VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Thánh đường Djinguereber, Timbuktu

Masjid Djingareyber, Mosquée Djingareyber de Tombouctou, Đại Thánh đường Thứ Sáu của Hoàng đế Mansa Musa tại Timbuktu

Đại thánh đường Thứ Sáu cổ nhất và lớn nhất tại thành phố huyền thoại Timbuktu (Di sản Thế giới UNESCO năm 1988), được Hoàng đế Mansa Musa I của Đế chế Mali ủy thác cho kiến trúc sư Abu Ishaq al-Sahili kiến dựng năm 1327 bằng gạch bùn phơi nắng, đá vôi sa mạc và những thanh gỗ cọ nhô ra trên ngọn tháp hình chóp bậc thang.

Năm khởi dựng
Năm 1327 Công nguyên (727 Hijri)
xây dựng ngay sau chuyến hành hương Mecca lịch sử năm 1324 của Hoàng đế Mansa Musa I
Hoàng đế và Kiến trúc sư
Mansa Musa I và Abu Ishaq al-Sahili
vị kiến trúc sư kiêm thi sĩ xứ Granada nhận thưởng 200 kg vàng (40.000 mithqal) khi hoàn thành công trình
Mở rộng thế kỷ 16
Năm 1570 tới năm 1583
Đại Thẩm phán Qadi al-Aqib ibn Mahmud ibn Umar mở rộng thành chín hành lang cầu nguyện thời Đế chế Songhai
Vật liệu bản địa
Gạch bùn Banco, Đá Alhor và Gỗ Toron
sự kết hợp bậc thầy giữa đất sét trộn rơm, đá vôi hạt mịn sa mạc và hệ giàn giáo gỗ cọ vĩnh cửu
Quy mô và Sức chứa
Sức chứa lên tới 12.000 tín hữu
gồm phòng cầu nguyện 25 hàng cột vòm, ba sân trong và hai tháp gọi lễ minaret (tháp chính cao 16 m)
Di sản Thế giới
UNESCO (năm 1988, mã số 119)
một trong ba trụ cột của Đại học Timbuktu trung đại cùng với Thánh đường Sankoré và Thánh đường Sidi Yahia

Nằm ở rìa phía tây nam của thành phố ốc đảo huyền thoại Timbuktu (Tombouctou), nơi những cồn cát vàng rực của đại sa mạc Sahara gặp gỡ vùng châu thổ ngập nước của khúc uốn dòng sông Niger ở miền bắc Cộng hòa Mali, Thánh đường Djinguereber (tiếng Songhai là Djingareyber, tiếng Ả Rập là al-Masjid al-Kabir, tức Đại Thánh đường) vươn lên với ngọn tháp đất nện hình chóp cụt cắm đầy những thanh gỗ cọ nhô ra giữa bầu trời xanh thẳm vùng Sahel. Suốt gần bảy thế kỷ qua, đối với những đoàn lữ hành lạc đà vượt hàng ngàn dặm cát nóng từ Bắc Phi xuống hay những đoàn thuyền gỗ từ thượng nguồn sông Niger xuôi về, hình bóng ngọn tháp Djinguereber chính là cột mốc thiêng liêng báo hiệu họ đã đặt chân tới kinh đô học thuật và tâm linh vĩ đại nhất Tây Phi.

Trong lịch sử văn minh Hồi giáo thế giới và lịch sử kiến trúc châu Phi, Thánh đường Djinguereber giữ vị trí tối thượng: đây là công trình tôn giáo lâu đời nhất còn đứng vững tại Timbuktu (được UNESCO ghi danh là Di sản Thế giới từ năm 1988) và là biểu tượng rực rỡ nhất của thời kỳ hoàng kim Đế chế Mali dưới triều đại vị hoàng đế giàu có bậc nhất lịch sử nhân loại là Mansa Musa I (trị vì khoảng 1312 tới 1337). Cùng với người anh em song hành ở khu phố đông bắc là Thánh đường và Học viện Sankoré và thánh đường Sidi Yahia, Djinguereber đã hợp thành ba đại học đường của Đại học Timbuktu danh tiếng; đồng thời kết nối cùng di sản Kitô giáo tại Nhà thờ chính tòa Thánh Tâm Chúa Giêsu ở Bamako và di sản bản địa tại Đền thờ linh vật Binu của người Dogon ở vách đá Bandiagara để làm nên chiều sâu văn hóa ngàn năm của đất nước Mali.

Thánh đường Djinguereber, Timbuktu
Thánh đường Djinguereber, Timbuktu. Ảnh: Angeline A. van Achterberg, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IĐấng Tối Cao Allah, Chuyến Hành Hương Mecca Năm 1324 Của Hoàng Đế Mansa Musa Và Kiến Trúc Sư Abu Ishaq Al-Sahili

Theo truyền thống chính thống của Hồi giáo dòng Sunni thuộc trường phái luật học Maliki (trường phái do Imam Malik ibn Anas sáng lập tại Medina và trở thành nền tảng pháp lý, đạo đức khắp vùng Maghreb cùng Tây Phi từ thế kỷ 11), Thánh đường Djinguereber là ngôi đại giáo đường Thứ Sáu (Jami) dâng hiến hoàn toàn cho việc thờ phụng Đấng Tối Cao Allah Duy Nhất. Tên gọi Djinguereber (hay Djingareyber) bắt nguồn từ tiếng Songhai bản địa, ghép giữa từ Djingarey (nơi cầu nguyện, thánh đường) và từ Ber (lớn lao, vĩ đại), nghĩa đen chính là Đại Thánh Đường Cầu Nguyện.

Sự ra đời của Thánh đường Djinguereber vào năm 1327 Công nguyên (tức năm 727 theo lịch Hồi giáo Hijri) là kết quả trực tiếp từ một trong những cuộc hành hương vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới: chuyến hành hương Hajj tới thánh địa Mecca năm 1324 tới 1325 của Hoàng đế Đế chế Mali là Mansa Musa I (còn gọi là Kankou Moussa). Khi dẫn đoàn tùy tùng gồm 60.000 người và hàng trăm con lạc đà chở vàng ròng băng qua sa mạc Sahara tới Cairo, Medina và Mecca, Mansa Musa không hề tìm kiếm vinh quang quân sự mà khao khát đưa những học giả luật học, nhà thiên văn, thi sĩ và kiến trúc sư lỗi lạc nhất của thế giới Hồi giáo về xây dựng quê hương Tây Phi thành một trung tâm trí tuệ ngang tầm với Cairo, Córdoba và Baghdad.

Theo giáo nghĩa

Tại thánh địa Mecca năm 1324, Hoàng đế Mansa Musa đã gặp gỡ và kết giao với một học giả, nhà luật học, thi sĩ kiêm kiến trúc sư tài hoa bậc thầy đến từ xứ Granada (miền nam Tây Ban Nha thời vương triều Nasrid của cung điện Alhambra) tên là Abu Ishaq Ibrahim al-Sahili (khoảng 1290 tới 1346, thường được gọi bằng biệt danh al-Tuwayjin). Cảm phục trước tầm nhìn văn hóa và lòng mộ đạo của vị hoàng đế châu Phi, Abu Ishaq al-Sahili đã nhận lời cùng Mansa Musa vượt sa mạc Sahara về miền lưu vực sông Niger.

Theo bộ biên niên sử nổi tiếng thế kỷ 17 của Tây Phi là Tarikh al-Sudan (do học giả người Timbuktu là Abd al-Sadi biên soạn khoảng năm 1655) cũng như tác phẩm của đại sử gia Ibn Khaldun, khi dừng chân tại thành phố Timbuktu vào năm 1325 tới 1327, Mansa Musa đã ủy thác cho Abu Ishaq al-Sahili thiết kế và chỉ đạo xây dựng hai công trình lịch sử: Cung điện Hoàng gia (Madugu) và Đại Thánh đường Djinguereber. Để tưởng thưởng cho tài năng của vị kiến trúc sư xứ Andalusia sau khi hoàn thành ngôi thánh đường tuyệt mỹ vào năm 1327, Hoàng đế Mansa Musa đã ban tặng cho al-Sahili khoản tiền công kỷ lục là 40.000 mithqal vàng ròng (tương đương khoảng 180 tới 200 kg vàng nguyên chất). Chính Abu Ishaq al-Sahili đã kết hợp kỹ thuật quy hoạch không gian vòm cột của vùng Địa Trung Hải với vật liệu đất nện và gỗ cọ bản địa của châu Phi, khai sinh ra phong cách kiến trúc Sudano-Sahelian nổi tiếng khắp thế giới.

Theo sử liệu

Sau thời kỳ Đế chế Mali, bước sang thế kỷ 15 và thế kỷ 16 dưới triều đại Đế chế Songhai (đặc biệt dưới thời Hoàng đế Askia Mohammad I và Askia Daoud), dân số và số lượng học giả, sinh viên đổ về Timbuktu tăng lên gấp bội khiến ngôi thánh đường năm 1327 trở nên chật hẹp. Vào năm 1570 Công nguyên (978 Hijri), vị Đại Thẩm phán tối cao (Qadi) của Timbuktu là học giả al-Aqib ibn Mahmud ibn Umar ibn Muhammad Aqit (cũng là người tái thiết Thánh đường Sankoré và Thánh đường Sidi Yahia) đã khởi công một cuộc đại trùng tu và mở rộng toàn diện Thánh đường Djinguereber kéo dài suốt mười ba năm tới năm 1583. Qadi al-Aqib đã cho xây dựng lại các bức tường bao bằng đá vôi hạt mịn (alhor) khai thác từ vùng sa mạc, mở rộng phòng cầu nguyện có mái che lên tới chín dãy hành lang chạy song song với bức tường Qibla và nới rộng sân trong phía tây để có thể đón cùng lúc tới 12.000 tín hữu trong lễ cầu nguyện ngày thứ Sáu.

Chỗ hay hiểu lầm

Một điều mà nhiều người khi nhìn thấy vẻ ngoài mộc mạc màu vàng đất của Thánh đường Djinguereber thường lầm tưởng là công trình chỉ được đắp hoàn toàn bằng bùn đất mềm yếu. Thực tế khảo sát kiến trúc của UNESCO và Quỹ Văn hóa Aga Khan cho thấy cấu trúc của Thánh đường Djinguereber bền vững hơn nhiều: bên cạnh loại gạch bùn tròn phơi nắng trộn rơm và bơ hạt mỡ truyền thống (gọi là gạch ferey và vữa banco), một phần rất lớn các bức tường chịu lực và hàng cột bên trong từ đợt đại trùng tu thế kỷ 16 của Qadi al-Aqib được xây bằng các khối đá vôi trầm tích giàu thạch cao khai thác từ lòng hồ khô vùng sa mạc Sahara (đá alhor), bên ngoài mới được trát phủ một lớp bùn đất sét mịn để chống xói mòn do gió cát và giữ nhiệt độ bên trong luôn mát mẻ.

IIBảy Thế Kỷ Từ Hoàng Đế Mansa Musa Năm 1327, Thời Hoàng Kim Đại Học Timbuktu Tới Di Sản Thế Giới UNESCO

Trải qua bảy trăm năm đứng trước gió cát sa mạc Sahara, lịch sử của Thánh đường Djinguereber là biên niên sử sống động của cả nền văn minh Tây Phi: từ thời kỳ cực thịnh của Đế chế Mali và Đế chế Songhai, những cuộc thám hiểm châu Âu thế kỷ 19 cho tới các chương trình bảo tồn quốc tế đương đại.

  • Năm 1324 tới năm 1327 Công nguyên (724 tới 727 Hijri)Hoàng đế Mansa Musa I ủy thác cho Abu Ishaq al-Sahili xây dựng Thánh đường Djinguereber
    Trở về từ chuyến hành hương Mecca lịch sử năm 1324 cùng học giả kiêm kiến trúc sư xứ Granada là Abu Ishaq al-Sahili, Hoàng đế Mansa Musa cho khởi dựng Đại Thánh đường Djinguereber và ban thưởng 40.000 mithqal vàng.
  • Thế kỷ 15 tới thế kỷ 16Trở thành một trong ba học viện trụ cột của Đại học Timbuktu thời Đế chế Songhai
    Cùng với Thánh đường Sankoré và Thánh đường Sidi Yahia, các sân trong và hành lang cột của Djinguereber trở thành giảng đường đại học dạy thần học, luật học Maliki, ngữ pháp, logic học và thiên văn học.
  • Năm 1570 tới năm 1583 Công nguyên (978 tới 991 Hijri)Đại Thẩm phán Qadi al-Aqib thực hiện đại trùng tu và mở rộng bằng đá vôi Alhor
    Dưới triều Hoàng đế Songhai là Askia Daoud, Đại Thẩm phán al-Aqib ibn Mahmud mở rộng phòng cầu nguyện lên 9 hành lang với 25 hàng cột vòm và xây tường đá vôi alhor trát đất banco.
  • Tháng 4 năm 1828 và năm 1853Nhà thám hiểm René Caillié và học giả Heinrich Barth phác họa Thánh đường Djinguereber
    Năm 1828, nhà du hành Pháp René Caillié cải trang vào Timbuktu và thực hiện các bản đo đạc, vẽ phác thảo đầu tiên về Thánh đường Djinguereber giới thiệu với châu Âu, tiếp nối bởi học giả Đức Heinrich Barth năm 1853.
  • Tháng 12 năm 1988UNESCO ghi danh Thành phố cổ Timbuktu và Thánh đường Djinguereber là Di sản Thế giới
    UNESCO công nhận ba đại thánh đường (Djinguereber, Sankoré và Sidi Yahia) cùng 16 lăng mộ tại Timbuktu là Di sản Văn hóa Thế giới theo các tiêu chí (ii), (iv) và (v) (mã số 119).
  • Năm 1996 tới năm 2006 và giai đoạn 2013 tới 2020Dự án bảo tồn toàn diện của Quỹ Văn hóa Aga Khan (AKTC) và UNESCO
    Quỹ Văn hóa Aga Khan phối hợp với thợ xây truyền thống Timbuktu trùng tu mái gỗ cọ, tường đá alhor và đào tạo nghệ nhân; sau biến cố xung đột năm 2012, UNESCO hỗ trợ bảo vệ và phục hồi toàn bộ di sản Timbuktu.
Theo sử liệu

Ghi chép lịch sử năm 1828 của René Caillié và truyền thống tập đoàn thợ nề thế tập Bari của Timbuktu. Khi nhà thám hiểm người Pháp René Caillié đặt chân vào Timbuktu vào tháng 4 năm 1828 sau nhiều thế kỷ thành phố này chỉ tồn tại như một huyền thoại vàng son trong trí tưởng tượng châu Âu, công trình đầu tiên khiến ông kinh ngạc và ngồi vẽ lại tỉ mỉ chính là Thánh đường Djinguereber. Caillié đã ghi nhận sự cổ kính đáng kinh ngạc của phần tường phía tây (dấu tích trực tiếp từ thời Mansa Musa thế kỷ 14) và hệ thống hành lang cột vòm mát rượi giữa cái nắng sa mạc.

Bí quyết giúp một công trình bằng đất sét, đá vôi mềm và gỗ cọ có thể tồn tại nguyên vẹn suốt 700 năm qua nằm ở tổ chức Phường hội Thợ xây truyền thống thế tập của Timbuktu (tiếng Songhai gọi là Bari). Từ thời Hoàng đế Mansa Musa và Đại Thẩm phán al-Aqib tới tận ngày nay, việc trông coi kết cấu, thay thế các dầm gỗ cọ bị mối mọt và trát lại lớp áo đất sét hàng năm cho Thánh đường Djinguereber luôn được truyền từ cha sang con trong các dòng họ thợ cả danh tiếng, biến việc bảo trì ngôi thánh đường thành một nghĩa vụ tôn giáo thiêng liêng của cả cộng đồng đô thị.

IIINgọn Tháp Minaret Hình Chóp Cụt Cắm Gỗ Toron, Phòng Cầu Nguyện Hai Mươi Lăm Hàng Cột Và Tường Đá Vôi Alhor

Với diện tích mặt bằng rộng lớn trải dài khoảng 90 mét theo chiều đông tây và 43 mét theo chiều bắc nam, Thánh đường Djinguereber là kiệt tác nguyên mẫu của kiến trúc đất nện vùng Sudano-Sahelian. Toàn bộ công trình như mọc thẳng lên từ chính lòng đất sa mạc với những đường cong mềm mại được nặn bằng tay, không có một góc cạnh sắc nhọn công nghiệp nào, hòa quyện tuyệt đối với những cồn cát và bầu trời Timbuktu.

Ngọn Tháp Minaret Chính Hình Chóp Bậc Thang và Hệ Giàn Giáo Gỗ Cọ Vĩnh Cửu (Toron)

Thống lĩnh toàn bộ đường chân trời phía tây Timbuktu là ngọn tháp gọi lễ (Minaret) hình chóp cụt năm tầng thu nhỏ dần lên đỉnh, cao khoảng 16 mét. Từ bốn mặt tường đất nện của ngọn tháp đâm ngang ra hàng chục thanh gỗ cọ (gỗ cây thốt nốt châu Phi Borassus aethiopum hoặc gỗ cây Dum, gọi là Toron). Những thanh gỗ Toron này vừa đóng vai trò kết cấu liên kết lớp vỏ đất sét với lõi tường bên trong, vừa là hệ thống bậc thang giàn giáo vĩnh cửu để các thợ xây trèo lên trát bùn mới sau mỗi mùa mưa.

Phòng Cầu Nguyện Rộng Lớn Gồm Chín Hành Lang và Hai Mươi Lăm Hàng Cột Đá Đất

Ở nửa phía đông của quần thể là không gian cầu nguyện có mái che (Haram) được thiết kế theo kiểu sảnh nhiều cột (Hypostyle hall): gồm 9 hành lang dài chạy theo hướng bắc nam (song song với bức tường Qibla phía đông) và được chia cắt bởi 25 hàng cột vòm chạy theo hướng đông tây. Do gỗ ở vùng rìa sa mạc không có thân cây quá dài, các cột trụ đá vôi trát đất phải đặt khá dày (cách nhau khoảng 2 đến 3 mét), tạo nên một rừng cột vòm sâu thẳm, tĩnh mịch và mát lạnh hơn hẳn nhiệt độ ngoài trời từ 10 đến 15 độ C.

Mái Bằng Bằng Thân Cây Cọ, Chiếu Lá Cọ và Hàng Trăm Ống Thông Gió Gốm

Phần mái phẳng khổng lồ của phòng cầu nguyện được đỡ bằng hàng ngàn khúc gỗ cây cọ xếp khít nhau, bên trên trải các lớp chiếu đan bằng lá cọ và phủ một lớp đất sét banco dày để chống nóng và chống thấm. Trên mặt mái có hàng trăm lỗ thông khí nhỏ được đậy bằng những chiếc nắp bình gốm nung úp ngược: vào ban đêm hoặc khi cần lấy sáng và thoát khí nóng, người trông coi chỉ cần nhấc các nắp gốm này ra để không khí lưu thông khắp 25 hàng cột bên dưới.

Bức Tường Qibla Phía Đông, Hốc Mihrab Hình Nón và Bục Giảng Minbar Cổ

Bức tường phía đông hướng về thánh địa Mecca được gia cố ở bên ngoài bằng những trụ chống đất nện (buttresses) vươn lên thành các chóp nhọn gọi là Sarafar (biểu tượng bảo vệ tâm linh). Ở mặt trong bức tường là hốc cầu nguyện Mihrab và bục giảng thuyết thứ Sáu Minbar có bậc thang xây bằng gạch đất nện, phía trên đỉnh Mihrab vươn lên thành một ngọn tháp hình nón thứ hai nhô cao khỏi mặt mái để đánh dấu vị trí của vị Imam chủ lễ.

Ba Sân Trong Mở (Sahn) và Bức Tường Cổ Nhất Thế Kỷ 14 Thời Mansa Musa

Khác với các thánh đường chỉ có một sân, Djinguereber sở hữu ba khoảng sân trong không mái che (trong đó sân lớn nhất nằm ở phía tây là nơi từng diễn ra các buổi giảng bài đại học và đón hàng ngàn tín hữu cầu nguyện ngoài trời). Đặc biệt, bức tường phía bắc của sân lớn vẫn bảo tồn phần kết cấu gạch đất nện nguyên bản từ năm 1327 thời Hoàng đế Mansa Musa và kiến trúc sư Abu Ishaq al-Sahili.

Khu Mộ Phần Các Học Giả và Thánh Nhân Ngay Trong Lòng Thánh Đường

Ẩn sâu bên trong các hành lang phía bắc và phía tây của Thánh đường Djinguereber là nơi an nghỉ tôn nghiêm của nhiều vị đại học giả, thẩm phán tối cao (Qadi) và các bậc thánh nhân Sufi của Timbuktu từ thế kỷ 14 tới thế kỷ 16, khiến mỗi bước chân bên trong thánh đường đều chạm vào lịch sử trí tuệ của vùng đất này.

Các hạng mục kiến trúc và kỹ thuật xây dựng đất nện đặc trưng của Thánh đường Djinguereber tại Timbuktu. Nguồn: Hồ sơ Di sản Thế giới UNESCO (mã số 119) và Quỹ Văn hóa Aga Khan (AKTC)..
Hạng mục kiến trúc và Kết cấuNiên đại và Vật liệu bản địaĐặc điểm kỹ thuật và Chức năng tôn giáo
Tháp Minaret chính hình chóp bậc thangNăm 1327 (trùng tu 1570); đá alhor, gạch bùn ferey và gỗ toronTháp năm tầng cao khoảng 16 m với hàng chục thanh gỗ cọ toron nhô ra làm giàn giáo trát bùn vĩnh cửu
Phòng cầu nguyện nhiều cột (Haram)Mở rộng 1570 tới 1583 (Qadi al-Aqib)Gồm 9 hành lang bắc nam và 25 hàng cột đông tây, giữ nhiệt độ nội thất luôn mát dịu giữa khí hậu sa mạc
Hệ thống mái gỗ cọ và Ống thông gió gốmThế kỷ 14 tới 16 (trùng tu 1996 tới 2006 bởi AKTC)Dầm gỗ cọ Borassus, chiếu lá cọ và lớp đất sét dày có các lỗ thông hơi đậy bằng nắp gốm nung điều hòa không khí
Bức tường phía bắc và Ba sân trongNăm 1327 (thời Mansa Musa và Abu Ishaq al-Sahili)Lưu giữ mảng tường cổ nhất từ thế kỷ 14; sân tây rộng lớn giúp nâng tổng sức chứa lên 12.000 người
Tường Qibla, Tháp Mihrab và Trụ SarafarThế kỷ 14 tới thế kỷ 16Tường phía đông có hàng trụ chống đất nện kết thúc bằng các chóp nhọn Sarafar và ngọn tháp nón ngay trên hốc Mihrab

IVThế Đất Và Hướng

Cần nêu rõ rằng truyền thống Hồi giáo Sunni tại Tây Phi và kiến trúc sư Abu Ishaq al-Sahili vào năm 1327 không sử dụng thuật phong thủy phương Đông khi quy hoạch Thánh đường Djinguereber. Vị trí và phương vị của công trình được xác lập theo quy tắc định hướng Qibla trong Hồi giáo (bức tường chính và hốc Mihrab xoay thẳng về hướng Đông về phía thánh địa Mecca) kết hợp với địa thế gò cao tránh cát lấp và lũ sông Niger của đô thị ốc đảo Timbuktu. Những phân tích dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép xem hình thế sơn thủy cổ truyền của thư viện Vạn Đạo Đường.

Thế đất và hướng

Xét trên đại cuộc địa hình của vùng rìa nam sa mạc Sahara (vùng Azawad và Khúc uốn sông Niger) tại tọa độ 16,7719 độ vĩ bắc, 3,0114 độ kinh tây, thành phố cổ Timbuktu tọa lạc ở độ cao khoảng 261 mét tại một vị trí chiến lược độc nhất vô nhị được mệnh danh là nơi Lạc Đà gặp gỡ Thuyền Độc Mộc: phía bắc thành phố là biển cát mênh mông của đại sa mạc Sahara, trong khi chỉ cách thành phố khoảng 12 tới 15 km về phía nam (tại cảng Kabara và Korioumé) là đỉnh vòng cung cực bắc của dòng đại giang Niger vươn lên tưới mát vùng đất khô hạn trước khi ngoặt xuống phía đông nam.

Về bố cục tam tài nội đô và tọa hướng, toàn bộ thành phố cổ Timbuktu được bảo hộ bởi ba đại thánh đường xếp thành một thế chân vạc tam giác linh thiêng: Thánh đường Sankoré trấn giữ phương Đông Bắc, Thánh đường Sidi Yahia trấn giữ trung tâm phía Nam, và Thánh đường Djinguereber trấn giữ gò đất cao ở cực Tây Nam (khu phố Djingareyber). Nhờ tọa lạc trên một cao nguyên cát nén và đá vôi cổ (đài địa) ở phía tây nam, Thánh đường Djinguereber có bức tường lưng phía Tây dày kiên cố đứng chắn luồng gió cát sa mạc, trong khi toàn bộ 9 hành lang cột và hốc cầu nguyện Mihrab đều tọa Tây hướng Đông đón trọn ánh mặt trời bình minh và hướng thẳng về thánh địa Mecca, biến khối kiến trúc đất nện khổng lồ thành mỏ neo vững chãi giữ cho ốc đảo Timbuktu trường tồn giữa sa mạc.

VĐại Lễ Cầu Nguyện Thứ Sáu Của Mười Hai Nghìn Tín Hữu, Lễ Hội Trát Bùn Crépissage Và Đại Lễ Mawlid Đọc Thủ Bản Cổ

Là đại thánh đường Thứ Sáu chính thức (Jami) của toàn thành phố Timbuktu suốt bảy thế kỷ qua, Thánh đường Djinguereber vận hành nhịp sống tâm linh theo lịch Hồi giáo (âm lịch Hijri) kết hợp với lịch mùa vụ nước nổi của dòng sông Niger.

Các kỳ đại lễ Hồi giáo và nghi thức cộng đồng bảo tồn di sản tại Thánh đường Djinguereber ở Timbuktu. Nguồn: Phái bộ Văn hóa Timbuktu (Mission Culturelle de Tombouctou) và Hội đồng Các Học giả và Imam Timbuktu..
Thời điểm cử hànhHệ lịchTên đại lễ Hồi giáo và nghi thức cộng đồngHoạt động tâm linh tại Thánh đường Djinguereber, Timbuktu
Trưa Thứ Sáu hằng tuần và năm thời mỗi ngàyTheo giờ mặt trời hằng ngàyĐại lễ cầu nguyện Thứ Sáu toàn thành phố (Salat al-Jumu'ah)Hàng ngàn tín hữu người Songhai, người Tuareg, người Fulani, người Bella và người Ả Rập Moor trong trang phục áo choàng Boubou trắng và khăn xếp chàm tụ hội về 25 hàng cột và sân tây để nghe bài giảng Khutbah của vị Đại Imam Timbuktu.
Hằng năm trước hoặc sau mùa mưa (khoảng tháng 5 tới tháng 6)Lịch mùa vụ SahelLễ hội Cộng đồng Trát Bùn Bảo Tồn Thánh Đường (Crépissage)Dưới sự chỉ huy của Phường hội Thợ nề truyền thống (Bari), hàng trăm thanh niên và cư dân Timbuktu chuyển từng thúng bùn banco đã ủ kỹ lên các giàn giáo gỗ toron để trát lớp áo đất sét mới bảo vệ thánh đường, đi kèm tiếng trống và lời cầu chúc bình an.
Ngày 12 tháng Rabi' al-Awwal (tháng 3 lịch Hijri)Âm lịch Hồi giáo (Hijri)Đại lễ Kỷ niệm Ngày sinh Tiên tri Muhammad (Maouloud hay Mawlid al-Nabi)Kỳ lễ hội tâm linh lớn nhất trong năm tại Timbuktu kéo dài suốt một tuần lễ: các học giả (Ulama) và người dân tụ họp quanh Thánh đường Djinguereber và Sankoré suốt đêm dưới ánh đèn để đọc vang các bản thảo cổ ca ngợi Tiên tri Muhammad.
Trọn tháng thứ 9 lịch Hijri và Đêm 27 RamadanÂm lịch Hồi giáo (Hijri)Tháng Chay Thánh Ramadan, Lễ cầu nguyện đêm Tarawih và Laylat al-QadrKhông gian mát lạnh của 25 hàng cột vòm đất nện đón hàng ngàn tín hữu cầu nguyện đêm Tarawih và hoàn tất việc tụng đọc trọn bộ Kinh Qur'an theo truyền thống đọc kinh cổ của Timbuktu.
Ngày 1 tháng Shawwal và ngày 10 tháng Dhu al-HijjahÂm lịch Hồi giáo (Hijri)Đại lễ Xả Chay Eid al-Fitr (Korité) và Đại lễ Hiến Sinh Eid al-Adha (Tabaski)Các buổi cầu nguyện đại trào của cả thành phố với sự hiện diện của các vị trưởng lão, học giả các thư viện bản thảo cổ và các dòng tộc truyền thống của Timbuktu.

Truyền thống đại lễ Maouloud (Mawlid) và di sản của Thành phố 333 Vị Thánh. Trong tâm thức người dân Mali, Timbuktu được tôn xưng là Thành phố của 333 Vị Thánh (La Cité des 333 Saints), những bậc hiền triết và học giả Hồi giáo uyên bác đã sống, giảng dạy tại Thánh đường Djinguereber cùng Thánh đường Sankoré và yên nghỉ quanh thành phố. Mỗi dịp Đại lễ Maouloud kỷ niệm ngày sinh của Tiên tri Muhammad, toàn bộ khu phố cổ quanh Thánh đường Djinguereber thức trắng trong tiếng ngâm tụng những bài thơ cổ bằng tiếng Ả Rập từ các cuốn thủ bản viết tay hàng trăm năm tuổi, kết nối thế hệ hôm nay với kỷ nguyên vàng son của Hoàng đế Mansa Musa từ thế kỷ 14.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Khu phố cổ Djingareyber ở phía tây nam đô thị cổ Timbuktu, Vùng Tombouctou, Cộng hòa Mali
Đường tới
Thành phố cổ Timbuktu nằm ở miền bắc Cộng hòa Mali, cách thủ đô Bamako khoảng 1.000 km về phía đông bắc. Thánh đường Djinguereber tọa lạc ở khu phố cổ Djingareyber thuộc rìa phía tây nam của đô thị cổ Timbuktu, cách Thánh đường Sankoré khoảng 1 km về phía tây nam. Phương tiện di chuyển thực tế nhất từ thủ đô Bamako hoặc từ Mopti là đi máy bay nội địa (chặng bay thẳng tới Sân bay Timbuktu mã TOM, nằm cách trung tâm phố cổ chỉ 6 km về phía nam), hoặc vào mùa nước cao từ tháng 8 đến tháng 12 có thể đi tàu thủy dọc sông Niger từ Mopti tới cảng Korioumé và Kabara rồi đi đường bộ 15 km vào thành phố. Do tình hình an ninh đặc thù tại miền bắc Mali, du khách quốc tế bắt buộc phải kiểm tra khuyến cáo an ninh mới nhất của chính phủ và đi theo đoàn có cấp phép bảo đảm an toàn.
Toạ độ
16.7719, -3.0114
Khi tới nơi

Theo quy định truyền thống lâu đời của Hội đồng Imam và cộng đồng Hồi giáo tại Timbuktu (tương tự như tại Đại Thánh đường Djenné), không gian bên trong phòng cầu nguyện 25 hàng cột của Thánh đường Djinguereber chỉ dành riêng cho các tín hữu Hồi giáo vào hành lễ; du khách không theo đạo Hồi không được tự ý bước vào bên trong nội điện cầu nguyện. Tuy nhiên, du khách quốc tế đi cùng hướng dẫn viên địa phương được phép đi bộ xung quanh quảng trường cát bên ngoài, chiêm ngưỡng và chụp ảnh cận cảnh ngọn tháp minaret hình chóp cắm gỗ toron, các bức tường đất nện có hàng trụ Sarafar cũng như quan sát toàn cảnh sân thánh đường từ các sân thượng nhà cổ lân cận. Quý vị cần mặc trang phục kín đáo, lịch sự khi đi dạo trong khu phố cổ Timbuktu và đóng phí bảo tồn di sản tại Phái bộ Văn hóa Timbuktu.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Thánh đường Djinguereber, Timbuktu

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Thánh đường Djinguereber tại Timbuktu được xây dựng vào năm nào và gắn liền với vị hoàng đế nổi tiếng nào?

Thánh đường Djinguereber được hoàn thành vào năm 1327 Công nguyên (727 Hijri) theo lệnh của Hoàng đế Mansa Musa I (Kankou Moussa) của Đế chế Mali, ngay sau khi ngài trở về từ cuộc hành hương lịch sử tới thánh địa Mecca năm 1324. Đây là công trình kiến trúc cổ nhất còn tồn tại tại thành phố Timbuktu.

Ai là kiến trúc sư đã thiết kế Thánh đường Djinguereber và ông đã được Mansa Musa ban thưởng bao nhiêu vàng?

Kiến trúc sư thiết kế công trình là Abu Ishaq Ibrahim al-Sahili (khoảng 1290 tới 1346), một thi sĩ, học giả luật học và kiến trúc sư người Andalusia sinh tại Granada (Tây Ban Nha) mà Hoàng đế Mansa Musa đã gặp tại Mecca và mời về Tây Phi. Theo biên niên sử Tarikh al-Sudan, sau khi hoàn thành ngôi thánh đường năm 1327, Mansa Musa đã ban thưởng cho al-Sahili 40.000 mithqal vàng ròng (tương đương khoảng 180 tới 200 kg vàng).

Những thanh gỗ nhô ra tua tủa trên ngọn tháp minaret và tường của Thánh đường Djinguereber dùng để làm gì?

Những thanh gỗ nhô ra khoảng nửa mét trên bề mặt ngọn tháp minaret và tường đất nện được gọi là Toron, làm từ thân cây cọ Borassus hoặc cây Dum rất cứng và chịu mối mọt. Chúng có hai tác dụng: vừa làm khung giằng kết cấu giữ cho khối tường đất sét và đá vôi ổn định trước sự giãn nở nhiệt độ sa mạc, vừa làm các bậc giàn giáo cố định vĩnh cửu để các người thợ nề trèo lên trát lại lớp bùn mới bảo vệ thánh đường sau mỗi mùa mưa.

Thánh đường Djinguereber được làm toàn bằng bùn đất hay có cả đá tự nhiên?

Khác với nhiều công trình chỉ làm thuần bằng gạch bùn, Thánh đường Djinguereber kết hợp cả hai vật liệu: gạch bùn phơi nắng trộn rơm (ferey và vữa banco) từ thời thế kỷ 14, và đặc biệt là các khối đá vôi trầm tích hạt mịn khai thác từ lòng hồ khô sa mạc Sahara (gọi là đá alhor) được Đại Thẩm phán Qadi al-Aqib sử dụng rộng rãi trong cuộc đại trùng tu và mở rộng từ năm 1570 tới 1583, sau đó mới trát phủ bùn sét mịn ở bên ngoài.

Thánh đường Djinguereber có vai trò như thế nào trong hệ thống Đại học Timbuktu thời trung đại?

Trong suốt thế kỷ 14 đến thế kỷ 16, Thánh đường Djinguereber cùng với Thánh đường Sankoré và Thánh đường Sidi Yahia là ba học viện đại học (Madrasah) hợp thành Đại học Timbuktu danh tiếng. Ngay dưới 25 hàng cột vòm mát lạnh và trong các sân mở của Djinguereber, các vị đại học giả đã trực tiếp giảng dạy thần học, luật học Maliki, văn học Ả Rập, thiên văn học và y học cho hàng ngàn sinh viên.

Tên gọi Djinguereber trong ngôn ngữ bản địa có nghĩa là gì?

Tên gọi Djinguereber (hay Djingareyber) bắt nguồn từ tiếng Songhai của cư dân vùng khúc uốn sông Niger, ghép từ chữ Djingarey (nơi lễ bái, thánh đường) và chữ Ber (lớn, vĩ đại), có nghĩa là Đại Thánh Đường Cầu Nguyện.

›Đọc Tiếp