Đi dọc theo con đường cổ Jalan Tukang Emas (con phố của những người thợ kim hoàn xưa, nay được gọi chung là Phố Hòa Hợp tức Harmony Street ở trung tâm Melaka), nhiều du khách lần đầu ghé thăm thường dừng bước ngạc nhiên trước một ngọn tháp cổ kính bằng gạch quét vôi trắng viền xanh lục vươn lên bên tường phố. Nhìn thoáng qua các tầng mái ngói uốn cong chồng lên nhau của ngọn tháp, người ta dễ ngỡ đó là một ngôi bảo tháp của chùa Phật giáo hay miếu cổ người Hoa; thế nhưng ngay bên dưới chân tháp lại là bể nước rửa lễ và tòa đại sảnh cầu nguyện có hốc tường hướng về thánh địa Makkah.
Công trình đặc sắc ấy là Masjid Kampung Kling, tức Thánh đường Kampung Kling. Được các thương nhân Hồi giáo gốc Ấn Độ khởi dựng từ năm 1748 và xây lại bằng gạch năm 1872, ngôi thánh đường này nằm cách Đền Thanh Vân Đình của người Hoa chưa đầy một trăm mét về phía nam và đứng sát vách Đền Ấn Độ giáo Sri Poyatha Vinayagar Moorthi. Không mang mái vòm củ hành như Thánh đường Jamek ở Kuala Lumpur hay mái vòm đá hiện đại như Thánh đường Putra, Masjid Kampung Kling là viên ngọc quý bảo tồn nguyên vẹn kiểu thức thánh đường truyền thống quần đảo Mã Lai - Sumatra thế kỷ 18 hòa quyện cùng mỹ thuật Trung Hoa, Ấn Độ và châu Âu.

IDấu Ấn Thương Nhân Hồi Giáo Ấn Độ, Triết Lý Mái Ba Tầng Và Sự Hòa Hợp Đông Tây
Tên gọi Kampung Kling lưu giữ ký ức lịch sử hơn năm trăm năm của một trong những cộng đồng thương nhân hàng hải quan trọng nhất tại Eo biển Malacca. Trong tiếng Mã Lai cổ từ thời Vương quốc Melaka thế kỷ 15, từ Keling (bắt nguồn từ tên vương quốc cổ Kalinga ở bờ đông Ấn Độ) được dùng để chỉ những nhà buôn, thủy thủ và thợ kim hoàn đến từ miền Nam Ấn Độ và vùng bờ biển Coromandel; còn Kampung Kling là khu phố định cư của cộng đồng người Ấn (bao gồm cả người Ấn theo đạo Hồi thường gọi là người Chulia hoặc Mamak và người Ấn theo Ấn Độ giáo) nằm dọc bờ tây sông Melaka. Chính những thương nhân Hồi giáo Ấn Độ buôn vải vóc, hương liệu và vàng bạc trên con phố Thợ Vàng (Jalan Tukang Emas) đã góp tiền dựng nên ngôi thánh đường này vào năm 1748 làm nơi cầu nguyện hằng ngày.
Là một thánh đường chính thống thuộc hệ phái Hồi giáo Sunni (trường phái Shafi'i và Hanafi của thương nhân Ấn - Mã), toàn bộ đời sống tâm linh tại Masjid Kampung Kling hướng về sự thờ phượng Đấng Tạo Hóa Độc Nhất Allah. Dù ngoại thất và nội thất của thánh đường hội tụ đủ các chi tiết trang trí của thợ nề Trung Hoa, cột trụ Hy Lạp - La Mã và gạch bông châu Âu, song mọi hoa văn đều tuân thủ nghiêm ngặt giới luật Hồi giáo: chỉ sử dụng họa tiết hoa sen, dây leo, hoa cúc cách điệu, hình học đối xứng và thư pháp chữ Ả Rập khắc các câu kinh từ Kinh Qur'an mà tuyệt đối không có bất kỳ hình tượng con người hay động vật nào.
Bên trong đại sảnh cầu nguyện vuông vức có hàng cột Corinth trắng muốt nâng đỡ vòm trần, bầu không khí trầm mặc của gần ba thế kỷ cầu nguyện vẫn hiện diện rõ nét qua bục thuyết giảng Minbar bằng gỗ chạm trổ tinh xảo và hốc tường hướng lễ Mihrab ốp gạch men sứ hoa văn Bồ Đào Nha hướng về thánh địa Makkah.
Điểm cốt lõi về mặt giáo nghĩa ẩn chứa trong kiến trúc của Masjid Kampung Kling (cũng như các thánh đường cổ truyền vùng Nusantara như Masjid Agung Demak ở Java hay Masjid Kampung Laut ở Kelantan) nằm ở cấu trúc mái ngói ba tầng hình tháp kim tự tháp (Bumbung Meru Tiga Tingkat) chụp lên trên đại sảnh cầu nguyện hình vuông. Theo truyền thống triết học và tu tập tâm linh Hồi giáo tại quần đảo Mã Lai - Indonesia, ba tầng mái xếp thu nhỏ dần từ dưới lên trên và hội tụ tại chóp đỉnh nhọn (Mustaka) biểu trưng cho bốn nấc thang hoàn thiện tâm linh của người tín đồ trên con đường hướng về Thượng Đế.
Tầng mái thứ nhất rộng nhất ở dưới cùng tượng trưng cho Shariah (việc tuân giữ trọn vẹn giáo luật và đạo đức trong đời sống hằng ngày); tầng mái thứ hai ở giữa tượng trưng cho Tariqah (con đường rèn luyện tâm linh và thanh lọc nội tâm); tầng mái thứ ba trên cao tượng trưng cho Haqiqah (sự thấu hiểu chân lý thiêng liêng); và viên ngọc chóp đỉnh Mustaka ở điểm cao nhất nơi bốn sườn mái gặp nhau tượng trưng cho Ma'rifah (sự giác ngộ và gắn kết trọn vẹn với Đấng Tạo Hóa Độc Nhất).
Hồ sơ của Cục Bảo tàng và Cổ vật Malaysia (Jabatan Muzium dan Antikuiti) cùng tư liệu lưu trữ thời thuộc địa Hà Lan ghi nhận: vào năm 1748 (tức năm 1161 theo Hồi lịch Hijri), sau khi chính quyền Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) nới lỏng chính sách tự do tôn giáo tại Melaka (cũng là thời điểm người Hà Lan đang xây dựng Nhà thờ Đỏ Christ Church ở bên kia sông), cộng đồng thương nhân Hồi giáo Ấn Độ đã xây dựng ngôi thánh đường Kampung Kling đầu tiên hoàn toàn bằng gỗ rừng nhiệt đới có sàn nâng và mái lợp lá hoặc ngói. Cùng thời kỳ thế kỷ 18 ấy, tại Melaka còn có hai ngôi thánh đường cổ có kiến trúc tương đồng là Masjid Kampung Hulu (năm 1728) và Masjid Tengkera (năm 1728).
Sau hơn một thế kỷ chịu mưa nắng nhiệt đới, vào năm 1872 (dưới thời kỳ Các khu định cư Eo biển thuộc Anh), ngôi thánh đường gỗ đã được cộng đồng đại trùng tu và xây dựng lại hoàn toàn bằng tường gạch kiên cố, cột trụ xây gạch trát vữa và ngọn tháp gọi lễ bằng gạch cao vút, rồi tiếp tục hoàn thiện các hạng mục cổng vòm và gạch men trang trí vào năm 1908. Vào thập niên 1990, Cục Bảo tàng và Cổ vật Malaysia đã tiến hành đợt trùng tu bảo tồn toàn diện và công nhận đây là di tích lịch sử cấp quốc gia, trước khi cùng khu phố cổ Melaka được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa Thế giới vào ngày 7 tháng 7 năm 2008.
Khi nhìn thấy ngọn tháp gọi lễ (Minaret) hình bát giác có nhiều tầng mái cong giống hệt tháp chùa Á Đông và các đầu đao mái ngói đắp hoa văn mây cuộn của Masjid Kampung Kling, một số du khách lầm tưởng rằng ngôi thánh đường này vốn là một ngôi chùa Phật giáo hoặc đền thờ người Hoa cổ bị cải tạo thành thánh đường Hồi giáo. Thực tế hoàn toàn không phải vậy: công trình ngay từ ngày đầu tiên năm 1748 đã được xây dựng làm thánh đường Hồi giáo. Sở dĩ tháp gọi lễ và bờ mái mang dáng dấp bảo tháp Á Đông là bởi vào thế kỷ 18 và 19 tại Melaka, những đội thợ nề, thợ ngói và thợ đắp vữa lành nghề nhất đều là các nghệ nhân người Hoa và người Mã Lai bản địa; khi được các thương nhân Hồi giáo Ấn Độ thuê xây thánh đường, họ đã tự nhiên đưa kỹ thuật xây tháp chùa và mái ngói truyền thống của vùng eo biển vào công trình Hồi giáo.
IIHơn Hai Trăm Bảy Mươi Năm Từ Ngôi Lễ Đường Gỗ Năm 1748 Tới Di Sản Thế Giới UNESCO
Trong lịch sử hàng hải Đông Nam Á, các thương nhân Hồi giáo từ vùng Gujarat, Malabar và bờ biển Coromandel (Ấn Độ) chính là một trong những lực lượng quan trọng truyền bá đạo Hồi tới Vương quốc Melaka từ thế kỷ 15. Khi người Bồ Đào Nha chiếm Melaka năm 1511, các thánh đường cổ thời Vương quốc Melaka bị phá hủy; phải đợi đến thế kỷ 18 dưới thời Hà Lan cai trị, khi Melaka cần thu hút lại các thương thuyền châu Á, những ngôi thánh đường lịch sử dọc bờ tây sông Melaka như Kampung Hulu, Tengkera và Kampung Kling mới lần lượt được phép dựng lại.
Nằm ngay trên trục đường của thợ rèn (Jalan Tukang Besi), thợ kim hoàn (Jalan Tukang Emas) và phố đền chùa (Jalan Tokong), Masjid Kampung Kling đã chứng kiến sự giao thương phồn thịnh và tình đoàn kết láng giềng của ba cộng đồng lớn suốt gần ba thế kỷ.
- 1748 (1161 Hồi lịch)Thương nhân Hồi giáo Ấn Độ khởi dựng thánh đường bằng gỗCộng đồng thương nhân và thợ kim hoàn Hồi giáo gốc Ấn Độ tại khu Kampung Kling quyên góp dựng ngôi lễ đường đầu tiên bằng gỗ với mái tháp ba tầng truyền thống trên đường Jalan Tukang Emas.
- 1868 tới 1872Đại trùng tu xây lại bằng tường gạch và dựng tháp gọi lễ dáng bảo thápNgôi lễ đường gỗ thế kỷ 18 được thay thế bằng công trình tường gạch kiên cố, bổ sung sáu cột trụ Corinth cổ điển bên trong đại sảnh và dựng ngọn tháp gọi lễ bằng gạch mang dáng bảo tháp phương Đông bên tường phố.
- 1908Hoàn thiện cổng vòm, mái che sân rửa lễ và ốp gạch bông châu ÂuThánh đường được trang hoàng thêm hàng ngàn viên gạch men sứ hoa văn nhập khẩu từ Anh quốc và Bồ Đào Nha, lắp đặt đèn chùm pha lê Victoria và cột đèn gang đúc bên bể nước rửa lễ.
- Thập niên 1990Cục Bảo tàng và Cổ vật Malaysia trùng tu bảo tồn nguyên trạngChính phủ Malaysia thực hiện dự án bảo tồn khoa học toàn bộ hệ mái ngói ba tầng, kết cấu gỗ chạm khắc, tháp gọi lễ và công nhận Masjid Kampung Kling là di tích lịch sử quốc gia.
- 7 tháng 7 năm 2008Ghi danh Di sản Văn hóa Thế giới UNESCO cùng phố cổ MelakaMasjid Kampung Kling cùng với Đền Thanh Vân Đình và Nhà thờ Đỏ Christ Church trở thành những di tích tiêu biểu tạo nên giá trị nổi bật toàn cầu của Di sản Thế giới UNESCO Melaka.
- Thế kỷ 21Biểu tượng sống của Phố Hòa Hợp và kiến trúc Hồi giáo bản địaThánh đường duy trì đều đặn năm thời cầu nguyện mỗi ngày cho cư dân phố cổ và mở cửa đón du khách quốc tế tìm hiểu sự giao thoa kiến trúc Đông - Tây độc đáo.
Bộ ba cổ thánh đường mái tháp thế kỷ 18 độc bản của Melaka. Các nhà nghiên cứu lịch sử kiến trúc Đông Nam Á thường xếp Masjid Kampung Kling (1748) cùng với Masjid Kampung Hulu (1728, nằm cách đó khoảng ba trăm mét về phía bắc) và Masjid Tengkera (1728, nằm ở phía tây dọc bờ biển) thành Bộ ba cổ thánh đường phong cách Melaka thế kỷ 18. Trước thế kỷ 20, khi kiểu mái vòm củ hành Indo-Saracenic được người Anh du nhập vào Kuala Lumpur và Ipoh, hầu hết các thánh đường cổ trên bán đảo Mã Lai và đảo Sumatra, Java đều mang mái ngói ba tầng hình kim tự tháp và tháp gọi lễ dáng chùa tháp. Trong bộ ba ấy, Masjid Kampung Kling là công trình giữ được mật độ chi tiết trang trí nội thất giao thoa Âu - Á phong phú và nguyên vẹn bậc cao ngay giữa khu phố đi bộ trung tâm.
IIIMái Ngói Ba Tầng Kiểu Sumatra, Tháp Gọi Lễ Dáng Chùa Cổ Và Cột Trụ Corinth Giữa Lòng Lễ Đường
Hiếm có một công trình tôn giáo nào có diện tích vừa phải như Masjid Kampung Kling mà lại hội tụ trong cùng một khuôn viên tới năm truyền thống mỹ thuật khác nhau: cấu trúc mái ngói ba tầng của quần đảo Mã Lai - Sumatra, ngọn tháp gọi lễ và đầu đao mái cong của kiến trúc Trung Hoa, cổng vòm và bục giảng của Hồi giáo Ấn Độ - Trung Đông, thức cột Corinth và đèn chùm của Tân cổ điển châu Âu, cùng gạch men sứ của Anh và Bồ Đào Nha.
Toàn bộ khuôn viên được bao bọc bởi tường gạch cao kín đáo dọc theo đường Jalan Tukang Emas, bên trong chia thành khu sân bể nước rửa lễ ở phía nam, tòa đại sảnh cầu nguyện hình vuông ở trung tâm có hành lang bao quanh và khu nhà phụ trợ cùng nghĩa trang cổ nhỏ ở phía sau.
Thay vì mái vòm tròn, đại sảnh cầu nguyện được lợp bằng ba tầng mái ngói xanh lục hình kim tự tháp xếp chồng lên nhau theo phong cách truyền thống Sumatra và Java. Giữa tầng mái thứ nhất, thứ hai và thứ ba có các khe thoáng đón sáng và thoát khí nóng tự nhiên, trên đỉnh cao nhất gắn chóp hoa sen đất nung (Mustaka) và bốn góc mái uốn cong đắp nổi hoa văn mây lá kiểu Á Đông.
Đứng sát bức tường rào phía đường Jalan Tukang Emas là ngọn tháp gọi lễ (Minaret) xây bằng gạch vào năm 1872. Khác hẳn các tháp tròn Ả Rập, ngọn tháp có chân đế vuông và thân tháp vươn lên năm tầng thu nhỏ dần với các gờ mái ngói cong và cửa sổ vòm nhỏ ở mỗi tầng giống hệt một ngôi bảo tháp cổ Trung Hoa hoặc tháp canh phương Đông.
Bước vào bên trong đại sảnh cầu nguyện hình vuông, du khách bắt gặp sáu cây cột trụ tròn lớn quét vôi trắng muốt mang đầu cột chạm lá ô rô theo thức cột Corinth (Corinthian columns) của kiến trúc cổ điển Hy Lạp - La Mã. Sáu cây cột này xếp thành từng cặp nâng đỡ các vòm cuốn đối xứng bao quanh không gian trung tâm dưới lòng mái tháp gỗ, nơi treo một chùm đèn pha lê thời Victoria.
Tại bức tường Qibla phía tây bắc là hốc tường Mihrab có vòm cuốn đa thùy ốp kín bằng những viên gạch men sứ in hoa văn rực rỡ nhập khẩu từ Anh và Bồ Đào Nha cuối thế kỷ 19. Ngay bên cạnh là bục thuyết giảng Minbar làm bằng gỗ cứng bản địa sơn son thếp vàng và chạm khắc tinh xảo các họa tiết hoa lá truyền thống Mã Lai - Ấn Độ.
Ở khoảng sân phía nam bên cạnh tháp gọi lễ là một bể nước rửa lễ lớn hình chữ nhật (Kolah) lát gạch men, chính giữa bể có một đài phun nước nhỏ lợp mái ngói hai tầng đồng bộ với mái chính. Xung quanh sân và bậc thềm vào đại sảnh vẫn còn giữ nguyên những cây cột đèn đường bằng gang đúc cổ điển nhập từ Anh quốc thế kỷ 19.
| Hạng mục kiến trúc | Niên đại và xuất xứ mỹ thuật | Đặc điểm kỹ thuật và khảo chứng |
|---|---|---|
| Niên đại khởi lập và tái thiết bằng gạch | Năm 1748 (gỗ) và năm 1872 tới 1908 (gạch đá) | Do cộng đồng thương nhân Hồi giáo Ấn Độ (Kampung Kling) kiến lập |
| Kết cấu mái đại sảnh cầu nguyện | Mái ngói 3 tầng hình kim tự tháp (Bumbung Meru) | Phong cách truyền thống Mã Lai - Sumatra - Java với khe thoáng thông gió giữa các tầng |
| Tháp gọi lễ (Minaret) | Xây gạch năm 1872, tạo dáng bảo tháp 5 tầng | Giao thoa kỹ thuật xây tháp chùa của nghệ nhân người Hoa tại Melaka |
| Hệ cột và vật liệu trang trí nội thất | 6 cột trụ thức Corinth, gạch men sứ Anh và Bồ Đào Nha | Kết hợp đèn chùm Victoria, cột đèn gang đúc châu Âu và bục Minbar gỗ chạm Mã Lai |
| Danh hiệu bảo tồn di sản | Di tích Quốc gia Malaysia và Di sản Thế giới UNESCO (2008) | Trùng tu bảo tồn bởi Cục Bảo tàng và Cổ vật Malaysia thập niên 1990 |
IVThế Đất Và Hướng
Theo giáo luật Hồi giáo, việc định hướng của Thánh đường Kampung Kling hoàn toàn không dựa theo phong thủy Á Đông mà tuân thủ nghiêm ngặt phương vị của trục Qibla hướng về ngôi đền Kaaba tại thánh địa Makkah. Tuy nhiên, xét trong cấu trúc đô thị cổ ven sông của Melaka, cách đặt ngôi thánh đường tại giao điểm của Phố Hòa Hợp gần dòng sông Melaka và Eo biển Malacca lại tạo nên một thế đất rất hài hòa khi đối chiếu theo phép xem hình thế cổ truyền của thư viện.
Xét về tọa độ địa lý và phương vị hướng lễ Qibla tại vĩ độ 2,1967 độ Bắc và kinh độ 102,2472 độ Đông, bức tường chính nơi đặt hốc Mihrab của đại sảnh cầu nguyện Masjid Kampung Kling hướng về góc khoảng 292,8 độ Tây - Tây Bắc nhìn về thánh địa Makkah. Do trục đường cổ Jalan Tukang Emas chạy theo hướng Bắc Tây Bắc - Nam Đông Nam gần như vuông góc với trục Qibla, cổng chính và ngọn tháp gọi lễ của thánh đường mở thẳng ra mặt phố ở phía Đông - Đông Bắc để đón bước chân người hành lễ, sau đó dẫn vào đại sảnh quay mặt về hướng Tây - Tây Bắc.
Xét về mạch thủy sông Melaka và Eo biển Malacca, khuôn viên thánh đường nằm trên dải đất bồi bằng phẳng ở bờ tây sông Melaka (Sungai Melaka), chỉ cách bờ sông khoảng hơn một trăm mét về phía đông và cách bờ Eo biển Malacca khoảng năm trăm mét về phía tây nam. Khúc sông Melaka khi chảy ngang qua phía đông khu phố Kampung Kling uốn cong êm ả trước khi đổ ra cửa biển, mang theo làn gió mát từ sông và biển thổi luồn qua khoảng sân bể nước Kolah rồi bốc hơi mát lành lên ba tầng mái ngói hở của đại sảnh.
Xét về trục tam linh tụ hội trên Phố Hòa Hợp, tại góc giao giữa đường Jalan Tukang Emas và ngõ Lorong Hang Jebat, Masjid Kampung Kling nằm ở vị trí trung tâm nối kết giữa Đền Thanh Vân Đình ở phía bắc (cách khoảng 90 mét) và Đền Ấn Độ giáo Sri Poyatha ở ngay sát phía nam (cách khoảng 30 mét), còn nhìn sang bên kia sông về phía đông nam là đồi Bukit St. Paul và Nhà thờ Đỏ Christ Church. Ba ngôi đền và thánh đường cổ đứng nối tiếp nhau trên cùng một mạch đường phố phẳng lặng tạo nên thế tam gia đồng phố, tứ hải cộng hòa, nơi sinh khí của thương cảng cổ được giữ gìn bằng lòng khoan dung và tình láng giềng suốt gần ba thế kỷ.
VNăm Thời Cầu Nguyện Hằng Ngày, Tháng Lễ Ramadan Phố Cổ Và Đón Khách Trên Đường Hòa Hợp
Trải qua gần hai trăm tám mươi năm từ năm 1748, Masjid Kampung Kling vẫn là một thánh đường đang hoạt động phụng vụ sống động hằng ngày của cộng đồng cư dân Hồi giáo gốc Ấn Độ và gốc Mã Lai tại khu phố cổ Melaka. Năm thời cầu nguyện mỗi ngày và các kỳ lễ hội theo Hồi lịch âm Hijri đều được cử hành đều đặn dưới mái ngói ba tầng cổ kính.
| Thời gian | Hệ lịch | Tên lễ tiết | Nghi thức và sinh hoạt tại Thánh đường Kampung Kling, Melaka |
|---|---|---|---|
| Năm thời mỗi ngày và trưa thứ Sáu hằng tuần | Lịch tuần | Lễ cầu nguyện năm thời (Solat) và Lễ tập thể ngày thứ Sáu (Solat Jumu'ah) | Tiếng gọi lễ Azan vang lên từ ngọn tháp dáng bảo tháp gọi các thương nhân, cư dân phố cổ và du khách Hồi giáo về bể nước Kolah rửa lễ rồi bước vào giữa sáu cột trụ Corinth cử hành khóa lễ. |
| Trọn tháng thứ 9 và mùng 1 tháng 10 (1 Syawal) | Hồi lịch (Hijri) | Tháng chay tịnh Ramadan, Tiệc xả chay phố cổ và Đại lễ Hari Raya Aidilfitri | Mỗi chiều tháng Ramadan, thánh đường chuẩn bị cháo truyền thống và thức ăn xả chay Iftar mời cư dân và khách lỡ đường, tối cử hành lễ cầu nguyện Tarawih dưới ánh đèn chùm cổ và mừng đại lễ Aidilfitri sáng mùng 1 Syawal. |
| Ngày 10 tháng 12 (10 Zulhijjah) | Hồi lịch (Hijri) | Đại lễ Hiến sinh Hari Raya Aidiladha (Eid al-Adha) | Cử hành lễ cầu nguyện sáng 10 Zulhijjah và duy trì truyền thống chia sẻ thực phẩm từ thiện của cộng đồng thương nhân Hồi giáo phố cổ Melaka. |
| Ngày 12 tháng 3 (12 Rabiulawal) và ngày 7 tháng 7 dương lịch | Hồi lịch và Dương lịch | Lễ Sinh nhật Tiên tri Muhammad (Maulidur Rasul) và Ngày Di sản Thế giới Melaka | Tổ chức đọc kinh, ngâm tụng Selawat mừng ngày sinh Tiên tri Muhammad và đón tiếp các đoàn khách văn hóa trong dịp kỷ niệm ngày Melaka được UNESCO ghi danh (7/7). |
Sự hiếu khách bình dị bên hiên gạch bông hai trăm năm tuổi. Không đồ sộ choáng ngợp như những đại thánh đường mới xây ở các đô thị lớn, Masjid Kampung Kling chinh phục lòng người bằng vẻ đẹp gần gũi, ấm cúng của một ngôi lễ đường xóm phố cổ. Ngoài các khung giờ tín đồ đang làm lễ cầu nguyện, du khách đi bộ dọc Phố Hòa Hợp có thể ghé qua cổng thánh đường, mượn chiếc áo choàng lịch sự ngay tại lối vào để bước vào hành lang lát gạch bông mát lạnh, ngắm nhìn tận mắt những viên gạch men sứ hoa văn Bồ Đào Nha thế kỷ 19 và trò chuyện cùng những người trông coi thánh đường hiền hậu.
Chỉ trên một quãng đi bộ năm phút dọc đường Jalan Tukang Emas và Jalan Tokong, được lần lượt chiêm ngưỡng mái ngói ba tầng của Masjid Kampung Kling, tháp cổng Gopuram của đền Sri Poyatha và mái khảm sứ Jian Nian của Đền Thanh Vân Đình chính là bài học trực quan sinh động về tinh thần chung sống hòa bình của vùng đất di sản Melaka.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đường Jalan Tukang Emas (Phố Hòa Hợp), khu phố cổ Melaka, bang Melaka
- Đường tới
- Thánh đường tọa lạc trên đường Jalan Tukang Emas (Phố Hòa Hợp / Harmony Street) ở trung tâm khu phố cổ Melaka, chỉ cách phố đi bộ Jonker Street (Jalan Hang Jebat) một dãy nhà về phía đông, cách Đền Thanh Vân Đình khoảng 90 mét về phía nam và cách Quảng trường Hà Lan cùng Nhà thờ Đỏ Christ Church khoảng 250 mét đi bộ. Từ Quảng trường Hà Lan, quý vị đi bộ qua cầu sông Melaka, rẽ vào ngõ Lorong Hang Jebat chừng hơn một trăm mét tới ngã tư giao với đường Jalan Tukang Emas là thấy ngay ngọn tháp gọi lễ dáng chùa cổ của Masjid Kampung Kling.
- Toạ độ
- 2.1967, 102.2472
Thánh đường Kampung Kling mở cửa miễn phí đón du khách không theo đạo Hồi vào tham quan hành lang và ngắm nhìn nội thất trong các khung giờ ngoài giờ cầu nguyện chính thức (tạm ngừng đón khách tham quan trong các khung giờ làm lễ Solat và buổi trưa ngày thứ Sáu). Khi vào thăm, cả nam lẫn nữ cần mặc trang phục lịch sự kín đáo che kín vai, cánh tay và chân tới mắt cá; phụ nữ cần trùm khăn kín tóc. Ngay tại quầy đón tiếp ở cổng vào bên cạnh bể nước rửa lễ, nhà thánh đường có chuẩn bị sẵn áo choàng dài có mũ trùm đầu cho du khách mượn miễn phí. Quý vị nhớ cởi giày dép trước khi bước lên bậc thềm lát gạch men và không bước vào khu vực thảm lễ chính giữa sáu cột trụ Corinth dành riêng cho người cầu nguyện.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Thánh đường Kampung Kling, Melaka
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao Thánh đường Kampung Kling không có mái vòm củ hành mà lại có mái ngói ba tầng và tháp gọi lễ giống tháp chùa?
Khi được khởi dựng năm 1748 và xây lại bằng gạch năm 1872, Masjid Kampung Kling tuân theo kiểu thức kiến trúc thánh đường truyền thống của vùng quần đảo Mã Lai - Sumatra - Java với mái ngói ba tầng hình kim tự tháp (Bumbung Meru) rất phù hợp để thoát nhiệt và thoát nước mưa vùng xích đạo. Ngọn tháp gọi lễ (Minaret) mang dáng dấp bảo tháp năm tầng vì được chính các nghệ nhân thợ nề người Hoa và người Mã Lai tại Melaka thế kỷ 19 trực tiếp xây dựng.
Tên gọi Kampung Kling của thánh đường có nguồn gốc từ cộng đồng nào?
Kampung Kling là tên khu phố định cư lịch sử của cộng đồng các thương nhân, thủy thủ và thợ kim hoàn người Ấn Độ (trong đó có những thương nhân Hồi giáo gốc Nam Ấn và vùng bờ biển Coromandel được người Mã Lai xưa gọi là người Keling hoặc Chulia). Chính các thương nhân Hồi giáo Ấn Độ này đã góp tiền dựng nên ngôi thánh đường bằng gỗ đầu tiên vào năm 1748.
Ba tầng mái ngói hình kim tự tháp của Thánh đường Kampung Kling mang ý nghĩa giáo lý gì?
Trong truyền thống triết học tâm linh Hồi giáo vùng quần đảo Mã Lai - Indonesia, ba tầng mái ngói xếp thu nhỏ dần từ dưới lên trên và hội tụ ở chóp đỉnh Mustaka tượng trưng cho bốn giai đoạn tu tập hướng về Thượng Đế: tầng một là Shariah (giáo luật), tầng hai là Tariqah (con đường rèn luyện tâm linh), tầng ba là Haqiqah (chân lý thiêng liêng) và chóp đỉnh trên cùng là Ma'rifah (sự nhận biết trọn vẹn về Đấng Tạo Hóa).
Bên trong đại sảnh cầu nguyện của Thánh đường Kampung Kling có những yếu tố kiến trúc phương Tây nào?
Khi được tái thiết bằng gạch từ năm 1872 tới năm 1908, bên trong đại sảnh cầu nguyện của thánh đường đã được kết hợp rất hài hòa các yếu tố kiến trúc châu Âu: gồm sáu cây cột trụ tròn lớn mang đầu cột thức Corinth cổ điển Hy Lạp - La Mã, đèn chùm pha lê và cột đèn gang đúc thời Victoria của Anh, cùng hàng nghìn viên gạch men sứ in hoa văn nhập khẩu từ Anh quốc và Bồ Đào Nha.
Thánh đường Kampung Kling nằm cách Đền Thanh Vân Đình và Đền Ấn Độ giáo Sri Poyatha bao xa?
Cả ba công trình đều nằm ngay trên cùng một trục đường Phố Hòa Hợp (Jalan Tukang Emas nối liền Jalan Tokong): Masjid Kampung Kling nằm ngay sát cạnh Đền Ấn Độ giáo Sri Poyatha Vinayagar Moorthi (chỉ cách nhau khoảng 30 mét) và nằm cách Đền Thanh Vân Đình (Cheng Hoon Teng) khoảng 90 mét về phía nam, chỉ mất một tới hai phút đi bộ.