Nằm dọc theo tuyến đường huyết mạch Route Territoriale 1 (RT1) tại thung lũng sông Nessadiou, cách trung tâm thị trấn nông nghiệp Bourail khoảng 9 km về phía đông nam và cách thủ phủ Nouméa khoảng 150 km về phía tây bắc thuộc Tỉnh Nam (Province Sud) quần đảo Nouvelle-Calédonie, du khách đi giữa vùng đồng cỏ xanh mướt của một hòn đảo Nam Thái Bình Dương bỗng bắt gặp một khung cảnh kiến trúc và sinh thái khiến người ta ngỡ như đang đứng giữa một ốc đảo của vùng núi Atlas hay bình nguyên Bắc Phi: những rặng cây chà là (Phoenix dactylifera) cao vút rì rào trong gió biển, bức tường trắng tinh khôi điểm xuyết vòm cổng hình móng ngựa gắn biểu tượng trăng lưỡi liềm, ngôi Thánh đường Hồi giáo Nessadiou (tiếng Pháp là Mosquée de Nessadiou kiêm Centre Culturel Islamique de Bourail) đội mái vòm màu xanh lục bảo và ngay bên cạnh là khuôn viên trang nghiêm của Nghĩa trang Người Ả Rập (Cimetière des Arabes). Đây chính là chiếc nôi cổ xưa và thiêng liêng nhất của đức tin Hồi giáo trên toàn cõi Melanesia và vùng Nam Thái Bình Dương.
Nếu như tại thủ phủ Nouméa, Nhà thờ chính tòa Thánh Giuse, Nouméa và Đền thờ Tin Lành cũ (Vieux Temple), Nouméa gắn liền với lịch sử các giáo sĩ châu Âu và những người tù khổ sai người Pháp, thì quần thể Thánh đường Hồi giáo và Nghĩa trang Nessadiou tại Bourail lại khắc ghi một thiên sử bi tráng nhưng đầy kiêu hãnh của hơn 2.100 tù nhân chính trị và nghĩa quân người Algeria (đặc biệt là người Berber vùng Kabylie) cùng người Tunisia, Maroc bị chính quyền thực dân Pháp lưu đày biệt xứ cách quê hương hơn 18.000 km vào nửa sau thế kỷ 19. Không được phép trở về cố hương Bắc Phi, những người con của sa mạc và núi rừng Maghreb ấy đã bám trụ lại thung lũng sông Nessadiou, gieo những hạt chà là mang theo trong túi áo tù nhân, hiến đất lập nên thánh địa từ năm 1897 và trao truyền đức tin Hồi giáo cùng ký ức tổ tiên qua năm, sáu thế hệ hậu duệ cho tới tận ngày nay.

IĐức Tin Hồi Giáo Của Những Nghĩa Quân Lưu Đày Vùng Kabylie, Lăng Mộ Sidi Moulay Và Nỗi Nhớ Hướng Về Mecca
Thánh đường Hồi giáo Nessadiou được cung hiến để thờ phượng Đấng Tối Cao Allah theo truyền thống Hồi giáo Sunni (trường phái luật học Maliki phổ biến tại Bắc Phi) kết hợp sâu sắc với truyền thống tâm linh tôn kính các bậc đạo sư thánh thiện (Marabouts và các hội dòng Sufi như Rahmaniyya, Qadiriyya) mà những người lưu đày từ Algeria và vùng núi Kabylie mang theo trong tim khi vượt qua Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Đối với những người tù chính trị bị đưa lên đảo thông (Île des Pins), bán đảo Ducos và thung lũng Bourail từ năm 1864 tới năm 1897, đức tin vào Allah, năm thời cầu nguyện mỗi ngày và việc giữ trọn tháng chay Ramadan chính là sợi dây tinh thần giữ cho tâm hồn họ không gục ngã trước nỗi cô đơn nơi tận cùng trái đất.
Tại trung tâm tâm linh của quần thể Nessadiou, bên cạnh ngôi thánh đường và nhà văn hóa Hồi giáo là khu Nghĩa trang Người Ả Rập (Cimetière des Arabes), nơi có một kiến trúc mái vòm trắng đặc biệt gọi là Koubba (lăng vòm) của Sidi Moulay. Theo truyền thống truyền khẩu thiêng liêng của cộng đồng người gốc Algeria tại Bourail, vào thời kỳ đầu định cư tại thung lũng Nessadiou khi người dân chưa có thánh đường xây gạch, có một vị ẩn sĩ và học giả đạo cao đức trọng được tôn kính gọi là Sidi Moulay thường ngồi cầu nguyện và giảng dạy Kinh Qur'an dưới bóng cây bên bờ sông Nessadiou. Sau khi vị thánh nhân qua đời (hoặc theo một dị bản là ngôi mộ biểu trưng Maqam tưởng niệm vị thánh bảo trợ quê nhà), cộng đồng đã dựng lên ngôi mộ vòm trắng của Sidi Moulay làm hạt nhân linh thiêng để quy tụ toàn bộ nghĩa trang và dựng nhà cầu nguyện kế bên.
Những ngôi mộ xoay về hướng Mecca (Qiblah) và sự hòa hợp kỳ diệu giữa người Kabyle Bắc Phi với người Kanak bản địa. Trong giáo luật và truyền thống tang lễ Hồi giáo (Janazah), thi hài của người tín hữu khi an táng phải được đặt nằm nghiêng bên phải, khuôn mặt hướng thẳng về phía Đền Thiêng Kaaba tại Mecca (Qiblah). Tại nghĩa trang và thánh đường Nessadiou ở vĩ độ 21,6 độ Nam và kinh độ 165,5 độ Đông của vùng Nam Thái Bình Dương, hướng Qiblah được các tiền nhân xác định về phía Tây Tây Bắc (lệch Bắc khoảng 282 độ), hướng qua lục địa Úc và Ấn Độ Dương về tới bán đảo Ả Rập. Toàn bộ các ngôi mộ trắng có bia đầu mộ hình vòm gắn trăng lưỡi liềm và ngôi sao bên trong khuôn viên đều được sắp xếp đồng loạt theo đúng trục hướng thiêng liêng ấy.
Một nét đẹp nhân văn đặc biệt trong lịch sử của cộng đồng Hồi giáo Nessadiou là mối quan hệ tương thân tương ái sâu sắc với cư dân bản địa người Kanak và các gia đình người Pháp định cư tại Bourail. Vì nhiều người nghĩa quân Algeria vùng Kabylie bị lưu đày sang Nouvelle-Calédonie toàn là nam giới không thể đưa vợ con đi cùng, sau khi được cấp đất canh tác (concessions agricoles) tại thung lũng Nessadiou và Boghen, họ đã kết hôn với phụ nữ bản địa người Kanak hoặc phụ nữ gốc Âu, hình thành nên cộng đồng người Caldoche gốc Ả Rập và Kabyle (Les Arabes de Bourail). Qua các thế hệ, dù hòa nhập hoàn toàn vào xã hội Nouvelle-Calédonie và nói tiếng Pháp, các gia tộc mang những họ truyền thống như Abdelkader, Aïfa, Boufeneche, El Arbi, Kaddour, Moussa, Taleb vẫn tự hào giữ gìn họ tên tổ tiên, chăm sóc thánh đường Nessadiou và hội tụ về đây vào các kỳ lễ lớn.
Từ cuộc khởi nghĩa Mokrani năm 1871 tại Algeria tới nghĩa cử hiến đất năm 1897 của ông Miloud ben Abdallah. Nguồn gốc lịch sử của Thánh đường và Nghĩa trang Nessadiou gắn liền trực tiếp với một sự kiện chấn động lịch sử Bắc Phi thế kỷ 19: Cuộc khởi nghĩa năm 1871 tại Algeria do thủ lĩnh Cheikh El Mokrani (Mohamed El Mokrani) và vị đạo sư dòng Sufi Rahmaniyya là Cheikh El Haddad lãnh đạo chống lại ách thống trị thực dân. Sau khi cuộc khởi nghĩa bị đàn áp đẫm máu, tòa án quân sự tại Constantine và Algiers đã tuyên án lưu đày biệt xứ sang quần đảo Nouvelle-Calédonie hàng trăm thủ lĩnh, chiến sĩ và học giả vùng Kabylie (trong đó có em trai của Mokrani là Boumezrag El Mokrani, thủ lĩnh Aziz ben Cheikh El Haddad và hàng trăm nghĩa quân).
Cùng với các đợt lưu đày tù nhân dân sự và chính trị từ toàn vùng Maghreb (Algeria, Tunisia, Maroc) kéo dài từ năm 1864 tới năm 1897, tổng cộng có hơn 2.100 người Hồi giáo Bắc Phi đã bị đưa bằng tàu biển vượt đại dương tới Nouvelle-Calédonie. Khi mãn hạn tù hoặc được hưởng lệnh ân xá để chuyển sang chế độ định cư bắt buộc (libérés astreints à résidence), phần lớn những người sống sót được cấp những mảnh đất nhỏ từ 4 đến 5 ha dọc theo thung lũng sông Nessadiou và thung lũng Boghen thuộc đô thị Bourail để trồng ngô, cà phê, đậu và chăn nuôi. Vào năm 1897, một người định cư gốc Algeria giàu lòng nhân ái tên là Miloud ben Abdallah đã chính thức hiến tặng một phần mảnh đất nông trại số 39 của mình bên bờ sông Nessadiou (nơi có mộ của Sidi Moulay) cho toàn thể cộng đồng người Hồi giáo đồng hương để lập Nghĩa trang Người Ả Rập và nhà nguyện cầu nguyện chung, đặt nền móng vĩnh cửu cho quần thể Thánh đường Nessadiou ngày nay.
Một sự hiểu lầm thường gặp ở du khách khi nghe tên gọi lịch sử Nghĩa trang Người Ả Rập (Cimetière des Arabes) và Cộng đồng Người Ả Rập tại Bourail là họ nghĩ rằng những người tiên phong lập nên thánh địa này đến từ bán đảo Ả Rập ở Trung Đông. Trên thực tế, trong ngôn ngữ hành chính thuộc địa Pháp thế kỷ 19, chữ Arabes được dùng để gọi chung tất cả các cư dân bản địa theo đạo Hồi ở vùng Bắc Phi (Maghreb). Xét về mặt dân tộc học lịch sử, tuyệt đại đa số những người sáng lập cộng đồng Nessadiou là người Algeria bản địa, trong đó một tỷ lệ rất lớn là người Berber vùng núi Kabylie (người Kabyle) cùng người Ả Rập Algeria, Tunisia và Maroc. Chính vì thế, tại đây du khách sẽ bắt gặp sự giao thoa độc đáo giữa văn hóa Hồi giáo Ả Rập, truyền thống Berber vùng núi Kabylie và bản sắc đảo quốc Thái Bình Dương.
IIHơn Một Thế Kỷ Rưỡi Từ Những Chuyến Tàu Lưu Đày Thế Kỷ 19, Hiến Đất Năm 1897 Tới Trung Tâm Văn Hóa Hồi Giáo Hiện Đại
Biên niên sử của Thánh đường Hồi giáo và Nghĩa trang Nessadiou là câu chuyện phi thường về sức sống của một cộng đồng thiểu số bị bứng khỏi quê hương nhưng đã biến vùng đất lưu đày thành quê hương thứ hai đầy phẩm giá.
- 1864 tới 1870Những chuyến tàu đầu tiên đưa tù nhân người Bắc Phi (Maghreb) tới Nouvelle-CalédonieNgay từ chuyến tàu vận tải Iphigénie cập bến Port-de-France (Nouméa) tháng 5 năm 1864, những tù nhân người Algeria đầu tiên đã có mặt trong số lực lượng bị đưa tới trại giam đảo Nou.
- 1871 tới 1874Lưu đày hàng loạt các nghĩa quân Khởi nghĩa Mokrani và vùng Kabylie từ AlgeriaSau cuộc khởi nghĩa lớn năm 1871 tại Algeria và vùng Kabylie, các đoàn tàu chiến Loire, Danaé, Garonne và Calvados chở hàng trăm nghĩa quân chính trị người Algeria và Berber sang bán đảo Ducos, đảo Thông và Bourail.
- Thập niên 1870 tới 1890Cấp đất định cư nông nghiệp tại thung lũng Nessadiou và trồng những cây chà là đầu tiênNhững người mãn hạn hoặc được trả tự do tại chỗ được cấp đất canh tác dọc sông Nessadiou và Boghen ở Bourail; họ trồng thành công những cây chà là Bắc Phi từ hạt giống mang theo từ quê nhà.
- Năm 1897Ông Miloud ben Abdallah hiến đất lập Nghĩa trang Người Ả Rập và nơi cầu nguyện tại NessadiouÔng Miloud ben Abdallah chính thức hiến mảnh đất bên bờ sông Nessadiou cạnh mộ Sidi Moulay làm nghĩa trang Hồi giáo hướng về Mecca và nơi dựng nhà nguyện cầu nguyện đầu tiên của cộng đồng.
- Nửa đầu thế kỷ 20Các thế hệ hậu duệ gìn giữ nghĩa trang và hội nhập sâu vào đời sống BourailDù những người lưu đày thế hệ đầu tiên lần lượt qua đời (người cuối cùng mất vào thập niên 1940), con cháu của họ vẫn kiên trì bảo vệ khu đất thiêng Nessadiou và tham gia đóng góp tích cực cho xã hội (nhiều người giữ chức thị trưởng Bourail và nghị sĩ).
- Năm 1969Thành lập Hiệp hội Người Ả Rập và Những người bạn của Người Ả Rập (Association des Arabes)Các gia tộc hậu duệ tại Bourail và Nouméa thành lập hiệp hội chính thức nhằm trùng tu nghĩa trang năm 1897, xây tường bao cổng trăng lưỡi liềm và khôi phục các sinh hoạt văn hóa, tôn giáo.
- Thập niên 1970 tới thập niên 1990Xây dựng Thánh đường Hồi giáo Nessadiou và Trung tâm Văn hóa Hồi giáo BourailNgay sát khuôn viên Nghĩa trang Người Ả Rập, cộng đồng xây dựng ngôi Thánh đường Nessadiou kiên cố với mái vòm xanh lá cây và tháp minaret trắng kết hợp Trung tâm Văn hóa Hồi giáo, đồng thời quần thể được xếp hạng Di tích Lịch sử.
- Thế kỷ 21 (2010 tới nay)Trùng tu di sản, kết nối lại với Algeria và giao lưu văn hóa liên tôn tại Thái Bình DươngNhiều phái đoàn học giả, nhà ngoại giao từ Algeria, Đại thánh đường Paris và thế giới Hồi giáo đến viếng thăm Nessadiou; nơi đây trở thành biểu tượng ký ức chung của cả Nouvelle-Calédonie và Algeria.
Huyền thoại về những hạt chà là giấu trong túi áo tù nhân và sự đóng góp của hậu duệ vùng Nessadiou cho Nouvelle-Calédonie. Một trong những di sản sinh thái và tâm linh xúc động nhất còn hiện hữu ngay quanh Thánh đường Hồi giáo Nessadiou là những rặng cây chà là cổ thụ (palmiers-dattiers) vươn cao bên bờ sông. Tư liệu lịch sử và ký ức gia tộc kể lại rằng khi bị giải xuống cảng Algiers và Toulon để lên những con tàu lồng sắt vượt biển suốt bốn tháng trời sang Thái Bình Dương vào thập niên 1870, những người nghĩa quân Algeria chỉ kịp giấu trong vạt áo burnous vài nắm quả chà là khô của quê hương để ăn dọc đường. Khi đặt chân đến vùng đất xa lạ Bourail, họ đã giữ lại những hạt chà là cuối cùng ấy và đem gieo xuống lớp đất phù sa ven sông Nessadiou. Những hạt giống từ sa mạc Sahara và vùng núi Biskra, Kabylie đã nảy mầm xanh tốt giữa lòng châu Đại Dương, cung cấp bóng mát cho ngôi mộ của các tiền nhân và cho ngôi thánh đường ngày nay.
Từ mảnh đất nhỏ Nessadiou ấy, các thế hệ hậu duệ của những người lưu đày Bắc Phi đã vươn lên đóng góp to lớn cho sự phát triển của đô thị Bourail và toàn lãnh thổ Nouvelle-Calédonie: tiêu biểu như ông Jean-Pierre Aïfa (cháu nội một người lưu đày Algeria, từng giữ chức Thị trưởng Bourail suốt nhiều nhiệm kỳ và Chủ tịch Quốc hội Lãnh thổ Nouvelle-Calédonie), cùng nhiều nhân sĩ, trí thức luôn đi đầu trong việc thúc đẩy đối thoại hòa bình giữa người Kanak, người gốc Âu và các cộng đồng dân cư trên đảo.
IIIKiến Trúc Phong Cách Maghreb Trắng Xanh, Lăng Vòm Sidi Moulay Và Khuôn Viên Nghĩa Trang Hướng Về Mecca
Quần thể tâm linh tại Nessadiou là một tổ hợp không gian hài hòa nằm ngay bên bờ bắc dòng sông Nessadiou và cạnh cây cầu đường bộ RT1, bao gồm hai phần gắn kết hữu cơ với nhau: khuôn viên Thánh đường Hồi giáo Nessadiou kiêm Trung tâm Văn hóa Hồi giáo Bourail và khuôn viên Nghĩa trang Người Ả Rập lịch sử (1897) kèm lăng vòm Sidi Moulay. Toàn bộ công trình mang đậm ngôn ngữ kiến trúc truyền thống vùng Maghreb (Bắc Phi) với hai gam màu chủ đạo là trắng vôi tinh khiết và xanh lục bảo của đạo Hồi (cùng sắc đỏ của trăng lưỡi liềm Bắc Phi trên cổng nghĩa trang).
Nằm trên thềm đất cao ráo nhìn ra khu vườn cây xanh là tòa nhà Thánh đường Hồi giáo Nessadiou và Trung tâm Văn hóa Hồi giáo. Công trình được thiết kế theo lối kiến trúc Maghreb thanh nhã với những bức tường sơn trắng, hàng hiên có các ô vòm cuốn hình móng ngựa (arcs outrepassés) viền xanh lục, chính giữa đội một mái vòm tròn màu xanh lá cây nổi bật và một ngọn tháp minaret nhỏ có chóp vòm gắn biểu tượng trăng lưỡi liềm.
Bên trong tòa nhà gồm không gian cầu nguyện trang nghiêm trải thảm hướng về phía Tây Tây Bắc (hướng Qiblah từ Nouvelle-Calédonie về Mecca) với hốc tường Mihrab trang trí họa tiết hình học và thư pháp Ả Rập. Liền kề không gian lễ nguyện là phòng sinh hoạt văn hóa và trưng bày tư liệu lịch sử, nơi lưu giữ danh sách, chân dung và câu chuyện cuộc đời của những người Algeria và Bắc Phi bị lưu đày sang đảo từ thế kỷ 19.
Nằm sát bên cạnh khu thánh đường là khuôn viên Nghĩa trang Người Ả Rập được bao bọc bởi bức tường quét vôi trắng thấp. Cổng chính bước vào nghĩa trang là một vòm cuốn trang trọng có đắp nổi và sơn biểu tượng trăng lưỡi liềm cùng ngôi sao năm cánh màu đỏ và xanh lục trên nền trắng (gợi nhớ lá cờ và biểu tượng truyền thống của Algeria và thế giới Maghreb), kèm tấm bảng đồng ghi dấu lịch sử lập nghĩa trang năm 1897.
Tọa lạc ở vị trí trang trọng bên trong khuôn viên nghĩa trang là ngôi lăng nhỏ hình vuông quét vôi trắng có mái vòm tròn (Koubba truyền thống của Bắc Phi) bao bọc phần mộ biểu trưng của Sidi Moulay, vị đạo sư thánh thiện của buổi đầu định cư. Đây là điểm dừng chân thiêng liêng nhất nơi con cháu và khách hành hương thường đứng đọc chương kinh mở đầu Al-Fatiha để cầu nguyện cho linh hồn các bậc tiền bối.
Trải khắp khuôn viên nghĩa trang dưới bóng nắng là hàng trăm ngôi mộ xây gạch quét vôi trắng của những người lưu đày thế hệ đầu tiên và các thế hệ hậu duệ của họ tại Bourail. Mỗi ngôi mộ đều có tấm bia đầu mộ hình vòm uốn lượn khắc chữ Ả Rập và chữ Pháp cùng biểu tượng trăng lưỡi liềm, tất cả đều được đặt xoay mặt đồng loạt về hướng Tây Tây Bắc hướng tới Mecca.
Bao quanh khuôn viên thánh đường và nghĩa trang, trải dài xuống sát bờ sông Nessadiou là những hàng cây chà là Bắc Phi (Phoenix dactylifera) cao vút hơn một thế kỷ tuổi, hậu duệ trực tiếp của những hạt chà là do những người tù chính trị Algeria gieo trồng từ thập niên 1870, tạo nên một cảnh quan thiên nhiên Bắc Phi sống động giữa lòng Thái Bình Dương.
| Hạng mục kiến trúc và Cảnh quan | Niên đại và Nguồn gốc | Đặc điểm kỹ thuật và Ý nghĩa tâm linh |
|---|---|---|
| Thánh đường Nessadiou và Trung tâm Văn hóa | Thập niên 1970 tới 1990 (trùng tu thế kỷ 21) | Kiến trúc Maghreb tường trắng, mái vòm xanh lá cây, hiên vòm móng ngựa, gồm sảnh cầu nguyện và phòng tư liệu lịch sử |
| Nghĩa trang Người Ả Rập (Cimetière des Arabes) | Thành lập năm 1897 (do ông Miloud ben Abdallah hiến đất) | Khuôn viên tường trắng với cổng vòm trăng sao, nơi an nghỉ của các nghĩa quân Algeria lưu đày và hậu duệ |
| Lăng vòm (Koubba) của Sidi Moulay | Cuối thế kỷ 19 (khoảng năm 1897) | Kiến trúc lăng vòm trắng kiểu Marabout Bắc Phi, hạt nhân tâm linh cổ xưa nhất của toàn bộ quần thể Nessadiou |
| Hệ thống mộ phần định hướng Qiblah | 1897 tới nay | Các ngôi mộ trắng có bia đầu mộ hình vòm khắc trăng lưỡi liềm, định hướng đồng loạt về phía Mecca (Tây Tây Bắc) |
| Rừng cây Chà là cổ thụ ven sông Nessadiou | Gieo trồng từ thập niên 1870 tới 1890 | Những cây chà là mọc lên từ hạt giống do người lưu đày Bắc Phi mang theo, biểu tượng sức sống bất diệt của cộng đồng |
IVThế Đất Và Hướng
Cần khẳng định rõ rằng những người Hồi giáo Algeria vùng Kabylie và Bắc Phi lập nên thánh địa Nessadiou hoàn toàn không sử dụng thuật phong thủy phương Đông. Việc chọn khu đất bên bờ sông Nessadiou xuất phát từ vị trí các lô đất nông nghiệp được cấp phát vào cuối thế kỷ 19 và tấm lòng hiến đất của ông Miloud ben Abdallah năm 1897, trong khi hướng của sảnh cầu nguyện và các ngôi mộ tuân thủ tuyệt đối luật định hướng Qiblah hướng về Mecca của Hồi giáo. Những phân tích dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép xem hình thế sơn thủy cổ truyền của thư viện Vạn Đạo Đường.
Xét trên đại cuộc địa hình của vùng bờ tây đảo lớn Grande Terre (đô thị Bourail) tại tọa độ 21,6214 độ vĩ nam, 165,5419 độ kinh đông, thung lũng Nessadiou là một bồn địa phù sa trù phú được bao bọc ở phía đông và đông bắc bởi những rặng đồi xanh trập trùng của dãy núi Trung tâm (Chaîne Centrale) của Nouvelle-Calédonie, và mở ra về phía tây nam hướng tới vịnh Gouaro và đầm phá rạn san hô Thái Bình Dương. Chảy xuyên qua giữa thung lũng là dòng sông Nessadiou hiền hòa uốn lượn như một dải ngọc đới thủy ôm lấy thềm đất phẳng bên bờ bắc nơi ngôi thánh đường và nghĩa trang tọa lạc.
Về tọa hướng và sự giao hòa giữa mạch đất đảo xa với hướng thiêng cố quốc, toàn bộ quần thể Thánh đường và Nghĩa trang Nessadiou nằm trên dải đất bằng phẳng cao ráo ngay khúc uốn vòng cung bên trong (thủy ôm hữu tình) của dòng sông Nessadiou, phía sau có sườn đồi xanh làm hậu chẩm che chở. Từ vị trí địa lý của Bourail ở Tây Nam Thái Bình Dương, đường vòng cung lớn hướng về Đền Thiêng Kaaba tại Mecca (Qiblah) chỉ về hướng Tây Tây Bắc (khoảng 282 độ), tức là hướng nhìn thẳng qua vùng cửa sông và mặt biển phía tây của đảo. Nhờ vậy, cả ngôi thánh đường lẫn hàng trăm ngôi mộ trắng dưới bóng cây chà là đều đồng thời đón nhận làn gió biển mát lành từ hướng Tây và ánh hoàng hôn rực rỡ chiếu rọi mỗi buổi chiều tà, tạo nên một trường khí tĩnh lặng, trang nghiêm và đầy hoài niệm.
VĐại Lễ Eid Al-Fitr, Lễ Tưởng Niệm Tiền Nhân Tháng Mười Một Và Những Ngày Hội Văn Hóa Maghreb Tại Bourail
Đời sống tâm linh và lễ tiết tại Thánh đường Hồi giáo Nessadiou và Trung tâm Văn hóa Hồi giáo Bourail vận hành theo lịch Hồi giáo âm lịch Hijri kết hợp với các ngày lễ tưởng niệm lịch sử theo dương lịch, quy tụ cả cộng đồng Hồi giáo tại Bourail lẫn các gia đình từ thủ phủ Nouméa và khắp đảo lớn Grande Terre hành hương về nguồn.
| Thời điểm trong năm | Hệ lịch | Tên lễ tiết và sự kiện | Nghi thức cử hành đặc trưng tại Thánh đường và Nghĩa trang Nessadiou |
|---|---|---|---|
| Trọn tháng thứ 9 lịch Hồi giáo | Âm lịch Hijri | Tháng Chay Ramadan và Các buổi Cầu nguyện, Xả chay Cộng đồng (Iftar) | Các gia đình hậu duệ và tín hữu Hồi giáo quy tụ về Thánh đường Nessadiou đọc Kinh Qur'an, cầu nguyện và cùng nhau chia sẻ bữa ăn tối Iftar với súp Chorba, bánh ngọt Bắc Phi và quả chà là. |
| Ngày 1 tháng Shawwal (tháng 10 lịch Hồi giáo) | Âm lịch Hijri | Đại lễ Kết thúc Tháng Chay (Eid al-Fitr hay Aïd el-Sghir) | Ngày hội lớn tại Nessadiou: sau lễ nguyện sáng trong thánh đường, toàn thể các gia đình bước sang Nghĩa trang Người Ả Rập đọc kinh Al-Fatiha trước lăng Sidi Moulay và mộ phần ông bà, tổ tiên. |
| Ngày 10 tháng Dhu al-Hijjah (tháng 12 lịch Hồi giáo) | Âm lịch Hijri | Đại lễ Hiến sinh (Eid al-Adha hay Aïd el-Kébir) | Cử hành lễ nguyện trọng thể tại Thánh đường Nessadiou, tổ chức đại tiệc Couscous truyền thống vùng Kabylie và Bắc Phi để thắt chặt tình đoàn kết giữa các gia tộc và bạn bè các tôn giáo trên đảo. |
| Ngày 12 tháng Rabi' al-Awwal | Âm lịch Hijri | Lễ Kỷ niệm Ngày sinh Tiên tri Muhammad (Mawlid al-Nabi hay Mouloud) | Đêm thắp nến, đọc thơ ca ngợi Tiên tri Muhammad và kể lại những câu chuyện đức tin mà các nghĩa quân lưu đày thế kỷ 19 đã truyền dạy cho con cháu. |
| Tháng 9 (Ngày Di sản) và Ngày 1 tháng 11 hằng năm | Dương lịch | Ngày Di sản Văn hóa và Lễ Viếng Mộ Tổ Tiên Toàn Đảo tại Nessadiou | Vào dịp Ngày Di sản và đầu tháng 11 hằng năm, hàng trăm hậu duệ từ Nouméa, Koné, Pouembout và khắp Nouvelle-Calédonie trở về Nessadiou quét vôi trắng lại các ngôi mộ, dọn dẹp vườn chà là và đón tiếp du khách. |
Bữa tiệc Couscous đại đoàn kết và nhịp cầu hữu nghị giữa Nouvelle-Calédonie với Bắc Phi. Trải qua hơn một trăm năm mươi năm kể từ ngày những người tù chính trị vùng Kabylie đặt chân lên đảo, Thánh đường và Trung tâm Văn hóa Hồi giáo Nessadiou đã trở thành một biểu tượng văn hóa không thể thiếu của đô thị Bourail. Vào các ngày đại lễ Eid hay dịp kỷ niệm thành lập Hiệp hội Người Ả Rập, dưới mái hiên của trung tâm văn hóa và bóng mát rặng chà là bên sông Nessadiou, các bà, các mẹ trong cộng đồng lại cùng nhau chế biến món Couscous truyền thống vùng Kabylie và bánh ngọt mật ong để chiêu đãi hàng trăm khách mời gồm các thủ lĩnh truyền thống người Kanak, linh mục Công giáo, mục sư Tin Lành, cộng đồng gốc Việt, gốc Indonesia (Java) và người Pháp trên đảo. Ngôi thánh đường trắng xanh nhỏ bé bên dòng sông Nessadiou vì thế chính là minh chứng sống động nhất cho khả năng biến nỗi đau lưu đày của lịch sử thành di sản của lòng bao dung và hòa bình.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Tuyến đường lãnh thổ Route Territoriale 1 (RT1), khu thung lũng sông Nessadiou, đô thị Bourail, Tỉnh Nam (Province Sud), Lãnh thổ Nouvelle-Calédonie
- Đường tới
- Thánh đường Hồi giáo Nessadiou và Nghĩa trang Người Ả Rập tọa lạc ngay bên lề phía đông của tuyến đường lãnh thổ Route Territoriale 1 (RT1), ngay sau khi qua cầu sông Nessadiou (Pont de la Nessadiou), cách trung tâm thị trấn Bourail khoảng 9 km về phía đông nam và cách thủ phủ Nouméa khoảng 150 km về phía tây bắc (cách Sân bay Quốc tế La Tontouta khoảng 105 km). Từ Nouméa, quý vị lái xe ô tô hoặc đi xe buýt đường dài liên tỉnh (hãng vận tải công cộng Raï) dọc theo quốc lộ RT1 về hướng bắc khoảng 1 giờ 50 phút; ngay trước khi vào đến thị trấn Bourail, nhìn bên tay phải sát cầu sông Nessadiou sẽ thấy rặng cây chà là cao vút, cổng vòm trắng gắn trăng lưỡi liềm và mái vòm xanh của thánh đường với bãi đỗ xe thuận tiện ngay trước cổng.
- Toạ độ
- -21.6214, 165.5419
Quần thể Thánh đường Hồi giáo Nessadiou và Nghĩa trang Người Ả Rập nằm ngay sát đường quốc lộ RT1 ở cửa ngõ phía nam thị trấn Bourail, mở cửa tự do cho du khách dừng chân chiêm bái và tìm hiểu lịch sử hằng ngày vào ban ngày. Vì đây vừa là nơi thờ phượng Hồi giáo trang nghiêm vừa là nơi an nghỉ thiêng liêng của tổ tiên hàng trăm gia đình tại Nouvelle-Calédonie, du khách khi bước qua cổng vòm trăng lưỡi liềm cần giữ thái độ hết sức tôn trọng, đi nhẹ nói khẽ, mặc trang phục lịch sự, kín đáo (không mặc đồ tắm biển hay quần áo quá ngắn). Khi đi giữa các hàng mộ trắng hoặc đứng gần lăng vòm của Sidi Moulay, tuyệt đối không dẫm đạp hay ngồi lên bệ mộ. Nếu muốn vào bên trong sảnh cầu nguyện của Thánh đường Nessadiou, quý vị cần tháo giày dép ở ngoài hiên, phụ nữ quàng khăn trùm đầu và xin phép người trông coi trung tâm.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Thánh đường Hồi giáo Nessadiou, Bourail
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao ở một hòn đảo Nam Thái Bình Dương xa xôi như Nouvelle-Calédonie lại có một thánh đường và nghĩa trang Hồi giáo từ thế kỷ 19?
Từ năm 1864 tới năm 1897, chính quyền thực dân Pháp đã lưu đày hơn 2.100 tù nhân chính trị và dân sự người Hồi giáo từ Bắc Phi (đặc biệt là hàng trăm nghĩa quân người Algeria và người Berber vùng Kabylie sau cuộc khởi nghĩa Mokrani năm 1871) sang quần đảo Nouvelle-Calédonie. Khi được trả tự do tại chỗ và cấp đất canh tác ở thung lũng sông Nessadiou thuộc Bourail, họ đã định cư lâu dài và lập nên nghĩa trang cùng nơi cầu nguyện Hồi giáo từ năm 1897.
Ai là người đã hiến đất để lập nên thánh địa Nessadiou vào năm 1897?
Vào năm 1897, ông Miloud ben Abdallah, một người định cư gốc Algeria được cấp lô đất nông nghiệp số 39 bên bờ sông Nessadiou, đã chính thức hiến tặng một phần đất của mình (nơi có mộ của bậc thánh nhân Sidi Moulay) cho toàn thể cộng đồng người Hồi giáo đồng hương để làm nghĩa trang và nơi cầu nguyện chung.
Ngôi lăng vòm trắng (Koubba) nằm ở trung tâm khuôn viên nghĩa trang là của ai?
Ngôi lăng nhỏ hình vuông có mái vòm trắng truyền thống kiểu Bắc Phi (Koubba) bên trong khuôn viên là nơi tôn kính Sidi Moulay, một vị ẩn sĩ và đạo sư Hồi giáo đạo cao đức trọng trong buổi đầu cộng đồng người lưu đày định cư bên sông Nessadiou, được bà con tôn làm vị thánh bảo trợ tâm linh của khu đất.
Những cây chà là cổ thụ mọc quanh Thánh đường và Nghĩa trang Nessadiou có nguồn gốc từ đâu?
Những hàng cây chà là (Phoenix dactylifera) cao vút bên bờ sông Nessadiou là hậu duệ trực tiếp của những hạt chà là khô mà các nghĩa quân Algeria đã giấu trong túi áo khi bị áp giải lên tàu biển vượt đại dương sang Nouvelle-Calédonie vào thập niên 1870, rồi đem gieo trồng trên mảnh đất mới để vơi nỗi nhớ quê hương Bắc Phi.
Các ngôi mộ và sảnh cầu nguyện tại Nessadiou được định hướng về phía nào?
Theo đúng giáo luật Hồi giáo (Qiblah), cả hốc tường Mihrab trong Thánh đường Nessadiou lẫn hàng trăm ngôi mộ trắng trong Nghĩa trang Người Ả Rập đều được định hướng đồng loạt về phía Tây Tây Bắc (khoảng 282 độ), hướng qua Ấn Độ Dương thẳng về Đền Thiêng Kaaba tại thành phố Mecca.
Tổ chức nào hiện đang chăm sóc và quản lý Thánh đường Hồi giáo cùng Nghĩa trang Nessadiou?
Quần thể di sản tâm linh tại Nessadiou được chăm sóc và quản lý bởi Hiệp hội Người Ả Rập và Những người bạn của Người Ả Rập tại Bourail (Association des Arabes et Amis des Arabes de Bourail, thành lập năm 1969 bởi các thế hệ hậu duệ của những người lưu đày Bắc Phi) phối hợp cùng chính quyền đô thị Bourail và Tỉnh Nam Nouvelle-Calédonie.