Ngự trị trên đỉnh sườn đồi rừng thông và sồi Côte d'Eich ở cực bắc của Đại Công quốc Luxembourg, nhìn xuống thị trấn nhỏ Clervaux (tiếng Luxembourg là Klierf, tiếng Đức là Clerf) cùng tòa lâu đài trắng thời Trung cổ nằm sâu dưới lòng thung lũng dòng sông Clerve uốn lượn giữa vùng cao nguyên Ardennes (Éislek), Tu viện Biển Đức Thánh Maurice và Thánh Maurus (tiếng Pháp là Abbaye Saint-Maurice-et-Saint-Maur de Clervaux, tiếng Đức là Abtei Sankt Mauritius und Sankt Maurus) hiện ra từ xa như một thành trì tâm linh bước ra từ thời Trung cổ. Với những mái chóp nhọn lợp ngói đỏ rực nổi bật trên nền rừng xanh thẳm, những bức tường đá phiến xám vùng Ardennes vững chãi và ngọn tháp chuông bát giác tại giao điểm cánh ngang vươn cao tới 65 mét trên bầu trời miền bắc, ngôi đan viện là một trong những hình ảnh biểu tượng đẹp nhất của kiến trúc cảnh quan Luxembourg.
Trong đời sống Công giáo châu Âu hiện đại, nếu Vương cung thánh đường Thánh Willibrord, Echternach ở miền đông là chiếc nôi truyền giáo từ thế kỷ thứ 7 gắn với những bước nhảy rộn ràng của lễ hội dân gian, thì Đan viện Clervaux ở miền bắc lại là thánh đường của sự tĩnh lặng tuyệt đối và vẻ đẹp siêu thoát của bình ca Gregoriano (Chant grégorien). Được xây dựng từ năm 1909 tới năm 1912 bởi các đan sĩ dòng Biển Đức thuộc Chi hội Solesmes (Congrégation de Solesmes) theo bản vẽ của kiến trúc sư Johannes Franziskus Klomp, ngôi đan viện này là nơi quy tắc Ora et Labora (Cầu nguyện và Lao động) của Thánh Biển Đức thành Nursia vẫn được cử hành sống động suốt bảy giờ kinh mỗi ngày, đồng thời từng là nơi dừng chân chiêm niệm của những trí thức, học giả Kinh Thánh và nhà văn đoạt giải Nobel Văn học Halldór Laxness.

ISong Thánh Bổn Mạng Thánh Maurice Và Thánh Maurus, Linh Đạo Biển Đức Ora Et Labora Và Truyền Thống Bình Ca Solesmes
Tên gọi kép của đan viện tại Clervaux tôn vinh hai vị thánh lớn đại diện cho hai cội nguồn lịch sử hợp thành cộng đoàn nơi đây: Thánh Maurus (Saint Maur, khoảng 512 tới 584) và Thánh Maurice Tử đạo (Saint Maurice d'Agaune, thế kỷ thứ 3). Thánh Maurus là người môn đệ đầu tiên và xuất sắc nhất của Thánh Biển Đức thành Nursia (tổ phụ của đời sống đan tu phương Tây) tại Đan viện Monte Cassino ở Ý; theo truyền thống lịch sử dòng tu, Thánh Maurus đã được Thánh Biển Đức cử sang xứ Gaul (Pháp) vào thế kỷ thứ 6 và sáng lập Đan viện Glanfeuil bên bờ sông Loire vùng Anjou, ngôi đan viện mẹ mà từ đó các đan sĩ sáng lập Clervaux trực tiếp kế thừa. Khi chuyển về định cư tại Đại Công quốc Luxembourg vào năm 1908 tới 1910, để bày tỏ lòng tri ân đối với Giáo phận sở tại và bổn mạng của cố Giám mục Luxembourg, các đan sĩ đã đặt thêm tước hiệu Thánh Maurice (vị thống lĩnh Quân đoàn Thebes tử đạo vì đức tin tại Thụy Sĩ năm 287) lên đầu tên gọi chính thức, tạo thành danh xưng Đan viện Thánh Maurice và Thánh Maurus tại Clervaux.
Toàn bộ nhịp sống bên trong những bức tường đá của Tu viện Clervaux được vận hành theo Tu luật Thánh Biển Đức (Regula Sancti Benedicti) viết từ thế kỷ thứ 6 với châm ngôn cốt lõi là Pax (Bình an) và Ora et Labora (Cầu nguyện và Lao động). Vì Đan viện Clervaux trực thuộc Chi hội Solesmes (do Viện phụ Dom Prosper Guéranger khôi phục tại Đan viện Saint-Pierre de Solesmes nước Pháp năm 1833), trọng tâm tối thượng của đời sống các đan sĩ tại đây là việc cử hành Opus Dei (Công việc của Thiên Chúa, tức Phụng vụ các Giờ kinh và Thánh lễ Cộng đoàn) với sự trang nghiêm tuyệt đối bằng tiếng Latinh và bình ca Gregoriano nguyên bản.
Mỗi ngày bảy lần (bắt đầu từ Kinh Sáng sớm Vigils và Lauds lúc mặt trời mới mọc, qua các giờ kinh ban ngày Terce, Sext kèm Thánh lễ lúc 10 giờ sáng, giờ kinh chiều None, Vespers và kết thúc bằng Kinh Tối Compline lúc 8 giờ 20 tối), các đan sĩ trong áo dòng đen bước vào khu ghế hợp xướng của nhà thờ đan viện để hát đối đáp những bài Thánh vịnh không cần nhạc cụ đệm hoặc chỉ điểm xuyết âm thanh trầm ấm của đại phong cầm. Vào thập niên 1950 và 1960, hãng đĩa danh tiếng Philips đã tới tận nhà thờ Đan viện Clervaux để thu âm tiếng hát bình ca Gregoriano của các đan sĩ dưới sự chỉ huy của Cha Dom Louis-Joseph Krebs; những bản thu âm đĩa than ấy đã vang danh khắp thế giới và giành được giải thưởng Đĩa Vàng (Disque d'Or) hiếm hoi cho một dàn hợp xướng đan viện, đưa tên tuổi Clervaux trở thành biểu tượng toàn cầu của nghệ thuật thánh ca Trung cổ.
Sự ra đời của một đại đan viện mang đậm phong cách kiến trúc Pháp ngay trên vùng núi rừng phía bắc Luxembourg bắt nguồn trực tiếp từ biến cố chính trị tôn giáo tại Cộng hòa Pháp đầu thế kỷ 20. Vào năm 1890, các đan sĩ thuộc Đan viện Solesmes đã tái lập lại Đan viện cổ Saint-Maur de Glanfeuil ở vùng Anjou (miền tây nước Pháp) dưới sự dẫn dắt của Viện phụ đầu tiên là Dom Edouard du Coëtlosquet và sau đó là Viện phụ Dom Paul Renaudin. Tuy nhiên, đến năm 1901, Chính phủ Pháp ban hành Đạo luật Hiệp hội Waldeck-Rousseau mang tính bài giáo sĩ gay gắt, giải thể các dòng tu và buộc hàng ngàn đan sĩ, nữ tu Pháp phải rời bỏ tổ quốc đi lưu vong.
Cộng đoàn đan sĩ Saint-Maur de Glanfeuil ban đầu phải tìm nơi tá túc tạm thời trong một ngôi nhà chật hẹp tại làng Baronville thuộc nước Bỉ (gần biên giới Pháp). Nhận thấy không có khả năng sớm quay trở về Pháp, vào năm 1906 các đan sĩ bắt đầu tìm kiếm một vùng đất yên bình tại Đại Công quốc Luxembourg lân cận để xây dựng một đan viện vĩnh cửu. Với sự ủng hộ nhiệt thành của Giám mục Luxembourg là Đức cha Jean-Joseph Koppes và sự hiến tặng tài chính hào phóng của gia đình quý tộc Công giáo Pháp là Bá tước de Maigret, vào năm 1908 Hội đồng đan viện đã bỏ phiếu chọn mua khu đồi rừng cao Côte d'Eich nhìn xuống thị trấn Clervaux. Công trình được khởi công vào đầu năm 1909, các đan sĩ chính thức chuyển từ Bỉ về cư ngụ tại Clervaux vào ngày 3 tháng 8 năm 1910 và toàn bộ nhà thờ đan viện được hoàn thành, thánh hiến vào năm 1912.
Khi nhìn thấy những bức tường đá xám rêu phong, những vòm cửa bán nguyệt kiểu Romanesque nặng chắc và ngọn tháp bát giác cổ kính của Đan viện Clervaux vươn lên giữa rừng thông Ardennes, rất nhiều du khách lầm tưởng rằng đây là một tu viện có từ thời Trung cổ thế kỷ 11 hoặc thế kỷ 12 giống như lâu đài Clervaux nằm dưới chân đồi. Trên thực tế, toàn bộ Đan viện Clervaux là một công trình kiến trúc đầu thế kỷ 20 (xây dựng từ năm 1909 tới năm 1912).
Sở dĩ công trình mang dáng vẻ Trung cổ chân thực đến kinh ngạc là bởi kiến trúc sư thiết kế ra nó, Johannes Franziskus Klomp (1865 tới 1946, kiến trúc sư người Đức gốc Hà Lan nổi tiếng với các nhà thờ lịch sử tại vùng Ruhr và Rheinland), đã nghiên cứu tỉ mỉ các bản vẽ khảo cổ của Đại đan viện Cluny (Cluny III, thế kỷ 11) và nhà thờ Saint-Philibert de Tournus ở vùng Bourgogne nước Pháp cũng như Đan viện Maria Laach ở Đức. Bằng cách kết hợp bình đồ kiến trúc đan viện Romanesque thế kỷ 11 của vùng Bourgogne với vật liệu đá phiến tự nhiên khai thác ngay tại núi rừng Ardennes của Luxembourg, Klomp đã tạo nên một kiệt tác Tân Romanesque (Neo-Romanesque) hòa quyện tuyệt đối vào địa hình đồi núi đến mức trông như đã mọc lên từ lòng đá Clervaux suốt hàng trăm năm.
IIHơn Một Thế Kỷ Từ Cuộc Lưu Vong Năm 1901, Khởi Dựng Năm 1909, Cuộc Trục Xuất Thời Đức Quốc Xã Năm 1941 Tới Nay
Lịch sử của Tu viện Biển Đức Clervaux trong hơn một thế kỷ qua gắn liền với những thăng trầm của lịch sử châu Âu hiện đại: hình thành từ cuộc lưu vong tôn giáo năm 1901, trở thành trung tâm trí thức và hiệu đính Kinh Thánh Latinh Vulgata đầu thế kỷ 20, chịu cảnh bị mật vụ Gestapo trục xuất và chiếm đóng trong Thế chiến thứ hai (1941 tới 1944), trước khi hồi sinh thành ốc đảo bình an của Đại Công quốc Luxembourg.
- Thế kỷ 6, năm 1890 và năm 1901Khởi nguồn từ Đan viện Saint-Maur de Glanfeuil (Pháp) và cuộc lưu vong sang Bỉ năm 1901Kế thừa Đan viện Glanfeuil do Thánh Maurus lập thế kỷ 6 và được Solesmes tái lập năm 1890; năm 1901 đạo luật bài dòng tu của Pháp buộc các đan sĩ phải lưu vong sang Baronville (Bỉ).
- 1908 tới 1912Kiến trúc sư Johannes Franziskus Klomp xây dựng Đan viện Clervaux trên đồi Côte d'EichNăm 1908 các đan sĩ chọn Clervaux làm nơi định cư vĩnh viễn; khởi công năm 1909 theo bản vẽ Tân Romanesque của Johannes Franziskus Klomp, đón đan sĩ vào ở tháng 8 năm 1910 và hoàn thành nhà thờ năm 1912.
- 1907 tới thập niên 1920Trung tâm Ủy ban Hiệu đính Kinh Thánh Vulgata của Tòa Thánh và lắp đặt đàn Mutin-Cavaillé-CollGiáo hoàng Piô X giao cho các đan sĩ (đứng đầu là Hồng y tương lai Dom Aidan Gasquet và Viện phụ Dom Paul Renaudin) công trình hiệu đính bản Kinh Thánh Latinh Vulgata; năm 1920 lắp đặt đàn đại phong cầm Mutin-Cavaillé-Coll.
- Tháng 12 năm 1922 tới năm 1924Văn hào tương lai đoạt giải Nobel Văn học Halldór Laxness sống và chịu phép rửa tội tại đan việnChàng thanh niên 20 tuổi người Iceland Halldór Guðjónsson đến sống tại Đan viện Clervaux, được rửa tội và thêm sức ngày 6 tháng 1 năm 1923 với tên thánh Halldór Kiljan Laxness trước khi trở thành nhà văn đoạt giải Nobel Văn học năm 1955.
- Tháng 1 năm 1941 tới mùa xuân năm 1945Đức Quốc xã trục xuất toàn bộ đan sĩ, biến đan viện thành trường Thanh niên Hitler và sự trở về năm 1945Tháng 1 năm 1941, mật vụ Gestapo trục xuất các đan sĩ sang Bỉ, tháo chuông nhà thờ và biến đan viện thành trường nội trú Quốc xã; sau Trận chiến Clervaux tháng 12 năm 1944, các đan sĩ trở về khôi phục tu viện vào mùa xuân năm 1945.
- Thập niên 1950 tới thế kỷ 21Thu âm bình ca Gregoriano đoạt Đĩa Vàng quốc tế và sứ mạng mục vụ chiêm niệm đương đạiDàn hợp xướng đan sĩ Clervaux thu âm hàng loạt đĩa than bình ca Gregoriano với hãng Philips làm rạng danh tu viện; đan viện xuất bản tạp chí tâm linh và đón tiếp khách tĩnh tâm từ khắp châu Âu.
Hai câu chuyện lịch sử đặc biệt tại Đan viện Clervaux: Văn hào Nobel Halldór Laxness (1923) và Biến cố Thế chiến thứ hai (1941 tới 1945). Trong lịch sử văn học thế giới thế kỷ 20, Đan viện Biển Đức Clervaux gắn liền với bước ngoặt tâm linh của đại văn hào người Iceland Halldór Kiljan Laxness (1902 tới 1998, người đoạt Giải Nobel Văn học năm 1955). Cuối năm 1922, khi mới là một chàng thanh niên 20 tuổi đang đi lang thang khắp châu Âu giữa khủng hoảng hậu Thế chiến thứ nhất, ông đã tìm đến xin tá túc và tĩnh tâm tại Đan viện Clervaux. Bị cuốn hút sâu sắc bởi nhịp sống khổ chế, thư viện đồ sộ và tiếng hát bình ca Gregoriano của các đan sĩ trên đồi Côte d'Eich, ngày 6 tháng 1 năm 1923 (Lễ Chúa Hiển Linh), ông đã chính thức lãnh nhận bí tích rửa tội và thêm sức ngay tại nhà thờ Đan viện Clervaux từ tay Giám mục Pierre Nommesch của Luxembourg, chọn tên thánh là Kiljan (theo tên vị thánh truyền giáo người Ireland tử đạo thế kỷ thứ 7) và trở thành một tập sinh nhà dòng. Dù đến năm 1924 ông rời đan viện để trở về với nghiệp văn chương tại Iceland, những năm tháng sống trong tĩnh lặng tại Clervaux đã để lại dấu ấn suốt đời trong các tiểu thuyết của ông, và ngày nay căn phòng cũ cùng kỷ vật của ông vẫn được nhắc nhớ trân trọng tại Clervaux.
Mười bảy năm sau đó, vào tháng 5 năm 1940, quân đội Đức Quốc xã xâm lược Luxembourg. Coi các đan viện dòng Biển Đức là trung tâm trí thức chống đối tư tưởng Quốc xã, vào tháng 1 năm 1941, lực lượng mật vụ Gestapo đã ập vào Đan viện Clervaux, tịch thu toàn bộ tài sản và ra lệnh trục xuất khẩn cấp toàn bộ các đan sĩ trong vòng vài giờ đồng hồ (các đan sĩ phải đi tị nạn tại Bỉ và Pháp suốt bốn năm chiến tranh). Chính quyền Đức Quốc xã đã tháo dỡ các bức thánh giá, lấy đi dàn chuông đồng của tháp chuông lớn và biến các dãy nhà đan viện thành một cơ sở huấn luyện tư tưởng của Đoàn Thanh niên Hitler (Hitlerjugend) và trường nội trú chính trị quốc gia. Trong Trận chiến Clervaux khốc liệt từ ngày 16 tới 18 tháng 12 năm 1944 (mở màn cho Trận Ardennes), khu vực đồi Clervaux nằm ngay giữa làn đạn pháo của quân Đức và quân đội Hoa Kỳ khiến mái nhà thờ và cửa sổ bị hư hại. Ngay sau khi Luxembourg được giải phóng hoàn toàn vào mùa xuân năm 1945, các đan sĩ đã quay trở về từ cảnh lưu vong, tự tay dọn dẹp đống đổ nát, đúc lại dàn chuông mới và khôi phục tiếng hát kinh Phụng vụ vang vọng trên đỉnh đồi cho đến tận ngày nay.
IIIKiến Trúc Tân Romanesque Cảm Hứng Cluny Của Johannes Franziskus Klomp, Tháp Bát Giác Cao 65 Mét Và Đại Phong Cầm Mutin-Cavaillé-Coll
Quần thể Tu viện Biển Đức Clervaux được kiến trúc sư Johannes Franziskus Klomp quy hoạch như một thành phố đan tu khép kín trên sống đồi, lấy Nhà thờ Đan viện (Église abbatiale) ở phía bắc làm trục chính và bao bọc lấy Sân hành lang tu viện hình vuông (Cloître) cùng các dãy nhà ở của đan sĩ, thư viện, phòng họp (Chapter house) và nhà khách tĩnh tâm ở phía nam. Toàn bộ công trình là một kiệt tác của phong cách Tân Romanesque vùng Bourgogne (Burgundian-Cluniac Romanesque Revival) đầu thế kỷ 20.
Điểm nhấn thị giác hùng vĩ nhất của toàn bộ quần thể là ngọn Tháp chuông chính hình bát giác vươn cao tới 65 mét ngay tại giao điểm giữa gian giữa và cánh ngang của nhà thờ, được kiến trúc sư Klomp thiết kế lấy cảm hứng trực tiếp từ Tháp Nước Thánh (Clocher de l'Eau-Bénite) của Đại đan viện Cluny III thế kỷ 11. Bao quanh chân tháp lớn là các tháp cầu thang tròn nhỏ hơn, trong khi ở mặt tiền phía tây là hai ngọn tháp vuông cân xứng tạo nên cấu trúc ba cụm tháp lợp ngói đỏ rực rỡ trên nền đá xám.
Lối vào chính ở phía tây của nhà thờ đan viện mở qua một tiền sảnh có mái vòm đón khách hành hương. Trên bức trán tường bán nguyệt (Tympanum) phía trên cổng chính là bức phù điêu đá chạm khắc theo phong cách điêu khắc Romanesque thế kỷ 12 của vùng Bourgogne, khắc họa Đức Kitô ngự trên ngai vinh hiển trong vầng hào quang hình hạnh nhân (Mandorla) giữa các thiên thần và biểu tượng bốn Thánh Sử gia.
Bước vào bên trong Nhà thờ Đan viện, du khách cảm nhận ngay bầu không khí tĩnh lặng và thánh thiêng của những vòm đá sa thạch và đá phiến. Lòng nhà thờ chia làm ba nhịp gian ngăn cách bởi các hàng cột trụ đá vững chãi có đầu cột chạm khắc hoa văn thực vật và hình học Romanesque. Giữa khu vực cánh ngang là Bàn thờ chính giản dị trang nghiêm và hai dãy ghế gỗ sồi (choir stalls) nơi các đan sĩ đứng hát kinh bảy lần mỗi ngày; phía sau bàn thờ là hành lang vòng quanh hậu cung (ambulatory) mở ra các nhà nguyện bán nguyệt tỏa tia (radiating chapels) nơi các linh mục đan sĩ dâng lễ riêng mỗi sáng sớm.
Sau Công đồng Vatican II, nội thất nhà thờ đan viện được tinh giản để tôn vinh vẻ đẹp thuần khiết của chất liệu đá Romanesque, kết hợp hài hòa với các tác phẩm điêu khắc và hội họa thánh thế kỷ 20 (trong đó có các tác phẩm chịu ảnh hưởng trường phái nghệ thuật thánh Beuron và nghệ sĩ Nhật Bản cải đạo sang Công giáo Takeo Sato cùng các cửa sổ kính màu dịu mắt lọc ánh sáng rừng thông vào lòng đền).
Được lắp đặt tại nhà thờ đan viện vào năm 1920 (và được tu bổ năm 2002), cây đàn đại phong cầm của Tu viện Clervaux là một kiệt tác chế tác nhạc cụ của xưởng Charles Mutin (người kế thừa trực tiếp xưởng đàn huyền thoại Aristide Cavaillé-Coll tại Paris). Cây đàn gồm 20 thanh âm (stops) phân bổ trên 3 bàn phím tay và bàn đạp chân, giữ nguyên hệ thống ống hơi nguyên bản mang âm sắc giao hưởng Pháp ấm áp, tinh tế để nâng đỡ tiếng hát bình ca Gregoriano mà không bao giờ lấn át giọng người.
Ở tầng hầm bên dưới tiền sảnh và nhà thờ là không gian Hầm mộ mở cửa miễn phí cho du khách, nơi trưng bày bộ sưu tập ảnh tư liệu lịch sử, lễ phục, sách kinh viết tay, các bản thu âm đĩa than bình ca Gregoriano đoạt Đĩa Vàng của đan viện và phim tài liệu giải thích chi tiết về một ngày sống theo Tu luật Thánh Biển Đức tại Clervaux.
| Hạng mục kiến trúc và Phụng vụ | Niên đại và Tác giả thực hiện | Đặc điểm kỹ thuật và Ý nghĩa tâm linh |
|---|---|---|
| Tổng thể Đan viện và Nhà thờ Tân Romanesque | 1909 tới 1912 (kiến trúc sư Johannes Franziskus Klomp) | Lấy cảm hứng từ Đại đan viện Cluny III (Bourgogne) với tường đá phiến Ardennes và mái ngói đỏ |
| Tháp giao cánh bát giác và Hai tháp mặt tiền | Hoàn thành năm 1910 tới 1912 (chuông đúc lại sau 1945) | Tháp trung tâm hình bát giác cao 65 m nổi bật trên đỉnh đồi Côte d'Eich nhìn xuống toàn thung lũng Clerve |
| Cung thánh, Ghế hợp xướng và Hậu cung tỏa tia | 1912 (cải tạo phụng vụ sau Công đồng Vatican II) | Không gian cử hành 7 giờ kinh Phụng vụ bằng bình ca Gregoriano truyền thống Solesmes mỗi ngày |
| Đàn Đại phong cầm Mutin-Cavaillé-Coll | Năm 1920 (xưởng Charles Mutin, Paris; trùng tu năm 2002) | Đàn phong cầm trường phái giao hưởng Pháp gồm 20 thanh âm trên 3 bàn phím tay và bàn đạp |
| Hầm mộ Triển lãm và Nhà khách Tĩnh tâm | Tầng hầm nhà thờ và cánh phía nam đan viện | Trưng bày lịch sử đan viện từ năm 1890, đĩa vàng bình ca Gregoriano và đón tiếp khách tĩnh tâm |
IVThế Đất Và Hướng
Cần nêu rõ rằng các đan sĩ dòng Biển Đức thuộc Chi hội Solesmes và kiến trúc sư Johannes Franziskus Klomp không sử dụng học thuyết phong thủy phương Đông trong việc chọn đất và xây dựng Tu viện Clervaux. Vị trí trên đỉnh đồi Côte d'Eich được lựa chọn theo truyền thống chọn đất ngàn năm của dòng Biển Đức (câu ngạn ngữ Latinh cổ truyền: Bernardus valles, Benedictus montes amabat, nghĩa là Thánh Biển Đức yêu những đỉnh núi cao để chiêm niệm gần trời xanh), còn trục nhà thờ tuân theo quy tắc định hướng phụng vụ Kitô giáo. Những nhận định dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép xem hình thế sơn thủy cổ truyền của thư viện Vạn Đạo Đường.
Xét trên đại cuộc địa hình của vùng núi Ardennes (khu vực Éislek miền bắc Luxembourg) tại tọa độ 50,0614 độ vĩ bắc, 6,0294 độ kinh đông, Tu viện Biển Đức Clervaux tọa lạc tại một cuộc đất cao sơn độc tú, vạn lĩnh triều tông (đỉnh đồi cao vút lên giữa muôn trùng đồi núi vây quanh) ở độ cao khoảng 450 mét so với mực nước biển, cao hơn hẳn mặt thung lũng thị trấn Clervaux gần 80 mét. Sống đồi Côte d'Eich nơi đan viện ngự trị là một mạch núi đá phiến chạy dài từ rừng rậm phía tây nam nhô ra phía đông bắc như hình dáng một đầu rồng đang ngẩng cao nhìn xuống toàn bộ thung lũng, bốn bề xung quanh được bao bọc bởi những ngọn đồi rừng sồi và thông dày đặc của Công viên Tự nhiên vùng Our (Parc Naturel de l'Our) làm thanh long, bạch hổ và hậu chẩm trùng điệp che chở.
Về thủy pháp và tọa hướng, bên dưới chân đồi phía đông, phía bắc và phía nam của đan viện là dòng sông Clerve (Klierf) chảy uốn lượn một vòng chữ U gấp khúc cực kỳ ngoạn mục ôm quanh mỏm đá nơi đặt Lâu đài cổ Clervaux và Nhà thờ Giáo xứ phía dưới thung lũng, tạo nên thế cửu khúc hồi hoàn thủy (dòng nước uốn lượn chín khúc giữ trọn linh khí trong thung lũng). Bản thân Nhà thờ Đan viện Clervaux nằm trên đỉnh bằng phẳng của sống đồi theo trục tọa Đông Bắc hướng Tây Nam: con đường rợp bóng cây cổ thụ kèm Mười Bốn Chặng Đàng Thánh Giá bằng đá dẫn từ thị trấn lên tới quảng trường trước cổng chính phía tây nam tạo thành một minh đường dẫn khí thanh tịnh, tách biệt hoàn toàn thế giới tu hành trên đỉnh núi với nhịp sống thế tục dưới chân đồi.
VBảy Giờ Kinh Bình Ca Gregoriano Hằng Ngày, Đại Lễ Thánh Biển Đức 11 Tháng 7 Và Lễ Thánh Maurice 22 Tháng 9
Đời sống phụng vụ tại Tu viện Biển Đức Clervaux diễn ra liên tục 365 ngày trong năm theo lịch phụng vụ Công giáo Rôma và Lịch riêng của Dòng Biển Đức (dương lịch). Điểm quý giá nhất đối với khách hành hương và du khách khi đến Clervaux là nhà thờ đan viện mở cửa hằng ngày để mọi người có thể trực tiếp ngồi tham dự và lắng nghe các đan sĩ hát bình ca Gregoriano bằng tiếng Latinh trong Thánh lễ Cộng đoàn (thường vào lúc 10 giờ sáng) và Kinh Chiều Vespers (thường vào lúc 5 giờ 30 chiều).
| Thời điểm trong năm | Hệ lịch | Tên đại lễ phụng vụ dòng Biển Đức | Nghi thức cử hành đặc trưng tại Tu viện Biển Đức Clervaux |
|---|---|---|---|
| Ngày 15 tháng 1 | Dương lịch (Lễ Bổn mạng Đan viện) | Lễ Thánh Maurus Viện phụ (Môn đệ Thánh Biển Đức và Quan thầy Đan viện) | Kỷ niệm vị thánh bổn mạng lịch sử gắn với Đan viện mẹ Saint-Maur de Glanfeuil từ thế kỷ thứ 6, cử hành Phụng vụ Giờ kinh và Thánh lễ trọng thể. |
| Ngày 21 tháng 3 và ngày 11 tháng 7 | Dương lịch | Lễ Thánh Biển Đức Qua Đời (21 tháng 3) và Đại lễ Thánh Biển Đức Viện phụ, Quan thầy Châu Âu (11 tháng 7) | Hai ngày đại lễ lớn nhất của toàn Dòng Biển Đức với các bản ca nhập lễ, ca tiến lễ và thánh vịnh bình ca Gregoriano cổ kính được ngân vang kèm đại phong cầm Mutin-Cavaillé-Coll. |
| Tam Nhật Vượt Qua và Đại lễ Chúa Phục Sinh (tháng 3 hoặc tháng 4) | Dương lịch | Thứ Năm Tuần Thánh, Thứ Sáu Tuần Thánh và Đêm Canh Thức Phục Sinh | Đỉnh cao của nghệ thuật bình ca Gregoriano trong năm phụng vụ: các giờ kinh tối Tenebrae (Kinh Thương Khó) và đêm Canh thức Phục Sinh thu hút đông đảo người tĩnh tâm từ khắp Tây Âu. |
| Ngày 22 tháng 9 | Dương lịch (Lễ Bổn mạng Chính thức) | Đại lễ Thánh Maurice và các Bạn Tử đạo Quân đoàn Thebes | Ngày lễ tước hiệu chính thức của Đan viện Clervaux với thánh lễ đại trào của Viện phụ và sự tham dự của giáo sĩ cùng tín hữu vùng Ardennes. |
| Đêm 24 tháng 12 và ngày 25 tháng 12 | Dương lịch | Canh thức Đêm Giáng Sinh và Đại lễ Chúa Giáng Sinh | Giờ kinh đêm Matins và Thánh lễ nửa đêm Giáng Sinh bằng tiếng Latinh giữa khung cảnh đồi rừng Clervaux phủ tuyết trắng. |
Nhà khách tĩnh tâm trên đỉnh đồi và truyền thống hiếu khách Biển Đức. Trong chương 53 của Tu luật Thánh Biển Đức có ghi rõ lời dạy: Mọi khách khứa đến đan viện đều phải được đón tiếp như đón tiếp chính Đức Kitô (Hospites tamquam Christus suscipiantur). Trung thành với lời dạy có từ thế kỷ thứ 6 ấy, Tu viện Clervaux duy trì một khu nhà khách tĩnh tâm dành cho những cá nhân hoặc nhóm nhỏ (cả nam giới lẫn phụ nữ ở các khu vực phù hợp) muốn tạm rời xa nhịp sống công nghiệp hối hả để sống vài ngày trong sự thinh lặng, đọc sách, đi dạo giữa rừng thông Ardennes và tham dự đầy đủ bảy giờ kinh bình ca mỗi ngày cùng các đan sĩ. Ngay cả đối với những du khách chỉ ghé thăm trong vài giờ, việc ngồi lặng yên trên hàng ghế gỗ trong lòng nhà thờ đan viện lúc 10 giờ sáng để nghe tiếng hát bình ca Gregoriano ngân lên dưới vòm đá cao vút cũng là một trải nghiệm thanh lọc tâm hồn sâu sắc bậc nhất khi đến thăm Đại Công quốc Luxembourg.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đồi Côte d'Eich, L-9737 Clervaux, Tổng Clervaux, Đại Công quốc Luxembourg
- Đường tới
- Tu viện Biển Đức Clervaux tọa lạc trên đỉnh đồi Côte d'Eich thuộc thị trấn Clervaux ở miền bắc Đại Công quốc Luxembourg (cách thủ đô Luxembourg khoảng 62 km về phía bắc). Phương tiện đi lại thuận tiện, nhanh chóng và hoàn toàn miễn phí là đi tuyến tàu hỏa đường sắt quốc gia Luxembourg (CFL Line 10, hướng đi Troisvierges và Liège của Bỉ) xuất phát từ Ga tàu hỏa trung tâm Luxembourg (hoặc ga Pfaffenthal-Kirchberg) chạy thẳng tới Ga Clervaux trong khoảng 50 đến 55 phút. Từ Ga tàu hỏa Clervaux, quý vị có thể đi xe buýt địa phương miễn phí lên đồi hoặc đi bộ khoảng 20 đến 25 phút xuyên qua trung tâm thị trấn Clervaux, đi ngang qua Lâu đài Clervaux và Nhà thờ Giáo xứ rồi men theo con đường dốc rợp bóng cây có các chặng Đàng Thánh Giá là lên tới thẳng cổng Đan viện trên đỉnh đồi.
- Toạ độ
- 50.0614, 6.0294
Nhà thờ Đan viện và khu vực Hầm mộ Triển lãm (Crypt Exhibition) cùng hiệu sách lưu niệm của Tu viện Biển Đức Clervaux mở cửa tự do và miễn phí hằng ngày cho du khách và khách hành hương (khu vực nội vi tu viện Cloître và vườn riêng của các đan sĩ là khu vực cấm phòng không mở cửa cho khách tham quan tự do để bảo đảm sự thinh lặng đan tu). Du khách hoàn toàn được chào đón vào ngồi trong lòng nhà thờ để tham dự Thánh lễ Cộng đoàn hát bình ca Gregoriano bằng tiếng Latinh (thường bắt đầu lúc 10 giờ sáng các ngày thường và Chúa nhật) cũng như giờ Kinh Chiều Vespers (lúc 5 giờ 30 chiều). Khi bước vào trong nhà thờ đan viện, quý vị cần giữ sự thinh lặng tuyệt đối, tắt hoàn toàn âm thanh điện thoại, ăn mặc lịch sự kín đáo và không đi lại hay chụp ảnh trong lúc các đan sĩ đang cử hành giờ kinh và thánh lễ.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tu viện Biển Đức Thánh Maurice và Thánh Maurus, Clervaux
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tu viện Biển Đức Clervaux có phải là một tu viện xây dựng từ thời Trung cổ không?
Không. Mặc dù mang vẻ ngoài cổ kính với tường đá phiến xám, vòm tròn và tháp chuông giống hệt một đan viện thế kỷ 11, Tu viện Biển Đức Clervaux thực chất được xây dựng từ năm 1909 đến năm 1912 theo phong cách Tân Romanesque (lấy cảm hứng từ Đại đan viện Cluny III ở vùng Bourgogne, Pháp) bởi kiến trúc sư người Đức gốc Hà Lan Johannes Franziskus Klomp.
Vì sao các đan sĩ dòng Biển Đức từ nước Pháp lại đến xây dựng tu viện tại Clervaux của Luxembourg?
Cộng đoàn đan sĩ này nguyên thuộc Đan viện cổ Saint-Maur de Glanfeuil ở vùng Anjou (Pháp, được Solesmes tái lập năm 1890). Năm 1901, Chính phủ Pháp ban hành đạo luật bài giáo sĩ giải thể các dòng tu và trục xuất các đan sĩ khỏi nước Pháp. Sau vài năm tạm trú tại Baronville (Bỉ), vào năm 1908 các đan sĩ đã chọn vùng đất yên bình tại Clervaux của Đại Công quốc Luxembourg để xây dựng đan viện vĩnh cửu mới và chuyển về ở từ tháng 8 năm 1910.
Truyền thống âm nhạc bình ca Gregoriano tại Tu viện Clervaux có gì nổi tiếng?
Là một đan viện trực thuộc Chi hội Solesmes (trung tâm phục hưng bình ca Gregoriano lớn nhất thế giới), các đan sĩ tại Clervaux cử hành toàn bộ 7 giờ kinh Phụng vụ và Thánh lễ mỗi ngày bằng tiếng Latinh theo điệu bình ca Gregoriano cổ truyền. Vào thập niên 1950 và 1960, các bản thu âm đĩa than bình ca của Đan viện Clervaux do hãng Philips phát hành đã nổi tiếng khắp thế giới và giành được giải thưởng Đĩa Vàng quốc tế.
Nhà văn đoạt giải Nobel Văn học nào từng sống và chịu phép rửa tội tại Đan viện Clervaux?
Đó là đại văn hào người Iceland Halldór Kiljan Laxness (1902 tới 1998, người đoạt giải Nobel Văn học năm 1955). Khi mới 20 tuổi, ông đã đến sống tại Đan viện Clervaux từ tháng 12 năm 1922 đến năm 1924, chịu phép rửa tội và thêm sức theo đạo Công giáo ngay tại nhà thờ đan viện vào ngày 6 tháng 1 năm 1923 với tên thánh là Halldór Kiljan.
Chuyện gì đã xảy ra với Tu viện Clervaux trong thời kỳ Đức Quốc xã chiếm đóng Luxembourg?
Vào tháng 1 năm 1941, lực lượng mật vụ Gestapo của Đức Quốc xã đã trục xuất toàn bộ các đan sĩ ra khỏi Tu viện Clervaux, tịch thu tài sản, tháo chuông nhà thờ và biến tòa nhà đan viện thành trường huấn luyện của Đoàn Thanh niên Hitler (Hitlerjugend). Mãi đến mùa xuân năm 1945, sau khi Trận chiến Clervaux (tháng 12 năm 1944) kết thúc và Luxembourg được giải phóng, các đan sĩ mới trở về khôi phục lại tu viện.
Du khách đến thăm Tu viện Clervaux có thể tham dự giờ kinh của các đan sĩ và tham quan những khu vực nào?
Du khách được vào tham quan miễn phí Nhà thờ Đan viện, khu vực Hầm mộ Triển lãm (trưng bày lịch sử đời sống đan tu và các kỷ vật âm nhạc) cùng hiệu sách lưu niệm. Đặc biệt, du khách có thể ngồi trong lòng nhà thờ để trực tiếp lắng nghe các đan sĩ hát bình ca Gregoriano trong Thánh lễ Cộng đoàn lúc 10 giờ sáng hoặc giờ Kinh Chiều Vespers lúc 5 giờ 30 chiều hằng ngày.