VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Vương cung thánh đường Mariazell

Basilika Mariazell, Basilika Mariae Geburt, Magna Mater Austriae, Đền thánh Quốc gia Đức Mẹ Mariazell

Đền thánh Quốc gia của nước Áo ngự giữa thung lũng núi Bắc Alps ở độ cao 868 mét thuộc bang Steiermark, nơi pho tượng gỗ bồ đề Đức Mẹ Từ Bi cao 48 cm từ thế kỷ 12 quy tụ các dân tộc nói tiếng Đức, tiếng Hungary và các dân tộc Slav dưới mái vòm hợp nhất Gothic và Baroque.

Khởi nguyên truyền thống
21 tháng 12 năm 1157
đan sĩ Biển Đức Magnus từ Đan viện St. Lambrecht dựng am gỗ đầu tiên
Tam đại tước hiệu
Magna Mater Austriae
Đại Thánh Mẫu Nước Áo, Đại Mẫu Các Dân Tộc Slav và Đại Nữ Chúa Hungary
Kiến trúc hợp nhất
Gothic (1344) và Baroque (1644 tới 1683)
tháp giữa Gothic cao 90 m đứng giữa hai tháp đôi Baroque của Domenico Sciassia
Linh tượng trung tâm
Gnadenmutter (Đức Mẹ Từ Bi)
pho tượng gỗ bồ đề hậu kỳ Romanesque cao 48 cm ngự trong Nhà nguyện Hồng ân
Kiệt tác điêu khắc
Fischer von Erlach (1692 tới 1704)
lưới bạc Nhà nguyện Hồng ân và Bàn thờ chính Quả cầu Vũ trụ bằng gỗ mun thếp bạc
Phẩm trật Tòa Thánh
Tiểu Vương cung thánh đường (1907)
Đức Giáo hoàng Piô X sắc phong năm 1907 và trao tặng Hoa Hồng Vàng năm 2007

Nằm ở độ cao 868 mét so với mực nước biển giữa lòng thung lũng Salza thuộc dãy núi đá vôi Bắc Alps ở cực bắc bang Steiermark (Styria), ngay sát ranh giới với bang Hạ Áo, thị trấn nhỏ Mariazell từ hơn tám thế kỷ qua đã là điểm hội tụ của hàng chục con đường hành hương bộ hành xuyên qua rừng thông và những đỉnh núi phủ tuyết. Khi lữ khách vượt qua những con đèo cuối cùng của tuyến đường hành hương Via Sacra khởi hành từ vùng phụ cận thủ đô Viên hay tuyến đường Mariazeller Gründerweg từ Đan viện St. Lambrecht, hình ảnh đầu tiên hiện ra trên sườn đồi thoai thoải là một mặt tiền thánh đường độc nhất vô nhị trong lịch sử kiến trúc châu Âu: ở chính giữa là ngọn tháp đá vôi Gothic thế kỷ 14 cao vút 90 mét với cổng vòm nhọn chạm khắc tinh xảo, còn ôm lấy hai bên là hai ngọn tháp đôi phong cách Baroque thế kỷ 17 đội mũ vòm đồng xanh lục đầy uy nghi. Sự kết hợp táo bạo giữa hai thời đại kiến trúc cách nhau ba trăm năm ấy đã trở thành dấu ấn nhận diện không thể trộn lẫn của Vương cung thánh đường Mariazell (tiếng Đức gọi là Basilika Mariazell hay tên phụng vụ đầy đủ là Basilika Mariae Geburt, tức Vương cung thánh đường Sinh Nhật Đức Trinh Nữ Maria).

Trong tâm thức của người dân Trung Âu và truyền thống Công giáo hoàn vũ, Mariazell không chỉ là trung tâm hành hương lớn nhất của Cộng hòa Áo mà còn là một thánh địa siêu quốc gia vượt qua mọi biên giới ngôn ngữ. Khác với Nhà thờ chính tòa Thánh Stêphanô tại Viên gắn với quyền lực đô thị đế chế hay Nhà thờ chính tòa Salzburg gắn với truyền thống các Tổng giám mục Vương hầu, Mariazell là ngôi nhà chung của ba nhóm dân tộc lớn vùng lưu vực sông Danube. Ngay tại trung tâm lòng thánh đường, dưới mái lọng bạc do đại kiến trúc sư Johann Bernhard Fischer von Erlach thiết kế, một pho tượng Đức Mẹ bế Chúa Hài Đồng tạc bằng gỗ cây đoạn (gỗ bồ đề, Lindenholz) chỉ cao vỏn vẹn 48 cm từ thế kỷ 12 được tôn xưng đồng thời bằng ba danh hiệu Latinh trang trọng: Magna Mater Austriae (Đại Thánh Mẫu của nước Áo), Mater Gentium Slavorum (Mẹ của các dân tộc Slav) và Magna Hungarorum Domina (Đại Nữ Chúa của người Hungary).

Vương cung thánh đường Mariazell
Vương cung thánh đường Mariazell. Ảnh: Uoaei1, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

IĐức Mẹ Từ Bi Bằng Gỗ Bồ Đề, Huyền Tích Tảng Đá Tách Đôi Năm 1157 Và Ba Tước Hiệu Mẫu Nghi Trung Âu

Tên gọi Mariazell của cả thị trấn lẫn ngôi vương cung thánh đường bắt nguồn trực tiếp từ hai từ tiếng Đức cổ: Maria (Đức Trinh Nữ Maria) và Zell (bắt nguồn từ chữ Latinh cella, nghĩa là căn phòng tu nhỏ, tịnh thất hay am nguyện của một đan sĩ). Theo biên niên sử cổ của Đan viện Biển Đức St. Lambrecht (nằm ở phía tây nam bang Steiermark), vào năm 1157, Viện phụ Otker đã cử một tu sĩ dòng Biển Đức tên là Magnus lên vùng thung lũng núi rừng thuộc lãnh địa của đan viện để chăm sóc mục vụ cho những người tiều phu và thợ mỏ sắt địa phương. Khi lên đường, đan sĩ Magnus chỉ xin phép Viện phụ được mang theo hành trang quý giá nhất của mình là một pho tượng nhỏ tạc hình Đức Trinh Nữ Maria bế Chúa Hài Đồng bằng gỗ cây bồ đề (Tilia).

Truyền thuyết khởi nguyên kể lại rằng vào chiều tối ngày 21 tháng 12 năm 1157, khi đan sĩ Magnus đang băng qua hẻm núi rừng rậm để tìm nơi dừng chân trước đêm đông giá buốt, một tảng đá vôi khổng lồ bất ngờ chắn ngang toàn bộ lối đi. Không còn sức để trèo qua hay quay lại trong bóng tối, vị đan sĩ đã đặt pho tượng gỗ Đức Mẹ xuống đất, quỳ gối cầu nguyện tha thiết xin Mẹ chỉ đường. Ngay lập tức, một tiếng nổ trầm vang lên và tảng đá lớn tự tách làm đôi, mở ra một lối đi bằng phẳng dẫn tới một gò đất cao thoáng đãng. Hiểu rằng chính Đức Trinh Nữ đã chọn gò đất ấy làm nơi ngự trị, đan sĩ Magnus đã đặt pho tượng lên một gốc cây cổ thụ, dựng một tịnh thất bằng gỗ (Zell) vừa làm chỗ ở cho mình vừa làm am thờ cho Đức Mẹ; từ đó người dân khắp vùng gọi nơi này là Maria in der Zell, rồi rút gọn thành Mariazell.

Theo giáo nghĩa

Trái tim thiêng liêng của toàn bộ đại thánh đường là pho tượng Đức Mẹ Từ Bi của Mariazell (Gnadenmutter von Mariazell, còn được gọi thân thương là Magna Mater Austriae) đặt bên trong Nhà nguyện Hồng ân (Gnadenkapelle) ngay chính giữa lòng nhà thờ. Về mặt lịch sử nghệ thuật thánh, đây là một tác phẩm điêu khắc gỗ bồ đề đa sắc phong cách hậu kỳ Romanesque có niên đại từ thế kỷ 12 hoặc đầu thế kỷ 13, cao đúng 48 cm. Đức Trinh Nữ Maria ngồi thẳng trên một chiếc ngai thấp, mặc áo choàng xanh lam và áo trong màu đỏ thẫm; trên đầu gối bên phải của Đức Mẹ là Chúa Hài Đồng Giêsu ngồi nâng một quả lê (hoặc quả táo cứu độ), trong khi bàn tay trái của Đức Mẹ giơ ra một quả vả (biểu tượng của sự ngọt ngào, bình an và hoa trái thiêng liêng của Đất Hứa).

Theo truyền thống phụng vụ trang trọng hình thành từ thời kỳ Baroque dưới triều đại Habsburg, trong hầu hết các ngày trong năm, pho tượng gỗ mộc mạc ấy được khoác lên mình những bộ áo choàng thêu chỉ vàng, chỉ bạc nạm ngọc trai và đá quý hình chóp tam giác cân xứng (gọi là Liebfrauenkleider, hiện kho báu của vương cung thánh đường còn lưu giữ hơn 150 bộ áo choàng cổ từ thế kỷ 17 tới thế kỷ 21 do các hoàng hậu, vương công và tín hữu dâng cúng), trên đầu Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng đội hai chiếc vương miện bằng vàng ròng nạm kim cương. Chỉ có hai ngày duy nhất trong năm pho tượng Đức Mẹ Mariazell được cởi bỏ áo choàng và vương miện để lộ nguyên vẹn lớp gỗ bồ đề điêu khắc thế kỷ 12 mộc mạc cho tín hữu chiêm ngắm: đó là ngày 8 tháng 9 (Đại lễ Sinh Nhật Đức Trinh Nữ Maria, lễ bổn mạng chính của vương cung thánh đường) và ngày 21 tháng 12 (kỷ niệm ngày đan sĩ Magnus đặt tượng lập đền năm 1157).

Theo sử liệu

Lịch sử biến Mariazell từ một am gỗ nhỏ trong rừng núi Steiermark thành đại thánh địa của toàn khối Trung Âu gắn liền với ba phép lạ lịch sử lớn được ghi chép trong các biên niên sử trung cổ và được khắc họa ngay trên ba cánh cửa đồng cùng các bàn thờ bên trong nhà thờ:

Phép lạ thứ nhất diễn ra vào khoảng năm 1200: Hầu tước Heinrich của xứ Moravia (Markgraf Heinrich von Mähren, thuộc vùng đất Cộng hòa Séc ngày nay) cùng phu nhân là bà Vladislava mắc chứng bệnh phong thấp và bại liệt nặng đến mức không thể tự đi lại. Sau khi cầu khẩn Đức Mẹ Mariazell trong giấc mộng và được chữa lành hoàn toàn, hai vợ chồng vị Hầu tước người Slav đã thực hiện cuộc hành hương tạ ơn vượt núi đến Mariazell và xuất ngân khố xây dựng ngôi nhà thờ đá đầu tiên theo phong cách Romanesque thay cho chiếc am gỗ của đan sĩ Magnus. Chính biến cố này đã khai sinh danh hiệu Mater Gentium Slavorum (Mẹ của các dân tộc Slav).

Phép lạ thứ hai diễn ra vào thế kỷ 14 dưới triều đại Quốc vương Lajos I Đại đế của Hungary (Ludwig I. der Große von Ungarn, trị vì 1342 tới 1382). Khi dẫn quân đối đầu với một đạo quân phương Đông có quân số đông gấp bội ở vùng hạ lưu sông Danube, nhà vua đã cầu nguyện trước bức linh ảnh Đức Mẹ Mariazell. Đêm trước trận đánh, nhà vua chiêm bao thấy Đức Trinh Nữ hiện ra đặt bức tượng của Mẹ lên ngực ngài và hứa ban chiến thắng. Sau khi đại thắng trở về, Quốc vương Lajos I đã thân hành đến Mariazell dâng tặng bức tranh kho báu Schatzkammerbild và tài trợ kinh phí xây dựng ngôi đại thánh đường phong cách Gothic cao rộng với ngọn tháp nhọn cao 90 mét (thi công từ khoảng năm 1344 tới năm 1380), xác lập danh hiệu Magna Hungarorum Domina (Đại Nữ Chúa của người Hungary). Đến thế kỷ 17, các Hoàng đế vương triều Habsburg (đặc biệt là Hoàng đế Ferdinand II, Ferdinand III và Leopold I) đã tôn phong Đức Mẹ Mariazell làm Tổng Tư Lệnh tối cao (Generalissima) và Đại Thánh Mẫu của nước Áo (Magna Mater Austriae), biến nơi đây thành đền thánh quốc gia của toàn Đế chế Áo.

Chỗ hay hiểu lầm

Một điều mà nhiều du khách thường hiểu nhầm khi nhìn thấy ba ngọn tháp đồ sộ ở mặt tiền Vương cung thánh đường Mariazell là họ nghĩ rằng công trình nguyên là một nhà thờ Gothic sau đó chỉ được gắn thêm mặt tiền Baroque ở bên ngoài. Thực tế kiến trúc độc đáo hơn rất nhiều: vào năm 1644, khi dòng người hành hương từ khắp Đế chế Habsburg đổ về quá đông khiến ngôi nhà thờ Gothic thế kỷ 14 của Vua Lajos I không còn đủ sức chứa, Viện phụ Benedikt Pierin của Đan viện St. Lambrecht đã giao cho kiến trúc sư người Thụy Sĩ gốc Ý là Domenico Sciassia (khoảng 1599 tới 1679) thực hiện một cuộc đại phẫu thuật kiến trúc kéo dài suốt bốn mươi năm (1644 tới 1683). Thay vì phá bỏ toàn bộ nhà thờ cũ, Sciassia đã giữ nguyên ngọn tháp trung tâm Gothic cao 90 mét và cổng chính có mảng điêu khắc Tympanum thế kỷ 14, rồi xây kẹp hai bên hai ngọn tháp chuông Baroque thấp hơn một nhịp để tạo thành mặt tiền ba tháp hài hòa kỳ lạ; đồng thời ở phía trong, ông phá dỡ các tường bên Gothic để mở rộng gấp đôi chiều ngang và chiều dài lòng nhà thờ, dựng thêm mười hai nhà nguyện phụ hai bên và một mái vòm lớn phía đông, biến ngôi nhà thờ cổ thành một đại thánh đường Baroque ngập tràn ánh sáng.

IIHơn Tám Thế Kỷ Từ Am Gỗ Năm 1157, Đại Trùng Tu Baroque Thế Kỷ 17 Tới Cuộc Hành Hương Của Các Giáo Hoàng Hiện Đại

Lịch sử của Vương cung thánh đường Mariazell là dòng chảy liên tục của đức tin Trung Âu vượt qua các cuộc chiến tranh tôn giáo, các trận hỏa hoạn lớn vào thế kỷ 15 và thế kỷ 19, sự kiện giải thể đan viện ngắn ngủi dưới thời Hoàng đế Joseph II và cả những biến động chính trị của thế kỷ 20 khi Bức màn sắt từng chia cắt Mariazell với các đoàn hành hương từ Hungary, Tiệp Khắc và Nam Tư.

  • 21 tháng 12 năm 1157Đan sĩ Biển Đức Magnus lập tịnh thất gỗ tôn trí tượng Đức Mẹ Mariazell
    Được Viện phụ Otker của Đan viện St. Lambrecht cử đến vùng núi thung lũng Salza, đan sĩ Magnus dựng am gỗ đầu tiên quanh pho tượng Đức Mẹ bế Chúa Hài Đồng bằng gỗ bồ đề cao 48 cm.
  • Khoảng năm 1200 tới 1266Hầu tước Heinrich xứ Moravia xây nhà thờ đá Romanesque đầu tiên
    Để tạ ơn ơn chữa lành bệnh tật kỳ diệu, Hầu tước Heinrich xứ Moravia và phu nhân Vladislava cho xây dựng ngôi nhà thờ bằng đá theo lối Romanesque; văn kiện của Giáo hoàng Clêmentê IV năm 1266 chính thức ghi nhận danh tiếng hành hương của Mariazell.
  • 1344 tới 1380Quốc vương Lajos I Đại đế của Hungary kiến tạo nhà thờ Hallenkirche phong cách Gothic
    Sau chiến thắng quân sự lớn, Vua Lajos I của Hungary tài trợ xây dựng nhà thờ Gothic ba nhịp gian rộng lớn với ngọn tháp trung tâm cao 90 mét và cổng vòm nhọn chạm nổi vẫn còn tồn tại ở chính giữa mặt tiền ngày nay.
  • 1644 tới 1683Kiến trúc sư Domenico Sciassia mở rộng thành Đại thánh đường Baroque ba tháp
    Dưới sự bảo trợ của các Hoàng đế nhà Habsburg và Đan viện St. Lambrecht, kiến trúc sư Domenico Sciassia mở rộng toàn diện lòng nhà thờ, xây dựng hai tháp chuông Baroque hai bên tháp Gothic, mái vòm phía đông và 12 nhà nguyện bên.
  • 1690 tới 1704Johann Bernhard Fischer von Erlach thiết kế bàn thờ Nhà nguyện Hồng ân và Bàn thờ chính
    Đại kiến trúc sư cung đình Viên là Johann Bernhard Fischer von Erlach thiết kế bàn thờ bạc trong Nhà nguyện Hồng ân (1692) và Bàn thờ chính đồ sộ bằng gỗ mun với tượng Chúa Chịu Nạn trên Quả cầu Vũ trụ (hoàn thành năm 1704).
  • Đêm lễ Các Thánh 1 tháng 11 năm 1827Đại hỏa hoạn thiêu rụi thị trấn và mái nhà thờ nhưng Nhà nguyện Hồng ân được cứu thoát
    Một trận cháy lớn thiêu hủy phần lớn thị trấn Mariazell cùng mái vòm và các quả chuông của thánh đường, nhưng pho tượng gỗ Đức Mẹ Từ Bi và bức tranh kho báu của Vua Lajos I được cứu nguyên vẹn; công cuộc trùng tu hoàn tất năm 1830.
  • 10 tháng 11 năm 1907Đức Giáo hoàng Piô X sắc phong tước hiệu Tiểu Vương cung thánh đường (Basilica Minor)
    Nhân dịp kỷ niệm 750 năm thành lập Mariazell (1157 tới 1907), Giáo hoàng Piô X ban đoản sắc nâng đền thánh lên hàng Tiểu Vương cung thánh đường và năm 1908 diễn ra lễ đội vương miện giáo hoàng cho pho tượng Đức Mẹ.
  • 1983, 2004 và 2007Các cuộc viếng thăm lịch sử của Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Đại hội Các Dân tộc và Giáo hoàng Biển Đức XVI
    Giáo hoàng Gioan Phaolô II hành hương tới Mariazell ngày 13 tháng 9 năm 1983; tháng 5 năm 2004 diễn ra cuộc Hành hương của các Dân tộc Trung Âu với 100.000 tín hữu từ 8 quốc gia; tháng 9 năm 2007, Giáo hoàng Biển Đức XVI chủ sự đại lễ kỷ niệm 850 năm và trao tặng Hoa Hồng Vàng.
Theo sử liệu

Hành trình của Hồng y József Mindszenty và biểu tượng hòa giải Trung Âu sau Chiến tranh Lạnh. Trong suốt nửa sau thế kỷ 20, khi biên giới giữa nước Áo trung lập với Hungary và Tiệp Khắc bị ngăn cách bởi hàng rào dây thép gai của Chiến tranh Lạnh, Vương cung thánh đường Mariazell đã trở thành điểm tựa tinh thần thiêng liêng cho hàng triệu tín hữu Công giáo Đông Âu không thể tự do hành hương. Khi nhà lãnh đạo tinh thần kiên trung của Giáo hội Công giáo Hungary là Hồng y József Mindszenty (1892 tới 1975, Tổng giám mục Esztergom và Giáo chủ Hungary) qua đời trong cảnh lưu vong tại Viên vào ngày 6 tháng 5 năm 1975, theo đúng di nguyện cuối cùng của ngài, thi hài của vị Hồng y đã được rước về an táng trang trọng ngay tại Nhà nguyện Thánh László (Ladislao) bên trong Vương cung thánh đường Mariazell để chờ ngày đất nước Hungary có lại tự do tôn giáo.

Suốt mười sáu năm từ năm 1975 tới năm 1991, ngôi mộ của Hồng y Mindszenty bên cạnh Nhà nguyện Hồng ân Đức Mẹ Mariazell là điểm hành hương xúc động của người dân Hungary và Trung Âu. Đến ngày 4 tháng 5 năm 1991, sau khi bức màn sắt sụp đổ, hài cốt của Hồng y Mindszenty mới được cải táng trọng thể từ Mariazell về hầm mộ các Tổng giám mục tại Vương cung thánh đường Esztergom bên bờ sông Danube của Hungary, nhưng tấm bia tưởng niệm và gian thờ tại Mariazell vẫn được giữ nguyên như minh chứng vĩnh cửu cho mối dây gắn kết tâm linh giữa hai dân tộc Áo và Hungary. Kể từ năm 1992, Đan viện Biển Đức St. Lambrecht đã chuyển giao quyền quản trị trực tiếp Vương cung thánh đường Mariazell cho một Tu viện ưu tiên độc lập tại chỗ (Superiorat Mariazell), phối hợp cùng Giáo phận Graz-Seckau đón tiếp hơn một triệu khách hành hương mỗi năm.

IIIMặt Tiền Ba Tháp Gothic Hòa Quyện Baroque, Nhà Nguyện Hồng Ân Ở Tâm Điểm Và Bàn Thờ Quả Cầu Vũ Trụ Của Fischer Von Erlach

Vương cung thánh đường Mariazell có chiều dài tổng thể khoảng 85 mét, chiều rộng 30 mét, là một trong những công trình hiếm hoi trên thế giới lồng ghép nguyên vẹn một cấu trúc nhà thờ Gothic thế kỷ 14 vào bên trong một vỏ bọc và không gian mở rộng Baroque thế kỷ 17. Nhờ tài năng điều phối không gian của kiến trúc sư Domenico Sciassia cùng đội ngũ nghệ nhân đắp vữa thạch cao (stucco), họa sĩ bích họa và đặc biệt là thiên tài Johann Bernhard Fischer von Erlach (người thiết kế Cung điện Schönbrunn và Nhà thờ Karlskirche ở Viên), nội thất nhà thờ mang lại cảm giác vừa ấm cúng quanh Nhà nguyện Hồng ân ở giữa lòng đền, vừa choáng ngợp hướng về vòm cao phía đông.

Mặt Tiền Ba Tháp (Dreiturmfassade) và Cổng Chính Điêu Khắc Gothic Thế Kỷ 14

Mặt tiền phía tây là sự giao thoa độc nhất vô nhị: ở chính giữa là ngọn tháp đá Gothic thế kỷ 14 cao 90 mét thời Vua Lajos I với mái chóp nhọn thanh thoát; hai bên là hai tháp chuông Baroque thế kỷ 17 của Domenico Sciassia đội vòm hành củ lợp đồng xanh. Ngay dưới chân tháp giữa là Cổng chính Gothic có bức phù điêu đá vôi hình vòm nhọn (Tympanum) khắc họa cảnh Chúa Chịu Đóng Đinh, phép lạ chiến trận của Vua Lajos I và phép lạ chữa lành của Hầu tước Heinrich xứ Moravia, phía trước đặt hai pho tượng đá cẩm thạch trắng kích thước thật của Vua Lajos I và Hầu tước Heinrich do Balthasar Moll tạc năm 1757.

Ba Cánh Cửa Đồng Phù Điêu (Bronzetore, 1957)

Nhân dịp kỷ niệm 800 năm thành lập đền thánh vào năm 1957, nhà điêu khắc nổi tiếng người Áo Toni Schneider-Manzell đã chế tác ba bộ cánh cửa bằng đồng đúc cho ba lối vào mặt tiền: Cửa giữa (Cửa Đan sĩ Magnus) khắc họa lịch sử khởi nguyên năm 1157 và các mầu nhiệm Mân Côi; hai cửa bên khắc họa lịch sử cứu độ và hành trình của con người tìm về ánh sáng Thiên Chúa.

Nhà Nguyện Hồng Ân (Gnadenkapelle) và Lưới Bạc Của Fischer Von Erlach

Đặt ngay tại tâm điểm hình học của gian giữa (chính trên nền am gỗ đầu tiên năm 1157 và nhà nguyện Romanesque năm 1200) là Nhà nguyện Hồng ân có bình đồ hình thang kết thúc bằng hậu cung bán nguyệt. Từ năm 1690, kiến trúc sư Johann Bernhard Fischer von Erlach đã thiết kế bàn thờ Hồng ân bằng bạc nguyên khối: pho tượng gỗ bồ đề Đức Mẹ Từ Bi (Gnadenmutter) cao 48 cm ngự dưới vòm hào quang tia sáng mạ vàng và mười hai ngôi sao. Phía trước nhà nguyện được bao bọc bởi hàng rào lưới bạc lộng lẫy (Silbergitter) do Hoàng hậu Maria Theresia dâng tặng năm 1756.

Bàn Thờ Chính Quả Cầu Vũ Trụ (Hochaltar, 1692 tới 1704)

Nằm dưới vòm cầu lớn ở khu vực cung thánh mở rộng phía đông là Bàn thờ chính cao vút do Johann Bernhard Fischer von Erlach thiết kế năm 1692 và được Hoàng đế Leopold I tài trợ hoàn thành năm 1704. Khác với Nhà nguyện Hồng ân dành riêng cho Đức Mẹ, Bàn thờ chính tôn vinh Chúa Cha, Chúa Thánh Thần và chính giữa là cây Thánh Giá lớn bằng gỗ mun đen nhánh cắm trên Quả cầu Vũ trụ (Weltkugel) có hình con rắn bị đạp dập đầu, hai bên là các pho tượng bằng bạc của Đức Mẹ Sầu Bi, Thánh Gioan Tông đồ và Thánh nữ Maria Magdalena do nghệ nhân Lorenzo Mattielli tạo tác.

Mười Hai Nhà Nguyện Bên (Seitenkapellen) và Nhà Nguyện Thánh László

Dọc theo hai gian bên của lòng nhà thờ là mười hai nhà nguyện phụ (sáu nhà nguyện ở phía bắc và sáu nhà nguyện ở phía nam) được kiến trúc sư Domenico Sciassia xây dựng và trang hoàng bằng hệ thống vữa đắp nổi trắng kết hợp vàng lá tinh xảo cùng các bàn thờ đá cẩm thạch. Mỗi nhà nguyện được cung hiến cho các vị thánh bảo trợ của các vùng đất Trung Âu như Thánh Stêphanô Vua Hungary, Thánh László (nơi từng an táng Hồng y József Mindszenty từ 1975 tới 1991), Thánh Leopold nước Áo, Thánh Phanxicô Xaviê và Thánh Biển Đức.

Phòng Kho Báu Bức Tranh Vua Lajos I (Schatzkammer) và Hai Đại Phong Cầm

Trên lầu phía bắc và phía nam của khu vực cung thánh là Phòng Kho báu (Schatzkammer), nơi tôn trí Bức linh ảnh Đức Mẹ Kho báu (Schatzkammerbild) thế kỷ 14 phong cách hội họa Siena do Quốc vương Lajos I của Hungary dâng tặng năm 1364 cùng hàng trăm vật phẩm lễ tạ ơn (ex-voto), vương miện và bộ sưu tập hơn 150 áo choàng Đức Mẹ. Về âm nhạc phụng vụ, vương cung thánh đường sở hữu hai chiếc đại phong cầm danh tiếng: Đàn Đại phong cầm Wiener Orgel ở gác đàn phía tây (dựng năm 1739, nâng cấp năm 2003 với 54 thanh âm) và Đàn Konradsheim Orgel bên cạnh Nhà nguyện Hồng ân.

Các hạng mục kiến trúc, điêu khắc và bảo vật phụng vụ tiêu biểu của Vương cung thánh đường Mariazell. Nguồn: Ban Quản trị Vương cung thánh đường Mariazell (basilika-mariazell.at) và Cục Bảo tồn Di tích Liên bang Áo (Bundesdenkmalamt)..
Hạng mục kiến trúc và Bảo vậtNiên đại và Tác giả thực hiệnĐặc điểm kỹ thuật và Ý nghĩa tôn giáo
Tháp trung tâm Gothic và Cổng chính1344 tới 1380 (thời Quốc vương Lajos I của Hungary)Tháp đá vôi cao 90 m ở giữa mặt tiền, cổng vòm nhọn có phù điêu đá khắc ba phép lạ lịch sử và hai tượng đá của Balthasar Moll (1757)
Hai tháp đôi, Gian giữa và Mái vòm Baroque1644 tới 1683 (kiến trúc sư Domenico Sciassia)Chiều dài tổng thể 85 m, rộng 30 m, mở rộng thành nhà thờ Baroque ba nhịp gian với 12 nhà nguyện bên và mái vòm phía đông
Nhà nguyện Hồng ân và Tượng Đức Mẹ Từ BiTượng gỗ thế kỷ 12; bàn thờ bạc 1692 (Fischer von Erlach); lưới bạc 1756Đặt tại tâm điểm lòng nhà thờ, tôn trí pho tượng gỗ bồ đề Đức Mẹ bế Chúa Hài Đồng cao 48 cm (Magna Mater Austriae)
Bàn thờ chính Quả cầu Vũ trụ (Hochaltar)1692 tới 1704 (Johann Bernhard Fischer von Erlach và Lorenzo Mattielli)Cấu trúc gỗ mun đen và bạc trắng cao vút dưới vòm đông, khắc họa Chúa Chịu Nạn trên Quả cầu Địa cầu dưới ánh mắt Chúa Cha
Phòng Kho báu và Linh ảnh SchatzkammerbildTranh năm 1364 (họa phái Ý - Byzantine); bộ sưu tập thế kỷ 14 tới 21Lưu giữ bức linh ảnh Đức Mẹ của Vua Lajos I, Hoa Hồng Vàng của Giáo hoàng Biển Đức XVI (2007) và hơn 150 bộ áo choàng Đức Mẹ

IVThế Đất Và Hướng

Cần nêu rõ rằng Giáo hội Công giáo tại Áo và các đan sĩ dòng Biển Đức không sử dụng thuật phong thủy phương Đông trong việc chọn đất và xây dựng Vương cung thánh đường Mariazell. Vị trí của đền thánh được xác lập từ năm 1157 tại nơi đan sĩ Magnus dựng am gỗ truyền giáo giữa vùng rừng núi lãnh địa Đan viện St. Lambrecht, còn trục kiến trúc của nhà thờ tuân theo quy tắc định hướng phụng vụ Kitô giáo cổ truyền: mặt tiền ba tháp mở về phía Tây và cung thánh hướng về phía Đông đón ánh mặt trời mọc. Những nhận định dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép xem hình thế sơn thủy cổ truyền của thư viện Vạn Đạo Đường.

Thế đất và hướng

Xét trên đại cuộc địa hình của dãy núi Bắc Alps Đá Vôi (Nördliche Kalkalpen) tại tọa độ 47,7731 độ vĩ bắc, 15,3193 độ kinh đông, thị trấn Mariazell nằm trên một sơn nguyên yên ngựa ở độ cao 868 mét, đóng vai trò là vùng phân thủy và giao điểm tự nhiên giữa bang Steiermark ở phía nam với bang Hạ Áo ở phía bắc. Bao bọc bốn bề quanh thung lũng Mariazell là vòng cung những ngọn núi cao hùng vĩ xếp thành thế liên hoa tọa (đài sen đá vôi giữa núi): ngay phía bắc và đông bắc của thánh đường là ngọn núi Bürgeralpe cao 1.267 mét đứng sừng sững như một bức hậu chẩm và thiếu tổ sơn che chắn gió bắc lạnh giá; ở phía đông nam là khối núi Göller và Schneealpe; ở phía nam và tây nam là khối núi đá vôi khổng lồ Hochschwab, còn ở phía tây bắc là ngọn Ötscher (1.893 mét) và hồ nước xanh ngắt Erlaufsee.

Về thủy pháp và tọa hướng, bên dưới chân đồi phía nam và phía tây của thị trấn là thung lũng dòng sông Salza cùng suối Grünau uốn lượn như một dải ngọc đới thủy ôm lấy chân gò đất nơi vương cung thánh đường tọa lạc trước khi chảy về phía tây nhập vào sông Enns. Bản thân Vương cung thánh đường Mariazell ngự trên đỉnh cao nhất của gò đất trung tâm thị trấn theo trục tọa Đông Đông Nam hướng Tây Tây Bắc: các dãy phố cổ xếp bậc thang dốc dần từ thung lũng lên tới quảng trường rộng Benedictusplatz ngay trước mặt tiền ba tháp, tạo nên một minh đường bậc cấp tụ hội sinh khí của mọi ngả đường hành hương bộ hành từ Viên, Graz, Linz và Hungary đổ về. Đặc biệt, việc đặt Nhà nguyện Hồng ân ngay tại giao điểm chính tâm của lòng nhà thờ (thay vì đẩy lùi hẳn về sát tường hậu cung phía đông) khiến pho tượng gỗ bồ đề Đức Mẹ Từ Bi ngự đúng vào vị trí thái cực huyệt tâm của toàn bộ công trình, được bao bọc bởi mười hai nhà nguyện bên và hai lớp tường đá Gothic lẫn Baroque vững chãi.

VĐại Lễ Sinh Nhật Đức Mẹ 8 Tháng 9, Kỷ Niệm Khởi Lập 21 Tháng 12 Và Truyền Thống Hành Hương Bộ Hành Via Sacra

Đời sống phụng vụ tại Vương cung thánh đường Mariazell diễn ra quanh năm theo lịch phụng vụ Công giáo Rôma (dương lịch), trong đó mùa hành hương cao điểm kéo dài từ ngày 1 tháng 5 (khai mạc tháng Hoa kính Đức Mẹ) đến hết tháng 10, kết hợp với mùa Vọng truyền thống vùng núi Alps vào tháng 12.

Các kỳ đại lễ phụng vụ và truyền thống hành hương tiêu biểu trong năm tại Vương cung thánh đường Mariazell. Nguồn: Vương cung thánh đường Mariazell (basilika-mariazell.at) và Giáo phận Graz-Seckau..
Thời điểm trong nămHệ lịchTên đại lễ phụng vụ và sự kiệnNghi thức cử hành đặc trưng tại Vương cung thánh đường Mariazell
Ngày 1 tháng 5 tới tháng 10 hằng nămDương lịchMùa Hành hương Quốc tế và Kiệu Nến Đêm Thứ Bảy (Lichterprozession)Hàng trăm đoàn hành hương đi bộ từ khắp nước Áo, Hungary, Séc, Slovakia, Croatia tiến vào đền thánh; mỗi tối thứ Bảy mùa hè và các ngày lễ Đức Mẹ đều diễn ra cuộc rước kiệu nến lung linh quanh quảng trường và đọc kinh Mân Côi bằng nhiều thứ tiếng.
Ngày 15 tháng 8Dương lịch (Quốc lễ tại Áo)Đại lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời và Lễ Làm Phép Thảo Mộc (Mariä Himmelfahrt)Một trong những ngày đông khách hành hương nhất trong năm với thánh lễ đại trào của các Giám mục, nghi thức truyền thống làm phép các bó thảo mộc và hoa rừng vùng núi Alps (Kräuterweihe).
Ngày 8 tháng 9Dương lịch (Lễ Bổn mạng Đền thánh)Đại lễ Sinh Nhật Đức Trinh Nữ Maria (Mariä Geburt / Patrozinium)Ngày lễ tước hiệu chính thức của Vương cung thánh đường: pho tượng Đức Mẹ Từ Bi được cởi bỏ áo choàng thêu vàng để lộ nguyên bản tượng gỗ bồ đề thế kỷ 12 cho hàng vạn tín hữu chiêm bái.
Ngày 13 tháng 9Dương lịchLễ Danh Thánh Đức Mẹ và Kỷ niệm các cuộc viếng thăm Giáo hoàngKỷ niệm chiến thắng bảo vệ thành Viên năm 1683 gắn với lòng sùng kính Đức Mẹ Mariazell và kỷ niệm cuộc tông du lịch sử của Giáo hoàng Gioan Phaolô II (13/9/1983) cùng Giáo hoàng Biển Đức XVI (8/9/2007).
Bốn tuần Mùa Vọng và ngày 21 tháng 12Dương lịchMùa Vọng Mariazell (Mariazeller Advent) và Lễ Kỷ niệm Khởi lập Đền thánh (21/12/1157)Lần thứ hai và duy nhất còn lại trong năm pho tượng Đức Mẹ Từ Bi được trưng bày nguyên bản gỗ mộc mạc không khoác áo choàng vào ngày 21 tháng 12, kết hợp các thánh lễ Rorate sáng sớm dưới ánh nến.

Con đường hành hương bộ hành Via Sacra và cộng đồng Công giáo Việt Nam tại Áo. Một trong những nét đẹp văn hóa tâm linh bền bỉ nhất của nước Áo là truyền thống đi bộ hành hương (Fußwallfahrt) vượt núi đến Mariazell. Tuyến đường cổ xưa nhất mang tên Via Sacra dài khoảng 125 km bắt đầu từ vùng Hinterbrühl ở phía nam thủ đô Viên, đi qua Đan viện Heiligenkreuz, Lilienfeld và Annaberg trong suốt 4 đến 5 ngày đi bộ liên tục trước khi tiến vào cổng chính của Vương cung thánh đường. Đối với cộng đồng người Việt Công giáo sinh sống tại Viên, Graz, Linz và các bang của nước Áo (cũng như các đoàn hành hương người Việt từ Đức, Séc và Hungary lân cận), Mariazell là điểm hành hương Thánh Mẫu quen thuộc nhất mỗi dịp mùa hè và lễ Đức Mẹ Lên Trời 15 tháng 8, nơi các gia đình cùng hiệp dâng thánh lễ tiếng Việt tại các nhà nguyện hoặc trước bàn thờ Hồng ân để cầu nguyện cho gia đình và quê hương.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Quảng trường Benedictusplatz 1, 8630 Mariazell, huyện Bruck-Muerzzuschlag, bang Steiermark, Cộng hòa Áo
Đường tới
Thị trấn Mariazell nằm ở phía bắc bang Steiermark, cách thủ đô Viên khoảng 120 km về phía tây nam và cách thành phố Graz khoảng 110 km về phía bắc. Phương tiện công cộng thuận tiện và đẹp mắt nhất là đi tàu hỏa của Đường sắt Liên bang Áo (ÖBB) tới nhà ga chính Sankt Pölten (St. Pölten Hauptbahnhof, chỉ mất 25 phút đi tàu từ Viên), sau đó chuyển sang tuyến tàu hỏa leo núi lịch sử khổ hẹp Mariazellerbahn (đoàn tàu Himmelstreppe chạy qua các cầu cạn và hẻm núi công viên tự nhiên Ötscher-Tormäuer tuyệt đẹp trong khoảng 2 giờ 15 phút) tới ga cuối Mariazell; từ nhà ga Mariazell có thể đi bộ khoảng 15 phút lên đồi hoặc đi xe buýt địa phương 3 phút tới thẳng quảng trường Benedictusplatz trước cửa Vương cung thánh đường.
Toạ độ
47.7731, 15.3193
Khi tới nơi

Vương cung thánh đường Mariazell mở cửa tự do hằng ngày từ sáng sớm đến tối để đón khách hành hương và du khách vào cầu nguyện (chỉ thu phí tham quan một khoản nhỏ đối với khu vực Phòng Kho báu Schatzkammer trên lầu trong mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10). Khi bước vào trong lòng thánh đường, đặc biệt là khu vực xung quanh Nhà nguyện Hồng ân ở chính giữa gian giữa, quý vị cần giữ trật tự tuyệt đối, tắt chuông điện thoại, bỏ mũ nón và mặc trang phục kín đáo, lịch sự phù hợp nơi thờ tự. Vì Mariazell nằm trên vùng núi Bắc Alps ở độ cao 868 mét, thời tiết có thể chuyển lạnh đột ngột ngay cả vào mùa hè và có tuyết dày từ tháng 11 đến tháng 4, quý vị nên mang theo áo ấm và giày đi bộ chống trượt khi lên đền và đi dạo quanh đồi Thánh Giá (Kalvarienberg) hay Nguồn Nước Thánh (Heiliger Brunnen) gần nhà thờ.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Vương cung thánh đường Mariazell

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Tên gọi Mariazell có nguồn gốc và ý nghĩa như thế nào?

Tên gọi Mariazell ghép từ danh xưng Đức Trinh Nữ Maria và từ tiếng Đức cổ Zell (bắt nguồn từ chữ Latinh cella, nghĩa là phòng tu nhỏ hay am nguyện của đan sĩ). Theo truyền thống, vào ngày 21 tháng 12 năm 1157, đan sĩ dòng Biển Đức tên là Magnus từ Đan viện St. Lambrecht đã dựng một am gỗ nhỏ (Zell) tại đây để tôn trí pho tượng gỗ Đức Mẹ bế Chúa Hài Đồng, từ đó hình thành tên gọi Maria in der Zell rồi trở thành Mariazell.

Vì sao Đức Mẹ Mariazell lại được tôn kính bởi cả người Áo, người Hungary và các dân tộc Slav?

Đức Mẹ Mariazell mang ba tước hiệu Latinh lịch sử: Đại Thánh Mẫu Nước Áo (Magna Mater Austriae, gắn với sự bảo trợ của vương triều Habsburg), Mẹ của các dân tộc Slav (Mater Gentium Slavorum, bắt nguồn từ việc Hầu tước Heinrich xứ Moravia được chữa lành khoảng năm 1200 và xây nhà thờ đá đầu tiên), và Đại Nữ Chúa của người Hungary (Magna Hungarorum Domina, gắn với Quốc vương Lajos I Đại đế của Hungary người đã xây dựng nhà thờ Gothic thế kỷ 14 sau một chiến thắng lịch sử).

Vì sao mặt tiền Vương cung thánh đường Mariazell lại có ba ngọn tháp với hai phong cách kiến trúc khác hẳn nhau?

Khi lượng khách hành hương tăng vọt vào thế kỷ 17, kiến trúc sư người Thụy Sĩ gốc Ý là Domenico Sciassia được giao mở rộng nhà thờ từ năm 1644 tới 1683. Để tôn trọng lịch sử, ông đã giữ nguyên ngọn tháp trung tâm phong cách Gothic thế kỷ 14 cao 90 mét cùng cổng chính vòm nhọn ở giữa, đồng thời xây thêm hai ngọn tháp chuông phong cách Baroque đội vòm đồng xanh ở hai bên, tạo nên mặt tiền ba tháp hợp nhất Gothic và Baroque độc nhất vô nhị.

Pho tượng Đức Mẹ Từ Bi trong Nhà nguyện Hồng ân được làm bằng chất liệu gì và khi nào mới nhìn thấy nguyên bản gỗ không mặc áo choàng?

Pho tượng Đức Mẹ Từ Bi (Gnadenmutter) là tác phẩm điêu khắc hậu kỳ Romanesque thế kỷ 12 bằng gỗ cây bồ đề (Lindenholz), cao 48 cm. Quanh năm pho tượng được khoác các bộ áo choàng lễ phục thêu vàng bạc nạm ngọc hình tam giác; chỉ có đúng hai ngày trong năm pho tượng được cởi bỏ áo choàng để lộ nguyên bản gỗ mộc mạc là ngày 8 tháng 9 (Lễ Sinh Nhật Đức Mẹ) và ngày 21 tháng 12 (ngày kỷ niệm lập đền năm 1157).

Đại kiến trúc sư Johann Bernhard Fischer von Erlach đã đóng góp những tác phẩm nào cho Vương cung thánh đường Mariazell?

Johann Bernhard Fischer von Erlach (kiến trúc sư Baroque vĩ đại nhất nước Áo) đã thiết kế hai kiệt tác trung tâm cho Mariazell: thứ nhất là bàn thờ bằng bạc với vầng hào quang tia sáng trong Nhà nguyện Hồng ân (năm 1692), và thứ hai là Bàn thờ chính (Hochaltar, hoàn thành năm 1704) dưới vòm phía đông với hình tượng Chúa Chịu Đóng Đinh trên Quả cầu Vũ trụ bằng gỗ mun và các pho tượng bạc.

Mối liên hệ lịch sử giữa Vương cung thánh đường Mariazell và Hồng y József Mindszenty của Hungary là gì?

Hồng y József Mindszenty (Giáo chủ Giáo hội Công giáo Hungary và biểu tượng phản kháng chế độ toàn trị thời Chiến tranh Lạnh) khi qua đời trong cảnh lưu vong tại Viên năm 1975 đã để lại di chúc xin được an táng tạm thời tại Vương cung thánh đường Mariazell. Thi hài của ngài đã yên nghỉ tại Nhà nguyện Thánh László trong lòng đền thánh suốt 16 năm cho đến khi được cải táng trọng thể về Vương cung thánh đường Esztergom của Hungary vào tháng 5 năm 1991.

›Đọc Tiếp