Vượt qua sáu mươi kilômét sóng nước lạnh giá của vịnh Onega trên vùng Biển Trắng (Beloye More) ở phía bắc nước Nga, nơi chỉ còn cách đường Vòng Bắc Cực hơn một trăm sáu mươi kilômét, con tàu hành hương tiến dần vào vịnh Thịnh Vượng (Bukhta Blagopoluchiya) của đảo Solovetsky Lớn. Ngay từ ngoài khơi xa, một cảnh tượng hùng tráng hiện ra giữa sương mù biển Bắc: một tòa thành lũy khổng lồ ghép hoàn toàn từ những tảng đá cuội băng hà thô ráp màu xám đỏ nặng hàng chục tấn, với tám ngọn tháp tròn đội mái chóp gỗ vươn lên ngay sát mép sóng biển bên này và mặt hồ Thánh phẳng lặng bên kia. Vươn cao phía trên vòng tường thành cự thạch ấy là những khối nhà thờ quét vôi trắng toát nâng đỡ các mái vòm lợp ván gỗ dương xám bạc như một hạm đội buồm trắng neo đậu giữa đại dương.
Quý vị đang đặt chân tới Quần thể Tu viện đảo Solovetsky trên Biển Trắng (tên chính thức trong phụng vụ tiếng Nga là Solovetsky Spaso-Preobrazhensky Stavropigialny Muzhskoy Monastyr, nghĩa là Đan viện Nam Stavropigial Chúa Cứu Thế Biến Hình Solovetsky, thường gọi thân thuộc là Tu viện Solovki). Được khai sơn từ năm 1429 tới năm 1436 bởi ba vị thánh ẩn tu tiên phong là Thánh Savvaty, Thánh German và Thánh Zosima, và đạt tới đỉnh cao kiến trúc lẫn kỹ thuật thủy lợi dưới thời vị Viện phụ lừng danh Thánh Filipp Kolychev (1548 tới 1566), Solovetsky là trung tâm tâm linh, văn hóa và kinh tế lớn nhất của Chính Thống giáo Nga tại vùng Cực Bắc suốt năm thế kỷ. Năm 1992, toàn bộ quần thể lịch sử và văn hóa của quần đảo Solovetsky đã được UNESCO ghi danh là một trong những Di sản Thế giới đầu tiên của Liên bang Nga.

IMầu Nhiệm Chúa Giêsu Biến Hình Và Ba Vị Thánh Tổ Khai Sơn Giữa Biển Bắc
Toàn bộ đan viện và ngôi đại thánh đường chính của đảo được dâng kính cho đại lễ Chúa Giêsu Kitô Biến Hình Hiển Dung (Spaso-Preobrazheniye Gospodne) trên núi Tabor. Trong linh đạo đan tu Chính Thống giáo Đông phương (đặc biệt là truyền thống cầu nguyện tâm tưởng Hesychasm lan tỏa từ núi Athos lên phương Bắc nước Nga vào thế kỷ 14 và 15 qua học trò của Thánh Sergius xứ Radonezh và Thánh Kirill xứ Beloozero), mầu nhiệm Chúa Biến Hình giữ vị trí tối thượng: ánh sáng trắng chói lòa tỏa ra từ dung mạo và y phục của Chúa Kitô trên núi Tabor chính là Ánh Sáng Không Được Tạo Dựng (Ánh Sáng Tabor), là đích điểm chiêm niệm của người đan sĩ giữa vùng đất Bắc Cực quanh năm sương giá và đêm đông kéo dài.
Lịch sử khai sơn đan viện gắn liền với ba vị Thánh Tổ được tôn kính khắp miền Bắc nước Nga. Năm 1429, vị lão đan sĩ Thánh Savvaty (từng tu tại Tu viện Kirillo-Belozersky và đảo Valaam) nghe tin giữa Biển Trắng có một cụm đảo hoang vắng không người ở nên đã cùng đan sĩ Thánh German chèo một chiếc thuyền gỗ nhỏ vượt biển suốt hai ngày đêm để cập bến đảo Solovetsky Lớn, dựng cây thánh giá và am gỗ đầu tiên bên hồ nước ngọt. Sau khi Thánh Savvaty viên tịch năm 1435, một chàng trai trẻ xuất thân quý tộc vùng Novgorod là Thánh Zosima đã gặp Thánh German và cùng nhau quay lại đảo Solovetsky vào năm 1436. Theo hạnh tích, ngay trong những ngày đầu trên đảo, Thánh Zosima đã nhìn thấy một thị kiến kỳ diệu: giữa bầu trời phương Đông hiện ra một ngôi đại thánh đường lộng lẫy tỏa ánh sáng rực rỡ xuống dải đất hẹp nằm giữa vịnh biển và mặt hồ. Chính tại vị trí thị kiến ấy, Thánh Zosima và các đệ tử đã dựng ngôi nhà thờ gỗ đầu tiên kính Chúa Biến Hình, khai sinh cộng đoàn đan tu Solovetsky.
Trong truyền thống đan tu Chính Thống giáo Nga, cuộc vận động tâm linh thế kỷ 15 đi về phương Bắc (được các nhà sử học gọi là Thebaid Phương Bắc, sánh với sa mạc Thebaid của các Giáo phụ Ai Cập cổ đại) không lấy sa mạc cát nóng làm nơi tu luyện, mà lấy rừng già phương Bắc và biển băng Bắc Cực làm sa mạc tĩnh tâm. Tại quần đảo Solovetsky (gồm 6 đảo lớn như đảo Bolshoy Solovetsky, đảo Anzer, đảo Bolshaya Muksalma và hơn 100 đảo nhỏ), các đan sĩ vừa sống đời cộng tu nghiêm ngặt tại tu viện chính, vừa lập ra các Skete (Skit, tức các am thất ẩn tu biệt lập trên núi và các đảo xa như am Golgotha-Crucifixion hay am Chúa Ba Ngôi trên đảo Anzer do Thánh Eleazar lập), nơi các bậc ẩn sĩ sống trong sự thinh lặng tuyệt đối giữa tiếng sóng biển và gió bắc.
Người đã đưa Tu viện Solovetsky từ một đan viện gỗ xa xôi trở thành một kỳ quan kiến trúc đá và trung tâm công nghệ tiên tiến nhất nước Nga thế kỷ 16 là Thánh Viện phụ Filipp (thế danh Fyodor Stepanovich Kolychev, 1507 tới 1569). Xuất thân từ một đại gia tộc quý tộc Boyar ở Moskva và từng là bạn thời thơ ấu của Ivan IV, chàng thanh niên Fyodor Kolychev đã từ bỏ vinh hoa triều đình năm 30 tuổi, đi bộ lên phương Bắc xin làm một người tập việc chẻ củi, khuân đá ẩn danh tại đảo Solovetsky suốt mười năm trước khi được bầu làm Viện phụ (Igumen) từ năm 1548 tới năm 1566. Trong mười tám năm làm Viện phụ, với tư duy của một kỹ sư thiên tài, Thánh Filipp đã cho đào hệ thống kênh nối liền 52 hồ nước ngọt trên đảo, lập các xưởng nấu muối, lò gạch, xưởng rèn sắt, trại nuôi tuần lộc, cảng đá và mời các kiến trúc sư giỏi nhất từ thành phố cổ Novgorod ra đảo xây dựng những đại thánh đường bằng đá và gạch khổng lồ trước khi ngài được triệu về Moskva làm Tổng giám mục toàn Nga (và chịu tử đạo năm 1569, hài cốt của ngài sau đó được rước về Nhà thờ chính tòa Đức Mẹ Ngủ trong Điện Kremlin, Moskva năm 1652).
Một điều khiến nhiều du khách ngạc nhiên khi tìm hiểu về quần đảo Solovetsky là sự xuất hiện của những Mê cung đá cổ đại (Stone Labyrinths, người địa phương gọi là Vavilony) nằm rải rác trên bờ biển đảo Bolshoy Zayatsky và đảo chính Solovetsky, khiến không ít người lầm tưởng đó là công trình do các đan sĩ Chính Thống giáo xếp lên để làm đường kinh hành cầu nguyện. Thực tế khảo cổ học đã xác nhận hai lớp di sản hoàn toàn khác nhau trên quần đảo: hơn 35 mê cung đá xoắn ốc trên quần đảo Solovetsky là những di chỉ khảo cổ thời tiền sử thuộc nền văn hóa biển phương Bắc có niên đại từ thiên niên kỷ thứ 2 đến thiên niên kỷ thứ 1 trước Công nguyên (hơn hai ngàn năm trước khi các đan sĩ đặt chân tới đảo). Khi Thánh Zosima và các đan sĩ thế kỷ 15 tới lập tu viện, họ đã tôn trọng giữ nguyên các di chỉ tiền sử ấy và dựng các cây thánh giá gỗ lớn của Chính Thống giáo tại bờ đảo để thánh hóa không gian biển đảo.
IITừ Chiếc Thuyền Gỗ Năm 1429 Tới Thành Trì Đá Tảng Băng Hà Và Di Sản Thế Giới UNESCO
Suốt từ thế kỷ 15 đến đầu thế kỷ 20, Tu viện Solovetsky không chỉ là một trung tâm hành hương lớn bậc nhất nước Nga mà còn là thành trì bảo vệ biên cương hàng hải phương Bắc của quốc gia và là cái nôi của văn hóa hàng hải Pomor. Từ những xưởng đóng tàu, bến cảng đá và trường hàng hải của các đan sĩ Solovetsky, kỹ thuật đi biển vùng Bắc Băng Dương đã phát triển vượt bậc; bản thân Sa hoàng Pyotr Đại đế đã hai lần đích thân dẫn hạm đội vượt Biển Trắng ra thăm và cầu nguyện tại Tu viện Solovetsky vào năm 1694 và năm 1702 trước khi mở chiến dịch Đại Bắc Chiến giành cửa biển Baltic.
- 1429 tới 1436Thánh Savvaty, Thánh German và Thánh Zosima vượt Biển Trắng khai sơn đan việnNăm 1429, Thánh Savvaty và Thánh German cập đảo Solovetsky dựng thánh giá tại hồ Savvatievo; năm 1436 Thánh Zosima cùng Thánh German lập đan viện bên vịnh Bukhta Blagopoluchiya; Thánh Zosima làm Viện phụ từ năm 1452 tới khi viên tịch năm 1478.
- 1548 tới 1566Kỷ nguyên vàng của Thánh Viện phụ Filipp Kolychev: xây đại thánh đường đá và kênh đàoDưới sự lãnh đạo của Viện phụ Filipp Kolychev và các kiến trúc sư Novgorod (do bậc thầy Ignaty Salka chỉ huy), đan viện xây dựng Nhà thờ Đức Mẹ Ngủ kèm Đại Trai đường (1552 tới 1557), Nhà thờ chính tòa Chúa Biến Hình (1558 tới 1566) và đào kênh nối 52 hồ nước ngọt.
- 1584 tới 1594Đan sĩ kiến trúc sư Trifon xây dựng Tường thành pháo đài bằng đá cuội băng hà khổng lồTheo sắc lệnh của Sa hoàng Fyodor I nhằm bảo vệ vùng biển Bắc, đan sĩ kiêm kiến trúc sư Trifon (quê ở vùng Kargopol) chỉ huy xây dựng bức tường thành ngũ giác dài 1.084 mét với 8 tháp canh và 7 cổng thành ghép hoàn toàn từ những tảng đá cuội băng hà nguyên khối nặng từ 5 tới 10 tấn.
- 1601 tới 1602Nối hành lang vòm và hoàn thiện quần thể trung tâmXây dựng các dãy hành lang vòm bằng đá nối liền Nhà thờ Chúa Biến Hình, Nhà thờ Đức Mẹ Ngủ và Nhà thờ Thánh Nikolai thành một tổ hợp liên hoàn có thể đi lại bên trong suốt mùa đông Bắc Cực mà không phải ra ngoài trời tuyết.
- 1694 và 1702Hai chuyến hành hương lịch sử của Sa hoàng Pyotr Đại đế tới đảo SolovetskyTháng 6 năm 1694, sau khi thoát chết kỳ diệu khỏi một trận bão lớn trên Biển Trắng, Sa hoàng Pyotr I cập đảo Solovetsky tạ ơn và tự tay đẽo một cây thánh giá gỗ lớn; tháng 8 năm 1702, Pyotr I quay lại đảo cùng 13 chiến thuyền trước khi hành quân theo Con đường của Hoàng đế đi lấy pháo đài Noteburg.
- 1777 tới 1859Xây Tháp chuông 50 mét, Âu tàu khô (1801) và Nhà thờ Chúa Ba Ngôi Zosima-SavvatyXây dựng Tháp chuông cao 50 mét (1777), đào Âu tàu khô bằng đá đầu tiên ở miền Bắc Nga để sửa tàu (1801), xây dựng đập đá dài 1,2 km nối đảo Bolshaya Muksalma và xây Nhà thờ Chúa Ba Ngôi Zosima-Savvaty (1859) làm nơi tôn trí thánh tích các Thánh Tổ.
- 1967, 1990 và 1992Thành lập Khu bảo tồn Bảo tàng, khôi phục đan viện (1990) và ghi danh UNESCO (1992)Khu bảo tồn Bảo tàng Lịch sử và Kiến trúc Quốc gia Solovetsky được thành lập năm 1967 để trùng tu di tích; năm 1990 đời sống đan tu Chính Thống giáo được tái lập cùng việc rước thánh tích ba vị Thánh Tổ Zosima, Savvaty và German trở về đảo; năm 1992 quần thể được UNESCO công nhận Di sản Thế giới (mã số 632).
Những kỳ quan kỹ thuật vượt thời đại của các đan sĩ thế kỷ 16 tới thế kỷ 19. Bất kỳ kỹ sư hiện đại nào đặt chân tới đảo Solovetsky cũng phải kinh ngạc trước trình độ khoa học kỹ thuật của cộng đoàn đan tu nơi cực Bắc này. Ngay từ giữa thế kỷ 16 dưới thời Viện phụ Filipp Kolychev, nhận thấy trên đảo Solovetsky Lớn không có sông tự nhiên nhưng lại có hàng trăm hồ nước ngọt hình thành từ kỷ băng hà nằm ở các độ cao chênh lệch nhau, các đan sĩ đã khảo sát địa hình và đào các con kênh đá nối liền 52 hồ nước ngọt để dẫn dòng nước chảy thẳng về Hồ Thánh (Svyatoye Ozero) ngay sát bức tường phía đông của tu viện, rồi cho nước chảy xuyên qua bên dưới sân tu viện ra Biển Trắng nhằm chạy cối xay bột, xưởng giặt và cung cấp nước sạch tự chảy. Hơn thế nữa, trong Đại Trai đường xây năm 1552 tới 1557, các kiến trúc sư đã thiết kế hệ thống lò sưởi khí nóng luồn trong tường gạch (calorifer) giúp sưởi ấm cả đại sảnh 500 mét vuông giữa mùa đông Bắc Cực. Tiếp nối truyền thống ấy, vào năm 1801 các đan sĩ đã xây dựng Âu tàu khô bằng đá (Dry Dock) vận hành bằng sức nước thủy triều và nước hồ, đến năm 1828 tới 1865 đắp Đập đá nhân tạo dài 1,2 kilômét bằng đá tảng xuyên qua eo biển dữ nối đảo chính với đảo Bolshaya Muksalma, và đến năm 1912 tự xây dựng cả nhà máy thủy điện riêng phục vụ tu viện.
IIITường Thành Đá Tảng Băng Hà, Nhà Thờ Chúa Biến Hình Hình Tháp Và Đại Trai Đường Một Cột
Thành trì trung tâm (Kremlin) của Tu viện Solovetsky nằm ngay trên dải đất hẹp ngăn cách giữa vịnh biển Bukhta Blagopoluchiya ở phía tây và Hồ Thánh nước ngọt ở phía đông. Toàn bộ quần thể là sự kết hợp độc nhất vô nhị giữa kỹ thuật xây dựng cự thạch (megalithic masonry) bằng đá cuội băng hà không đẽo gọt ở phần tường thành và chân đế với phần thân nhà thờ xây gạch quét vôi trắng vươn cao theo trường phái kiến trúc Novgorod phương Bắc.
Bao bọc toàn bộ tu viện là bức tường thành hình ngũ giác dài 1.084 mét, cao từ 8 tới 11 mét, có chân tường dày tới 6 mét (mặt trên dày 4 mét), được đan sĩ kiến trúc sư Trifon xây dựng từ năm 1584 tới 1594. Khác với mọi pháo đài xây gạch ở Moskva hay Smolensk, tường thành Solovetsky được ghép từ hàng vạn tảng đá cuội granite và gneiss khổng lồ do sông băng thời tiền sử để lại trên đảo: nhiều tảng đá ở phần chân tường dài tới 4,5 mét và nặng từ 5 tới 10 tấn được xếp khít vào nhau theo hình đa giác tự nhiên mà không cần đục vuông. Trấn giữ các góc thành là 8 ngọn tháp lớn (Tháp Korozhnaya, Tháp Pryadilnaya, Tháp Belaya, Tháp Archangelskaya, Tháp Nikolskaya, Tháp Povarennaya, Tháp Kvassnaya, Tháp Orudheinaya) và 7 cổng thành kiên cố.
Đứng sừng sững ở trung tâm sân tu viện là Nhà thờ chính tòa Chúa Biến Hình do Thánh Viện phụ Filipp và kiến trúc sư Ignaty Salka người Novgorod kiến tạo từ năm 1558 tới 1566. Để giữ nhiệt chống cái lạnh Bắc Cực và chịu được gió bão biển, phần chân tường của nhà thờ dày tới gần 5 mét và toàn bộ khối thân tường quét vôi trắng được xây vuốt thon mạnh mẽ từ dưới lên trên như một ngọn tháp hình chóp cụt cao 42 mét. Trên đỉnh mái là một mái vòm chính lớn ở giữa và bốn tháp nhà nguyện nhỏ ở bốn góc lợp ván gỗ dương truyền thống. Bên trong lòng nhà thờ chỉ dùng đúng hai cây cột trụ bát giác cực lớn để đỡ toàn bộ vòm trần cao vút và dựng Vách linh ảnh (iconostasis) gỗ chạm thếp vàng năm 1697 cao 18 mét theo lệnh của Sa hoàng Pyotr Đại đế.
Được xây dựng đầu tiên trong chương trình kiến trúc đá của Viện phụ Filipp từ năm 1552 tới 1557, tổ hợp này gồm Nhà thờ Đức Mẹ Ngủ và tòa Đại Trai đường (Trapeznaya Palata) rộng tới 485 mét vuông. Toàn bộ hệ vòm gạch khổng lồ của phòng ăn tu viện rộng gần năm trăm mét vuông chỉ tựa duy nhất vào một cây cột trụ đá tròn khổng lồ đường kính 4 mét đặt ở chính giữa phòng (lớn thứ hai nước Nga thời Trung cổ, chỉ đứng sau Cung điện Đa Diện Granovitaya Palata trong Điện Kremlin Moskva), bên dưới tầng hầm đặt hệ thống lò sưởi dẫn khí nóng qua các ống tường lên sưởi ấm toàn bộ đại sảnh.
Liền kề phía bắc của Nhà thờ chính tòa Chúa Biến Hình (nối với nhau qua hành lang vòm có mái che) là Nhà thờ Chúa Ba Ngôi Zosima-Savvaty được xây dựng lại bằng đá vào năm 1859 trên nền nhà thờ cổ thế kỷ 16. Đây chính là trái tim hành hương linh thiêng nhất của toàn quần đảo: nơi đặt ba cỗ quách thánh tích tôn kính hài cốt của ba vị Thánh Tổ khai sơn đan viện là Thánh Zosima, Thánh Savvaty và Thánh German xứ Solovki (được rước trở về từ Leningrad năm 1990 và năm 1992).
Giữa sân tu viện vươn lên ngọn Tháp chuông ba tầng cao 50 mét xây năm 1777 trên nền móng đá tảng khổng lồ. Ở mặt tường phía tây nhìn thẳng ra bến cảng vịnh biển là Cổng Thánh (Svyatye Vorota), phía trên cổng là Nhà thờ Truyền Tin (Blagoveshchenskaya Nadbratnaya Tserkov, xây năm 1596 tới 1601) từng là nhà nguyện riêng của các Viện phụ. Phía bắc Tháp chuông là Nhà thờ Thánh Nikolai (Nikolskaya Tserkov, xây lại năm 1831 tới 1834 bằng đá cuội và gạch trên nền nhà thờ thế kỷ 16 của Thánh Filipp).
Bên trong vòng tường thành của tu viện còn bảo tồn nguyên vẹn tòa nhà Cối xay nước (Melnitsa) xây từ đầu thế kỷ 17, nơi dòng kênh đào dẫn nước từ Hồ Thánh chảy xuyên qua lòng đất dưới chân tường thành để quay bánh xe nước rồi đổ ra vịnh biển. Ngay sát bờ vịnh bên ngoài tường phía nam là Âu tàu khô bằng đá (Sukhoi Dok) xây năm 1801 với hệ thống cống điều tiết thủy triều; và ở phía đông đảo chính là con Đập đá vĩ đại (Bolshaya Muksalmskaya Dam) dài 1,2 km rộng 6 mét do các đan sĩ xếp bằng đá cuội băng hà uốn lượn qua biển nối sang đảo Bolshaya Muksalma.
| Công trình kiến trúc và Kỹ thuật | Niên đại và Tác giả | Đặc điểm cấu trúc và Giá trị di sản |
|---|---|---|
| Tường thành cự thạch và 8 Tháp canh | 1584 tới 1594 (Đan sĩ kiến trúc sư Trifon) | Chu vi 1.084 mét, cao 8 tới 11 mét, dày tới 6 mét, ghép từ các tảng đá cuội băng hà nặng 5 tới 10 tấn, gồm 8 tháp và 7 cổng |
| Nhà thờ chính tòa Chúa Biến Hình | 1558 tới 1566 (Thánh Viện phụ Filipp và Ignaty Salka) | Cao 42 mét, tường chân dày gần 5 mét vuốt thon lên cao, 2 cột trụ bát giác lớn đỡ vòm chính và 4 nhà nguyện tháp góc trên mái |
| Nhà thờ Đức Mẹ Ngủ và Đại Trai đường | 1552 tới 1557 (Kiến trúc sư Ignaty Salka người Novgorod) | Đại sảnh một cột rộng 485 mét vuông với cột trụ giữa đường kính 4 mét, tích hợp hệ thống lò sưởi khí nóng âm tường thế kỷ 16 |
| Nhà thờ Chúa Ba Ngôi Zosima-Savvaty | 1859 (Xây trên nền nhà thờ năm 1566) | Nơi tôn trí vĩnh cửu ba quách thánh tích của ba vị Thánh Tổ khai sơn: Thánh Zosima, Thánh Savvaty và Thánh German xứ Solovki |
| Nhà thờ Truyền Tin trên Cổng Thánh và Tháp chuông | 1596 tới 1601 (Nhà thờ Cổng Thánh); 1777 (Tháp chuông) | Nhà thờ trấn giữ Cổng Thánh phía tây nhìn ra Biển Trắng; Tháp chuông 3 tầng cao 50 mét đứng ở trung tâm sân đan viện |
| Kênh đào 52 hồ, Âu tàu khô và Đập đá Muksalma | Thế kỷ 16 (Kênh đào); 1801 (Âu tàu); 1828 tới 1865 (Đập đá) | Kiệt tác kỹ thuật thủy lợi phương Bắc: kênh nối 52 hồ nước ngọt về Hồ Thánh, âu sửa tàu bằng đá và đập đá biển dài 1,2 km |
IVThế Đất Và Hướng
Cần nêu rõ rằng Giáo hội Chính Thống giáo Nga và các Thánh Tổ khai sơn thế kỷ 15 không áp dụng thuật phong thủy phương Đông. Việc Thánh Zosima chọn dải đất hẹp nằm giữa vịnh biển Bukhta Blagopoluchiya và Hồ Thánh vào năm 1436 xuất phát từ thị kiến tâm linh và điều kiện sinh tồn thiết yếu nơi vùng biển Bắc Cực: vịnh biển kín gió ở phía tây cho phép thuyền bè neo đậu an toàn tránh bão Biển Trắng, trong khi hồ nước ngọt lớn ngay sát phía đông cung cấp nguồn nước uống quanh năm. Đồng thời, toàn bộ các nhà thờ trong đan viện đều tuân theo trục phụng vụ Đông phương với bàn thờ hướng về phía Đông. Những phân tích dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép xem hình thế sơn thủy cổ truyền của thư viện Vạn Đạo Đường dành cho độc giả Á Đông.
Xét theo phép xem hình thế sơn thủy cổ truyền tại tọa độ 65,0244 độ vĩ bắc, 35,7105 độ kinh đông (nơi vĩ độ cao sát vòng Bắc Cực với hiện tượng Ngày Trắng mặt trời gần như không lặn vào mùa hạ), Quần thể Tu viện đảo Solovetsky tọa lạc trên một cục đất cực kỳ hiếm có trên thế giới: thế tiền hải hậu hồ, lưỡng thủy giáp châu (phía trước là vịnh biển mặn, phía sau là hồ nước ngọt, hai làn nước âm dương kẹp giữ hòn ngọc ở giữa). Dải đất nền nơi dựng pháo đài tu viện chính là một con đê băng tích tự nhiên (isthmus) rộng chỉ khoảng vài trăm mét nằm kẹp giữa hai mặt nước lớn: sát chân tường phía tây là mặt nước mặn của vịnh Bukhta Blagopoluchiya thuộc Biển Trắng (nhưng được hai mũi đất và đảo Babiy cùng đảo Zayatsky che chắn ở ngoài khơi như tiền án và triều sơn cản sóng dữ), còn ngay sát chân tường phía đông là mặt nước ngọt trong vắt của Hồ Thánh (Svyatoye Ozero) rộng lớn không bao giờ cạn.
Về trục hướng và cách dẫn mạch thủy, các nhà thờ chính trong khuôn viên đều được kiến tạo theo trục tọa Tây hướng Đông: cửa Cổng Thánh và mặt tiền các nhà thờ mở về hướng Tây nhìn ra vịnh biển (nơi đón toàn bộ tàu thuyền hành hương cập bến như ngoại minh đường đường thủy), trong khi các vòm hậu cung bàn thờ đều hướng về phía Đông tựa vào mặt nước tĩnh lặng của Hồ Thánh và rừng thông nguyên sinh trên các ngọn đồi giữa đảo (như núi Sekirnaya) làm hậu chẩm. Đặc biệt nhất, dưới góc nhìn địa lý cổ truyền, công trình đào kênh nối liền 52 hồ nước ngọt trên khắp đảo dồn về Hồ Thánh rồi cho một nhánh nước ngọt chảy ngầm xuyên qua lòng tu viện (vận hành cối xay nước) trước khi đổ ra vịnh biển ở phía tây của Thánh Viện phụ Filipp thế kỷ 16 chính là phép dẫn mạch tụ thủy, nội ngoại khí thông: biến Hồ Thánh phía sau thành chiếc tụ bảo bồn khổng lồ tích trữ toàn bộ linh khí nước ngọt của hòn đảo để nuôi dưỡng sinh mệnh cho thành trì đá tảng suốt gần sáu trăm năm.
VĐại Lễ Chúa Biến Hình 19 Tháng 8, Lễ Kính Chư Thánh Solovki Và Mùa Hành Hương Biển Trắng
Hiện nay, Tu viện Solovetsky mang quy chế cao quý là một Đan viện Nam Stavropigial (Stavropigialny Monastyr, tức đan viện tự trị trực thuộc quyền cai quản trực tiếp của Đức Thượng phụ Moskva và toàn Nga, không qua giáo phận địa phương), đồng thời phối hợp chặt chẽ với Khu bảo tồn Bảo tàng Lịch sử, Kiến trúc và Tự nhiên Quốc gia Solovetsky. Lịch phụng vụ hàng ngày và các kỳ đại lễ được cử hành theo Lịch Julius của Chính Thống giáo Nga.
| Thời gian cử hành | Hệ lịch đối chiếu | Tên đại lễ và sự kiện hành hương | Nghi thức phụng vụ và truyền thống tại Tu viện đảo Solovetsky |
|---|---|---|---|
| 19 tháng 8 (tức 6 tháng 8 lịch Julius) | Lịch Chính Thống giáo Nga | Đại lễ Chúa Giêsu Kitô Biến Hình Hiển Dung (Preobrazheniye Gospodne) | Lễ bổn mạng tối cao (Prestolny Prazdnik) của toàn đan viện và Nhà thờ chính tòa Chúa Biến Hình: cử hành đại lễ trọng thể, làm phép trái cây và rước kiệu quanh bức tường thành đá tảng. |
| 21 tháng 8 (tức 8 tháng 8 lịch Julius) | Lịch Chính Thống giáo Nga (Kỷ niệm năm 1566 và 1992) | Đại lễ Di dời thánh tích ba vị Thánh Tổ Zosima, Savvaty và German xứ Solovki | Tưởng niệm cả sự kiện rước thánh tích sang nhà thờ mới năm 1566 lẫn biến cố lịch sử tháng 8 năm 1992 khi Đức Thượng phụ Aleksy II đích thân rước thánh tích ba vị Thánh Tổ trở về lại đảo Solovetsky. |
| 22 tháng 8 (tức 9 tháng 8 lịch Julius) | Lịch Chính Thống giáo Nga | Đại lễ kính Toàn thể Chư Thánh xứ Solovki (Sobor Solovetskikh Svyatykh) | Khép lại chuỗi ba ngày đại lễ tháng Tám trên đảo bằng việc tôn vinh toàn bộ các vị Thánh Tổ, Viện phụ, Đan sĩ ẩn tu và các Thánh Tân Tử Đạo gắn liền với quần đảo Solovetsky. |
| 30 tháng 4 và 10 tháng 10 (tức 17/4 và 27/9 lịch Julius) | Lịch Chính Thống giáo Nga | Lễ kính riêng Thánh Zosima (30/4) và Thánh Savvaty (10/10) xứ Solovki | Hai ngày lễ truyền thống mở đầu và khép lại mùa hàng hải trên Biển Trắng, cử hành canh thức trọn đêm bên quách thánh tích các ngài. |
| 16 tháng 7 và 22 tháng 1 (tức 3/7 và 9/1 lịch Julius) | Lịch Chính Thống giáo Nga | Lễ kính Thánh Viện phụ Filipp Kolychev (Tổng giám mục Moskva) | Tôn vinh vị Viện phụ kiệt xuất (1548 tới 1566) đã kiến tạo nên diện mạo kiến trúc đá và hệ thống thủy lợi của Tu viện Solovetsky. |
Hành trình vượt Biển Trắng và kết nối các thánh địa phương Bắc. Vì vùng Biển Trắng đóng băng và có bão lớn suốt từ tháng 11 đến tháng 5, mùa hành hương và du lịch bằng tàu thủy tới quần đảo Solovetsky diễn ra sôi động nhất vào mùa hè từ tháng 6 đến tháng 9 (đặc biệt là các tháng 6 và tháng 7 khi quần đảo bước vào mùa Ngày Trắng vùng cận Bắc Cực và các tháng 8 khi diễn ra chuỗi Đại lễ Chúa Biến Hình và lễ ba vị Thánh Tổ). Khi kết hợp hành trình khám phá vùng Tây Bắc nước Nga từ Quần thể nhà thờ gỗ Kizhi Pogost, Karelia trên hồ Onega đi tiếp lên phía bắc tới Quần thể Tu viện đảo Solovetsky trên Biển Trắng, quý vị sẽ chiêm ngưỡng được hai đỉnh cao vĩ đại nhất của kiến trúc gỗ và kiến trúc đá cự thạch phương Bắc.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Khu định cư Solovetsky, Quần đảo Solovetsky, Biển Trắng, tỉnh Arkhangelsk 164070, Liên bang Nga
- Đường tới
- Quần thể Tu viện tọa lạc trên đảo Bolshoy Solovetsky giữa vịnh Onega của Biển Trắng, thuộc tỉnh Arkhangelsk. Cách phổ biến và thuận tiện nhất để ra đảo vào mùa hè (từ tháng 6 đến tháng 9) là đi tàu hỏa trên tuyến đường sắt Murmansk (từ Saint Petersburg hoặc Moskva) tới ga thành phố Kem (Kem) hoặc ga Belomorsk thuộc Cộng hòa Karelia; từ ga Kem đi xe buýt khoảng 12 km ra bến cảng Rabocheostrovsk rồi đi tàu thủy cao tốc vượt Biển Trắng khoảng 2 giờ đồng hồ (60 km) là cập bến đảo Solovetsky ngay gần tường thành tu viện. Ngoài ra, quanh năm có các chuyến bay nội địa từ thành phố Arkhangelsk bay thẳng ra sân bay nhỏ trên đảo Solovetsky (khoảng 50 phút bay).
- Toạ độ
- 65.0244, 35.7105
Tu viện Solovetsky là một đan viện nam đang hoạt động nghiêm ngặt trên một quần đảo vùng cận Bắc Cực (thời tiết trên Biển Trắng luôn lạnh và nhiều gió ngay cả giữa mùa hè tháng 7, nên quý vị bắt buộc phải mang theo áo khoác chắn gió ấm và giày đi bộ chống trượt để đi trên mặt đá cuội). Khi bước qua Cổng Thánh vào bên trong khuôn viên tu viện, quy tắc trang phục Chính Thống giáo được áp dụng rất chặt chẽ: nam giới mặc quần dài và bỏ mũ nón khi vào nhà thờ, phụ nữ bắt buộc phải mặc váy dài quá bắp chân và quàng khăn trùm kín tóc (có sẵn khăn và váy quấn cho mượn tại cổng). Để tham quan các am ẩn tu (Sketes) trên núi Sekirnaya (nơi có ngọn hải đăng đặt trên đỉnh nhà thờ cao nhất Biển Trắng), đảo Bolshaya Muksalma hay đảo Anzer, quý vị đăng ký qua Trung tâm Hành hương hoặc Văn phòng Bảo tàng ngay trước cổng tu viện.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Quần thể Tu viện đảo Solovetsky trên Biển Trắng (Di sản UNESCO)
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tu viện đảo Solovetsky nằm ở đâu và được những vị thánh nào sáng lập vào thế kỷ 15?
Tu viện tọa lạc trên đảo Bolshoy Solovetsky thuộc quần đảo Solovetsky nằm giữa vịnh Onega của Biển Trắng (tỉnh Arkhangelsk, miền Bắc nước Nga), cách đường Vòng Bắc Cực chỉ khoảng 165 km về phía nam. Đan viện được khai sơn từ năm 1429 tới năm 1436 bởi ba vị thánh ẩn tu của Chính Thống giáo Nga là Thánh Savvaty, Thánh German và Thánh Zosima xứ Solovki.
Bức tường thành pháo đài của Tu viện Solovetsky có đặc điểm kỹ thuật gì khác biệt với các pháo đài khác ở Nga?
Khác với Điện Kremlin ở Moskva, Novodevichy hay Smolensk được xây bằng gạch nung hoặc đá vôi đẽo phẳng, bức tường thành dài 1.084 mét của Tu viện Solovetsky (do đan sĩ kiến trúc sư Trifon xây từ năm 1584 tới 1594) được ghép theo lối cự thạch từ hàng vạn tảng đá cuội granite và gneiss băng hà khổng lồ không đẽo gọt có sẵn trên đảo, nhiều tảng đá ở chân tường dài hơn 4 mét và nặng từ 5 tới 10 tấn.
Ai là vị Viện phụ đã xây dựng các đại thánh đường đá và hệ thống kênh đào nối các hồ trên đảo vào thế kỷ 16?
Đó là Thánh Viện phụ Filipp (Fyodor Stepanovich Kolychev, làm Viện phụ từ năm 1548 tới 1566, sau này trở thành Tổng giám mục Moskva và toàn Nga). Trong 18 năm cai quản đan viện, ngài đã mời các kiến trúc sư từ Novgorod ra xây dựng Nhà thờ Đức Mẹ Ngủ kèm Đại Trai đường Một Cột (1552 tới 1557), Nhà thờ chính tòa Chúa Biến Hình (1558 tới 1566) và chỉ đạo đào hệ thống kênh nối liền 52 hồ nước ngọt trên đảo đổ về Hồ Thánh.
Những mê cung đá xoắn ốc (Stone Labyrinths) trên quần đảo Solovetsky là do ai tạo ra?
Hơn 35 mê cung đá xoắn ốc (người địa phương gọi là Vavilony) nằm trên đảo Bolshoy Zayatsky và các đảo thuộc quần đảo Solovetsky không phải do các đan sĩ thời Trung cổ xếp, mà là những di chỉ khảo cổ của cư dân tiền sử phương Bắc có niên đại từ thiên niên kỷ thứ 2 đến thiên niên kỷ thứ 1 trước Công nguyên, được bảo tồn chung trong Quần thể Di sản Thế giới UNESCO năm 1992.
Du khách muốn đi hành hương hoặc tham quan đảo Solovetsky nên đi vào mùa nào và bằng phương tiện gì?
Thời điểm lý tưởng nhất để tới đảo Solovetsky là mùa hè từ tháng 6 đến đầu tháng 9 (khi thời tiết ấm áp nhất, biển êm và có hiện tượng Ngày Trắng vùng cận Bắc Cực). Du khách thường đi tàu hỏa từ Saint Petersburg hoặc Moskva tới thành phố Kem (Karelia), ra cảng Rabocheostrovsk đi tàu thủy 2 tiếng qua Biển Trắng để lên đảo, hoặc đi máy bay từ thành phố Arkhangelsk.