọ đen nằm chênh vênh ngay trên mỏm đá chót vót, phía dưới là làn nước biển xanh thẫm vỗ bọt trắng xóa vào vách núi từ thế kỷ này sang thế kỷ khác.

Đó là Đền vách đá Pura Luhur Uluwatu (tiếng Bali: Pura Luhur Uluwatu, thường gọi tắt là Pura Uluwatu), một trong sáu đại đền trụ cột thiêng liêng (Pura Sad Kahyangan Jagad) trấn giữ vận mệnh tâm linh của toàn bộ người dân theo Ấn Độ giáo Bali. Trong ngôn ngữ bản địa cổ, Ulu có nghĩa là phần đầu, chóp đỉnh hay mũi tận cùng, còn Watu nghĩa là tảng đá lớn; danh xưng Luhur (nghĩa là tối thượng, siêu việt hoặc thăng hoa lên cõi trời) được kính cẩn thêm vào tên đền để ghi nhớ sự kiện bậc thánh tăng Dang Hyang Nirartha đã đạt trạng thái giải thoát tối hậu (Moksha hay Ngeluhur) ngay trên chính mũi đá này sau khi ngài hoàn tất hành trình lập các đền biển dọc bờ nam như Đền biển Pura Tanah Lot.

Đền vách đá Pura Luhur Uluwatu, Bali
Đền vách đá Pura Luhur Uluwatu, Bali. Ảnh: CEphoto, Uwe Aranas, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

IThần Shiva Rudra Trấn Phương Tây Nam, Thánh Tăng Mpu Kuturan Và Sự Giải Thoát Moksha Của Dang Hyang Nirartha

Trong sơ đồ vũ trụ học La bàn chín hướng (Dewata Nawa Sanga) của Ấn Độ giáo Bali, nếu như Đền Mẫu Pura Besakih trên sườn núi lửa Agung giữ vị trí trung tâm và hướng Đông Bắc tối thượng, thì Đền vách đá Pura Luhur Uluwatu là đại đền trấn giữ chính thức ở góc Tây Nam (Kelod Kauh) của hòn đảo. Tại đây, đấng Tối Cao Ida Sang Hyang Widhi Wasa được phụng thờ trong hóa thân là Bhatara Rudra (hay Shiva Rudra), vị thần cai quản phương Tây Nam, nắm giữ năng lực sấm sét, gió bão đại dương và sự chuyển hóa sinh tử để tiêu trừ mọi tai ương dịch bệnh cho muôn loài.

Song hành cùng sự tôn thờ thần Shiva Rudra, Pura Luhur Uluwatu còn là thánh địa gắn liền với hai vị đại tổ sư có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong lịch sử tôn giáo Bali. Vị thứ nhất là thánh tăng Mpu Kuturan (thế kỷ 11), bậc quốc sư dưới triều vua Udayana và vua Marakata đã sang Bali quy hoạch hệ thống đền làng Kahyangan Tiga và đặt những viên đá nền đầu tiên trên mũi vách đá Uluwatu. Vị thứ hai là đại đạo sư Bà La Môn Dang Hyang Nirartha (thế kỷ 16), người đã chọn mũi đá Uluwatu làm điểm dừng chân cuối cùng của cuộc đời hoằng pháp trên trần thế, kiến tạo thêm ngai đá trống Padmasana và thực hành pháp môn Ngeluhur (hóa thân vào ánh sáng giải thoát Moksha không để lại nhục thân).

Một nét đặc trưng sinh thái gắn liền với đời sống tâm linh tại Pura Luhur Uluwatu là đàn khỉ đuôi dài (Macaca fascicularis, người Bali gọi là Wanara) hàng trăm cá thể sinh sống trong khu rừng khô hạn trên đỉnh vách đá bao quanh đền. Trong niềm tin của cư dân làng Pecatu và tín đồ hành hương, đàn khỉ trên vách đá Uluwatu được xem là đội quân hầu tướng trung thành của thần khỉ Hanuman trong sử thi Ramayana, giữ nhiệm vụ canh gác rừng thiêng quanh đền suốt ngày đêm.

Theo giáo nghĩa

Mối quan hệ giữa Pura Luhur Uluwatu và các đại đền khác trên đảo Bali thể hiện rõ nét nguyên lý cân bằng đối xứng Padma Bhuwana (Đóa sen vũ trụ của mặt đất). Trong khi đỉnh núi lửa Agung ở phía đông bắc vươn cao hơn ba nghìn mét vào tầng mây để kết nối với thiên giới, thì mũi vách đá Uluwatu ở cực tây nam lại vươn ra sát rãnh biển sâu của Ấn Độ Dương ở độ cao bảy mươi mét để khóa chặt địa khí của toàn đảo. Hai điểm cực Đông Bắc (Besakih) và Tây Nam (Uluwatu) tạo thành trục xương sống chéo giữ cho con thuyền đảo Bali luôn vững vàng giữa đại dương.

Hơn nữa, việc thánh tăng Dang Hyang Nirartha chọn một mỏm đá khô cằn nơi tận cùng đất liền nhìn ra biển cả vô tận để nhập định đạt giải thoát Moksha mang thông điệp giáo nghĩa sâu sắc của phái Shaiva Siddhanta: khi người tu hành đã đi trọn con đường phụng sự nhân sinh (dựng đền, dạy lễ, cứu giúp nông dân và ngư dân khắp đảo), tâm thức sẽ buông bỏ mọi ràng buộc hữu hình như giọt nước hòa vào biển lớn và ánh chớp tan vào hư không (Sunya).

Theo sử liệu

Sử liệu cổ của Bali gồm văn bản lá bối Usana Bali và Dwijendra Tatwa cung cấp nhiều lớp thông tin lịch sử về quá trình hình thành Pura Luhur Uluwatu. Theo truyền thuyết thần thoại bản địa cổ xưa nhất, chính khối vách đá vôi bán đảo Bukit và mỏm đá nơi đặt đền Uluwatu là phần đuôi hóa đá của con thuyền thần thuộc về nữ thần biển Dewi Danu trong buổi đầu kiến tạo thế giới. Về mặt khảo cổ học, tại khu vực sân trong của đền vẫn còn lưu giữ một quan tài đá cự thạch (Sarkofagus) có niên đại từ thời tiền sử trước Công nguyên, cho thấy mũi đá Uluwatu từng là nơi tế lễ của cư dân cổ đại Nam Đảo giống như tại Đền hồ Pura Ulun Danu Bratan.

Bước sang thời kỳ lịch sử thành văn, vào thế kỷ 11 dưới vương triều Warmadewa, cao tăng Phật giáo Đại thừa kiêm học giả Ấn Độ giáo từ Đông Java là Mpu Kuturan đã tới mũi đá Pecatu dựng ngôi đền đá đầu tiên để làm nơi tu tập thiền định. Năm thế kỷ sau, vào thế kỷ 16, đại sư Dang Hyang Nirartha sau khi hoàn thành việc xây dựng chuỗi đền biển và truyền dạy kinh điển cho học trò đã một mình đi bộ lên đỉnh vách đá Uluwatu, cho mở rộng ba lớp sân đền, dựng đài sen Padmasana thờ đấng Tối Cao và chính thức viên tịch đạt Moksha tại đây. Về sau, quyền trông coi và cử hành đại lễ tại Pura Luhur Uluwatu được giao phó cho hoàng gia vương quốc Badung (cung điện Puri Agung Jro Kuta tại Denpasar) phối hợp cùng cộng đồng làng truyền thống Desa Adat Pecatu.

Chỗ hay hiểu lầm

Nhiều du khách khi tới thăm Uluwatu thường gọi cổng vào sân trong của đền là cổng chẻ đôi Candi Bentar hoặc cổng tháp Kori Agung thông thường. Kỳ thực, cả cổng ngoài lẫn cổng trong của Pura Luhur Uluwatu đều thuộc một kiểu thức kiến trúc đá rất hiếm gặp tại Bali gọi là Candi Kurung (cổng vòm đá nguyên khối có hình đôi cánh chim khổng lồ khép lại ở phía trên): hai bên thân cổng được chạm khắc thành hình đôi cánh dang rộng của thần điểu Garuda uốn cong nâng đỡ đỉnh cổng, vừa tạo dáng vẻ uy nghiêm trên đỉnh gió lộng vừa chịu được chấn động mạnh của gió bão đại dương.

IIHơn Một Thiên Niên Kỷ Trên Đỉnh Vách Đá Vôi Từ Thời Mpu Kuturan Tới Biến Cố Sét Đánh Năm 1999

Trải qua hơn một nghìn năm đứng trên mũi đá vôi khô cằn nơi sóng gió và sấm sét đại dương hội tụ, lịch sử của Đền vách đá Pura Luhur Uluwatu ghi dấu sự tiếp nối từ thời đại cự thạch tiền sử, các vương triều cổ Bali cho tới những cuộc trùng tu kiên cường cuối thế kỷ 20.

  • Thời kỳ tiền sử (trước Công nguyên)Di chỉ quan tài đá cự thạch trên mũi vách đá Pecatu
    Cư dân Nam Đảo tiền sử đặt quan tài đá nguyên khối (Sarkofagus) và phiến đá thờ trên đỉnh mũi đá vôi cao 70 mét nhìn ra Ấn Độ Dương để làm nơi giao tiếp với linh hồn tổ tiên và thần biển.
  • Thế kỷ 11Thánh tăng Mpu Kuturan khởi lập ngôi đền đá trên mũi Uluwatu
    Bậc quốc sư Mpu Kuturan dưới triều đại Warmadewa quy hoạch không gian thờ tự đầu tiên trên mỏm đá Uluwatu, đưa nơi đây vào mạng lưới các đại đền trấn giữ đảo Bali.
  • Thế kỷ 16Đại sư Dang Hyang Nirartha mở rộng đền và đạt giải thoát Moksha (Ngeluhur)
    Sau hành trình hoằng hóa khắp đảo Bali, thánh tăng Dang Hyang Nirartha tới Uluwatu thiết kế thêm đài thờ Padmasana và viên thành giải thoát Moksha ngay trên đỉnh vách đá, từ đó đền mang tôn hiệu Pura Luhur Uluwatu.
  • Thế kỷ 18 tới thế kỷ 19Sự bảo trợ nghi lễ của Vương quốc Mengwi và Hoàng gia Badung (Puri Jro Kuta)
    Sau thời kỳ vương quốc Mengwi quản lý bán đảo Bukit, quyền hộ trì và tổ chức đại lễ Piodalan tại đền Uluwatu được chuyển giao cho hoàng tộc Puri Agung Jro Kuta thuộc vương quốc Badung cùng cư dân làng Pecatu.
  • Năm 1983 và năm 1999Hai lần bị sét đánh trúng đỉnh tháp và công cuộc phục dựng nguyên trạng
    Do nằm trên mũi đá cao nhô ra biển, một số hạng mục của đền bị sét đánh hư hại vào năm 1983 và tiếp tục chịu một trận sét đánh lớn gây cháy mái cọ tháp Meru vào đầu năm 1999; cộng đồng tín đồ Badung đã ngay lập tức trùng tu hoàn chỉnh theo đúng quy cách cổ.
Theo sử liệu

Hai ngôi đền đá san hô phụ trợ Pura Dalem Jurit và Pura Pererepan gắn với hành trình lên đỉnh đá. Khi nghiên cứu thực địa quần thể Uluwatu, các học giả văn hóa Bali lưu ý rằng ngôi đền trên mỏm đá cao 70 mét luôn gắn liền với hai ngôi đền vệ tinh quan trọng của làng Pecatu. Thứ nhất là Pura Dalem Jurit nằm ngay bên trong sân đền, nơi thờ ba pho tượng đá cổ gồm thần Brahma, thần Vishnu và chính thánh tăng Dang Hyang Nirartha đứng trên tòa sen. Thứ hai là ngôi đền Pura Pererepan nằm ở khu làng dưới chân đồi cách vách đá khoảng vài cây số: trong tiếng Bali, Pererepan nghĩa là nơi nghỉ đêm, đây là nơi lưu giữ các pháp khí thiêng và là điểm dừng chân của đoàn rước thần linh trước khi tiến lên đỉnh vách đá Uluwatu vào mỗi kỳ đại lễ.

IIICổng Đôi Cánh Chim Garuda Candi Kurung, Tượng Đá Dvarapala Đầu Voi Và Tháp Meru Ba Tầng Trên Đỉnh Vực

Do địa hình mũi đá vôi Uluwatu hẹp dài và nhô thẳng ra biển với ba mặt là vực sâu thăm thẳm, bố cục ba lớp sân Tri Mandala của Pura Luhur Uluwatu (gồm sân ngoài Nista Mandala, sân giữa Madya Mandala và nội điện tối thượng Utama Mandala) được sắp xếp nối đuôi nhau theo một đường sống đá uốn lượn từ đất liền đi dần ra mỏm đá tận cùng. Vật liệu chủ đạo làm nên vẻ đẹp cổ kính của ngôi đền không phải là gạch đỏ hay đá núi lửa mềm như vùng trung tâm đảo, mà là đá vôi cứng và đá san hô trắng xám khai thác từ chính bán đảo Bukit, qua hàng thế kỷ gió biển và rêu phong đã ngả sang màu xám bạc trầm mặc.

Cổng đá Candi Kurung chạm hình đôi cánh thần điểu Garuda

Thay vì cổng chẻ đôi sắc cạnh thông thường, lối vào giữa các lớp sân của đền Uluwatu sử dụng cổng vòm đá nguyên khối Candi Kurung có phần đỉnh uốn cong mềm mại như đôi cánh chim khổng lồ đang khép lại, trên thân cổng chạm nổi hoa văn lông vũ cánh chim Garuda và dây leo xoắn ốc bằng đá san hô thế kỷ 11 tới thế kỷ 16.

Đôi tượng hộ pháp thân người đầu voi Ganesha đứng gác cửa nội điện

Ngay phía trước thềm bậc thang dẫn qua cổng vào sân trong cùng (Utama Mandala) đặt hai pho tượng đá cổ tạc hình vị thần hộ pháp có thân người vạm vỡ và đầu voi (hình tượng thần Ganesha bảo hộ ngưỡng cửa), tay cầm pháp khí đứng trấn giữ lối lên đỉnh đá thiêng.

Sân nội điện Utama Mandala trên mũi đá cao 70 mét và tháp Meru ba tầng

Nằm ở điểm chót vót nhất của mũi vách đá nhìn thẳng xuống đại dương là khu nội điện khép kín với ngọn tháp gỗ lợp sợi cọ đen ba tầng mái (Pelinggih Meru Tumpang Tiga) phụng thờ thần Shiva Rudra và thánh tăng Dang Hyang Nirartha, cùng đài sen đá trống Padmasana hướng về phía mặt trời.

Khu đền Pura Dalem Jurit và di vật quan tài đá tiền sử Sarkofagus

Bên trong khuôn viên đền là cụm thờ Pura Dalem Jurit tôn trí ba pho tượng đá cổ khắc họa thần Brahma, thần Vishnu và đại sư Dang Hyang Nirartha; ngay gần đó vẫn bảo tồn nguyên vẹn chiếc quan tài đá cự thạch dài bằng đá vôi từ thời tiền sử.

Đường dạo bờ vực đá vôi và Quảng trường tròn biểu diễn múa lửa Kecak

Chạy dọc theo gờ vách đá dựng đứng về phía nam và phía bắc mũi đền là con đường đi bộ lát đá có tường chắn uốn lượn theo sườn vực, dẫn tới một nhà hát tròn ngoài trời (Amphitheater) nằm sát mép vách đá nơi trình diễn vũ kịch đồng thanh Kecak mỗi chiều hoàng hôn.

Các thông số lịch sử, địa chất và kiến trúc đặc trưng của Đền vách đá Pura Luhur Uluwatu. Nguồn: Cổ thư Usana Bali, Dwijendra Tatwa, Cơ quan Bảo tồn Di sản Văn hóa Bali và Chính quyền tỉnh Badung..
Hạng mụcĐặc điểm kỹ thuật và niên đại lịch sửNguồn kiểm chứng
Niên đại khởi lập và mở rộngThế kỷ 11 (thánh tăng Mpu Kuturan) và mở rộng hoàn thiện vào thế kỷ 16 (đại sư Dang Hyang Nirartha)Biên niên sử Usana Bali, Dwijendra Tatwa, Wikidata Q1636409
Độ cao và địa chất nền móngMũi vách đá vôi (limestone karst) dựng đứng cao khoảng 70 mét trên mực nước biển Ấn Độ DươngKhảo sát địa chất bán đảo Bukit, huyện Badung
Kiểu thức cổng đá đặc hữuHai cổng vòm đá san hô Candi Kurung tạo hình đôi cánh chim thần Garuda, kèm hai tượng hộ pháp đầu voiCơ quan Bảo tồn Di sản Văn hóa Bali (BPCB Bali)
Phẩm trật trong hệ thống đền BaliThuộc nhóm 6 đại đền trụ cột vũ trụ (Pura Sad Kahyangan Jagad), trấn giữ phương Tây Nam (Kelod Kauh)Hội đồng Ấn Độ giáo Indonesia (Parisada Hindu Dharma Indonesia)
Đơn vị hộ trì truyền thốngHoàng gia Puri Agung Jro Kuta (Denpasar) phối hợp cùng làng truyền thống Desa Adat Pecatu (Kuta Selatan)Chính quyền tỉnh Badung (Pemerintah Kabupaten Badung)

IVThế Đất Và Hướng

Tọa lạc ở mũi đất cực tây nam của bán đảo đá vôi Bukit, nơi toàn bộ khối đảo Bali vươn một mỏm đá cao bảy mươi mét ra giữa lòng đại dương, địa thế của Pura Luhur Uluwatu là một trường hợp tiêu biểu của thế đất phi long lâm hải, cự thạch trấn khôn cung (mạch đá như đầu rồng bay ra biển lớn, tảng đá khổng lồ trấn giữ cung Khôn phương Tây Nam). Phần dưới đây phân tích địa thế thực địa của ngôi đền theo phép xem hình thế cổ truyền của thư viện.

Thế đất và hướng

Xét về hình thế đại cục và tọa độ địa lý tại 8,8292 độ vĩ nam, 115,0847 độ kinh đông, bán đảo Bukit ở phía nam Bali vốn là một khối cao nguyên đá vôi san hô cổ được nâng lên khỏi đáy biển qua hàng triệu năm vận động kiến tạo, nối với phần thân chính của đảo Bali bằng một eo đất hẹp tại Kuta và Jimbaran. Trên bản đồ địa hình, nếu phần thân đảo Bali với đỉnh núi lửa Agung là bầu trời phương Bắc và Đông Bắc, thì bán đảo Bukit giống như chiếc mỏ neo đá khổng lồ thả xuống biển phương Nam, còn mũi vách đá Uluwatu ở làng Pecatu chính là mũi nhọn khóa khí ở cực Tây Nam. Vách đá dựng đứng cao 70 mét tạo thành một bức tường thành thiên nhiên bất khả xâm phạm trước những luồng sóng lừng và gió mùa Tây Nam thổi từ Ấn Độ Dương vào.

Xét về tọa hướng và trục dẫn khí trên sườn vực, lối đi vào ba lớp sân của Pura Luhur Uluwatu men theo sống đá hẹp vươn dần từ hướng đông sang hướng tây. Tuy nhiên, khi bước vào khu nội điện Utama Mandala trên đỉnh mỏm đá, các khám thờ và đài sen Padmasana lại được bố trí quay mặt nhìn ngược về hướng Đông và Đông Bắc (tức hướng đất liền, hướng mặt trời mọc Kangin và hướng đỉnh núi Agung Kaja nơi có Đền Mẫu Pura Besakih). Cách bố trí tọa hải triều sơn (lưng tựa biển khơi vách vực, mặt hướng về núi tổ và ánh bình minh) này giúp người hành lễ khi đứng chắp tay trước bàn thờ trên đỉnh vực vẫn thu trọn vào tầm mắt cả vòm trời phương Đông lẫn mạch đất mẹ Bali phía trước.

Xét về sự giao hội của Phong, Thủy và Lôi, mũi đá Uluwatu cao 70 mét nhô ra giữa đại dương là nơi hội tụ mạnh mẽ của ba nguồn năng lượng tự nhiên: dưới chân vách đá là thủy triều biển sâu vỗ ngày đêm (Thủy), ngang lưng vực là luồng gió biển thổi lồng lộng không ngừng (Phong), và trên đỉnh đá là nơi các luồng điện khí tầng cao thường xuyên phóng xuống trong mùa mưa bão (Lôi, tương ứng với bản chất sấm sét của thần Shiva Rudra trấn giữ phương Tây Nam). Chính trường năng lượng thiên nhiên mạnh mẽ ấy giải thích vì sao các bậc đại đạo sư như Mpu Kuturan và Dang Hyang Nirartha đã chọn mỏm đá chênh vênh này làm đạo tràng tối hậu để chuyển hóa thân tâm và hội nhập vào hư không.

VĐại Lễ Kỷ Niệm Piodalan Ngày Anggara Kasih Medangsia Và Điệu Múa Lửa Đồng Thanh Kecak Trên Đỉnh Vực

Là một trong sáu đại đền Sad Kahyangan Jagad mà mọi tín đồ Ấn Độ giáo trên toàn đảo Bali đều có bổn phận hướng về lễ bái, các kỳ đại lễ tại Pura Luhur Uluwatu luôn diễn ra với quy mô trang trọng dưới sự chủ trì của hoàng gia Badung và cư dân làng Pecatu. Bảng dưới đây tóm tắt các kỳ lễ hội và sinh hoạt văn hóa tâm linh tại đền.

Các kỳ đại lễ tôn giáo và hoạt động trình diễn nghệ thuật truyền thống tại Đền vách đá Pura Luhur Uluwatu. Nguồn: Hoàng tộc Puri Agung Jro Kuta, Ban quản trị Desa Adat Pecatu và Sở Văn hóa tỉnh Badung..
Thời gianHệ lịchTên lễ tiếtNghi thức và sinh hoạt tại Đền vách đá Pura Luhur Uluwatu
Ngày Thứ Ba Anggara Kasih (Anggara Kliwon) tuần Medangsia (210 ngày một lần)Lịch Pawukon 210 ngày của BaliĐại lễ kỷ niệm ngày thành lập đền (Piodalan / Pujawali Pura Luhur Uluwatu)Hoàng tộc Puri Agung Jro Kuta (Denpasar) cùng hàng vạn tín đồ mặc lễ phục trắng từ khắp Bali rước pháp khí từ đền Pura Pererepan lên đỉnh vách đá Uluwatu, dâng lễ vật, trình diễn vũ điệu cung đình và cầu nguyện suốt ba tới bốn ngày.
Ngày lễ Kuningan (10 ngày sau lễ Galungan, 210 ngày một lần)Lịch Pawukon của BaliLễ hội Kuningan và kỷ niệm tại cụm đền Pura Dalem JuritTín đồ dâng cơm vàng (Nasi Kuning) và lá dừa kết hình binh khí truyền thống tại cụm đền Pura Dalem Jurit bên trong khuôn viên Uluwatu để tưởng niệm công đức của thánh tăng Dang Hyang Nirartha cùng chư vị tổ tiên.
Trước ngày Tết Tĩnh Lặng Nyepi và các ngày Trăng Non (Tilem)Âm lịch Saka của BaliLễ cầu an hóa giải tai ương và tịnh hóa phương Tây NamCác vị đại tư tế (Pedanda) cử hành nghi lễ dâng cúng thần Shiva Rudra trên đỉnh vách đá để cầu xin sự che chở khỏi gió bão, hạn hán và giữ gìn sự bình yên cho toàn vùng biển phía nam đảo Bali.
Các buổi chiều lúc mặt trời lặn (từ 18 giờ tới 19 giờ)Hàng ngàyTrình diễn vũ kịch đồng thanh và múa lửa Kecak trên vách đáTại quảng trường tròn sát mép vực nhìn ra mặt trời lặn xuống Ấn Độ Dương, khoảng 70 nghệ nhân nam ngồi xếp vòng tròn cất tiếng hát nhịp điệu Cak-cak-cak hoàn toàn không dùng nhạc cụ, tái hiện tích thần khỉ Hanuman vượt biển cứu nàng Sita và nhảy múa trên đống than hồng rực lửa.

Tiếng hợp xướng Kecak hòa cùng tiếng sóng vỗ bảy mươi mét dưới chân vực lúc chiều buông. Khi bóng chiều buông xuống mũi đất Pecatu và vầng thái dương đỏ thẫm chạm vào đường chân trời Ấn Độ Dương, hình ảnh ngọn tháp Meru cổ kính của Pura Luhur Uluwatu nổi bật trên nền trời tím sẫm ở phía bắc, trong khi ở phía nam là ánh đuốc bập bùng và tiếng đồng thanh Cak-cak-cak dồn dập của điệu múa lửa Kecak vang vọng giữa trời biển. Sự giao hòa giữa khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ của vách đá vôi, di sản tâm linh nghìn năm của hai vị tổ sư và nghệ thuật diễn xướng sống động biến mỗi buổi hoàng hôn tại Uluwatu thành một trải nghiệm văn hóa khó quên tại đảo Bali.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Mũi vách đá làng Pecatu, huyện Kuta Selatan, bán đảo Bukit, tỉnh Badung, đảo Bali
Đường tới
Đền tọa lạc tại mũi vách đá cực tây nam thuộc làng Pecatu, huyện Kuta Selatan (Nam Kuta), bán đảo Bukit, tỉnh Badung, cách sân bay quốc tế Ngurah Rai và khu vực Kuta khoảng 22 km về phía nam (tương đương 45 tới 55 phút đi ô tô hoặc xe máy), cách vịnh Jimbaran khoảng 12 km và cách khu Nusa Dua khoảng 18 km về phía tây. Quý vị đi theo trục đường chính Jalan Raya Uluwatu chạy dọc sống lưng bán đảo Bukit qua ngã tư công viên Garuda Wisnu Kencana (GWK) và làng Pecatu tới tận cuối đường là vào bãi đỗ xe rộng rãi của khu di tích.
Toạ độ
-8.8292, 115.0847
Khi tới nơi

Khi vào tham quan Đền vách đá Pura Luhur Uluwatu, mọi du khách đều được phát miễn phí một tấm xà-rông (Sarong) tím hoặc vàng và dây đai lưng ngay tại cổng soát vé để quấn lịch sự qua đầu gối. Khu vực nội điện trên đỉnh mũi đá chỉ dành cho các vị tư tế và tín đồ Ấn Độ giáo vào hành lễ; quý vị đi dạo dọc theo hệ thống đường lát đá có tường chắn dọc bờ vực. Đặc biệt lưu ý: đàn khỉ đuôi dài sinh sống tự nhiên tại Uluwatu rất nhanh nhẹn và hay giật kính mắt, điện thoại, mũ nón, bông tai hoặc dép lỏng lẻo của khách, vì vậy quý vị nên cất gọn kính mắt và đồ trang sức vào túi xách kéo khóa kín, không nhìn chằm chằm hoặc trêu chọc đàn khỉ.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền vách đá Pura Luhur Uluwatu, Bali

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Tên gọi Pura Luhur Uluwatu có ý nghĩa là gì?

Trong tiếng Bali cổ, Ulu có nghĩa là phần đầu, chóp đỉnh hoặc mũi đất tận cùng, còn Watu có nghĩa là tảng đá lớn, chỉ ngôi đền ngự trên đỉnh mũi vách đá nhô ra biển. Chữ Luhur (nghĩa là tối thượng hoặc thăng hoa lên cõi trời) được thêm vào để tôn vinh sự kiện bậc thánh tăng Dang Hyang Nirartha đã đạt giải thoát Moksha (Ngeluhur) ngay tại mũi đá này vào thế kỷ 16.

Đền Pura Luhur Uluwatu thờ vị thần nào và giữ vai trò gì trong hệ thống đền thờ Bali?

Đền thờ đấng Tối Cao Sang Hyang Widhi Wasa trong hóa thân là thần Shiva Rudra (Bhatara Rudra) cùng anh linh thánh tăng Dang Hyang Nirartha. Trong vũ trụ quan Bali, Uluwatu là một trong sáu đại đền trụ cột của hòn đảo (Pura Sad Kahyangan Jagad), giữ sứ mệnh trấn giữ phương Tây Nam (Kelod Kauh) đối xứng với Đền Mẫu Besakih ở phương Đông Bắc.

Hai vị đại đạo sư lịch sử nào đã sáng lập và mở rộng đền Uluwatu?

Ngôi đền được bậc quốc sư Phật giáo và Ấn Độ giáo là Mpu Kuturan khởi lập lần đầu vào thế kỷ 11 dưới triều đại Warmadewa, sau đó được vị đại đạo sư Bà La Môn Dang Hyang Nirartha mở rộng quy mô, dựng đài thờ Padmasana và chọn làm nơi viên tịch đạt giải thoát Moksha vào thế kỷ 16.

Kiến trúc cổng đá và tượng hộ pháp tại đền Uluwatu có điểm gì khác biệt so với các ngôi đền khác ở Bali?

Thay vì cổng chẻ đôi thông thường, lối vào sân giữa và sân trong của đền Uluwatu sử dụng cổng vòm đá san hô nguyên khối kiểu Candi Kurung được chạm khắc uốn cong như đôi cánh khổng lồ của thần điểu Garuda, và ngay trước cổng nội điện có hai pho tượng đá cổ tạc hình thần hộ pháp thân người đầu voi Ganesha đứng gác.

Du khách cần lưu ý điều gì nhất khi đi bộ trên vách đá đền Uluwatu và xem múa lửa Kecak?

Do khu rừng trên vách đá Uluwatu có hàng trăm cá thể khỉ đuôi dài sinh sống rất dạn người và hay lấy kính mắt, điện thoại, kẹp tóc của du khách để đổi lấy thức ăn, quý vị cần cất kỹ các vật dụng nhỏ vào trong túi có khóa kéo trước khi qua cổng đền. Nếu muốn xem múa lửa Kecak lúc 18 giờ, quý vị nên có mặt mua vé và chọn chỗ ngồi tại sân khấu tròn từ khoảng 17 giờ.

›Đọc Tiếp