VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Các tu viện Haghpat và Sanahin

Haghpatavank và Sanahni Vank, Quần thể Song Tu viện Vương triều Kiurikian - Bagratuni trên cao nguyên hẻm núi Debed

Cặp đại tu viện song sinh và trung tâm đại học trung cổ lừng danh vùng Nam Kavkaz tọa lạc đối diện nhau trên rìa cao nguyên xanh thẳm nhìn xuống hẻm núi sông Debed ở tỉnh Lori, được Hoàng hậu Khosrovanuysh nhà Bagratuni sáng lập vào năm 966 và 976 với bàn tay của đại kiến trúc sư Trdat, hành lang triết học của Grigor Magistros và gần ba mươi năm tu hành của đại thi hào âm nhạc Sayat-Nova.

Đức tin phụng thờ
Đức Mẹ, Chúa Cứu Thế và Thánh Giá
dâng kính Đức Mẹ Thiên Chúa (Surb Astvatsatsin), Chúa Cứu Thế (Surb Amenaprkich) và Thánh Giá (Surb Nshan)
Khởi dựng và Sáng lập
Năm 966 (Sanahin) · Năm 976 (Haghpat)
do Vua Ashot III Đấng Nhân Từ và Hoàng hậu Khosrovanuysh của vương triều Bagratuni khởi dựng
Kiến trúc sư và Học giả
KTS Trdat · Grigor Magistros · Sayat-Nova
kiến trúc sư Trdat (thế kỷ 10), hiền triết Grigor Magistros (thế kỷ 11) và thi hào Sayat-Nova (thế kỷ 18)
Đỉnh cao kỹ thuật
Vòm đá giao nhau chống động đất
hệ thống vòm cuốn đá bazan giao nhau không cần cột giữa tại các đại sảnh Gavit, thư viện và nhà ăn
Bảo vật điêu khắc
Phù điêu hai hoàng tử và Khachkar 1273
phù điêu hai vua Smbat và Gurgen nâng mô hình nhà thờ (966, 976) cùng bia đá Amenaprkich Khachkar (1273)
Vị thế Di sản
Di sản Thế giới UNESCO (1996, 2000)
ghi danh năm 1996 và mở rộng năm 2000 (mã số 777bis) gồm hai tu viện cùng Cầu đá Sanahin (1195)

Tại vùng núi rừng xanh thẫm của tỉnh Lori ở cực bắc Cộng hòa Armenia, nơi dòng sông Debed xẻ một hẻm núi sâu thẳm xuyên qua các tầng cao nguyên bazan hùng vĩ gần thị trấn Alaverdi, có hai quần thể tu viện đá xám đen nằm trên hai mỏm cao nguyên xanh mướt đối diện nhau qua một khe vực sâu nhưng có thể nhìn thấy nhau trong làn sương sớm: đó là Các tu viện Haghpat và Sanahin (tiếng Armenia là Haghpatavank và Sanahni Vank). Không giống như Tu viện Khor Virap nằm trơ trọi giữa bình nguyên nắng gió Ararat hay Tu viện Geghard ẩn sâu trong lòng vách đá khô, Haghpat và Sanahin vươn lên giữa những sườn đồi phủ cỏ xanh và rừng sồi rậm rạp, tạo nên một tổ hợp kiến trúc vừa mang dáng dấp uy nghiêm của những pháo đài trên mây vừa là trung tâm đại học, thư viện và hội họa sách chép tay lớn nhất của thế giới Chính thống giáo Armenia suốt từ thế kỷ 10 tới thế kỷ 13.

Được khởi dựng dưới triều đại hoàng kim của Vua Ashot III Đấng Nhân Từ (trị vì 953 tới 977) và bậc mẫu nghi sùng đạo Hoàng hậu Khosrovanuysh thuộc vương triều Bagratuni vào năm 966 (tại Sanahin) và năm 976 (tại Haghpat), hai đại tu viện này là nơi kết tinh rực rỡ nhất giữa truyền thống kiến trúc cung đình Byzantine và kỹ thuật xây dựng vòm đá bản địa của vùng Kavkaz. Chính tại đây, đại kiến trúc sư Trdat (người từng được triều đình Constantinople mời sang sửa chữa mái vòm Hagia Sophia vào năm 989) đã dựng nên ngôi thánh đường Surb Nshan bất hủ; nhà bác học thế kỷ 11 Grigor Magistros Pahlavuni đã mở trường giảng dạy triết học, toán học và y học; và thi hào âm nhạc vĩ đại nhất vùng Kavkaz thế kỷ 18 là Sayat-Nova đã sống gần ba mươi năm cuối đời trong chiếc áo dòng tu sĩ. Năm 1996 (và mở rộng năm 2000), Tổ chức UNESCO đã ghi danh Các tu viện Haghpat và Sanahin vào Danh sách Di sản Văn hóa Thế giới (mã số 777bis).

Các tu viện Haghpat và Sanahin
Các tu viện Haghpat và Sanahin. Ảnh: Soghomon Matevosyan, giấy phép CC BY-SA 4.0, nguồn Wikimedia Commons.

ITâm Nguyện Của Hoàng Hậu Khosrovanuysh, Truyền Thuyết Tên Gọi Sanahin Và Haghpat Cùng Bảo Vật Bia Đá Amenaprkich Năm 1273

Sự ra đời song hành của hai đại tu viện Sanahin và Haghpat gắn liền với lòng sùng đạo sâu sắc của Hoàng hậu Khosrovanuysh, phu nhân của Vua Ashot III Đấng Nhân Từ thuộc vương triều Bagratuni (triều đại đã phục hưng nền độc lập của Vương quốc Armenia với kinh đô Ani lừng lẫy). Để cầu xin Thiên Chúa ban sự trường thọ, trí tuệ và bình an cho hai người con trai là hoàng tử Smbat (sau này là Vua Smbat II của kinh đô Ani) và hoàng tử Gurgen (tức Vua Kiurike I, vị vua sáng lập Vương quốc Tashir-Dzoraget đóng tại vùng Lori), Hoàng hậu Khosrovanuysh đã lần lượt xuất kho ngân khố hoàng gia để kiến tạo Nhà thờ Chúa Cứu Thế (Surb Amenaprkich) tại Sanahin vào năm 966 và Nhà thờ Thánh Giá (Surb Nshan) tại Haghpat vào năm 976.

Minh chứng sống động và cảm động nhất cho tâm nguyện ấy của Hoàng hậu Khosrovanuysh chính là hai bức phù điêu đá chạm nổi cao nguyên bản từ thế kỷ 10 đặt ngay dưới đỉnh mái tam giác ở mặt tường phía đông của cả hai ngôi nhà thờ tại Sanahin và Haghpat. Trên cả hai bức phù điêu, hai anh em hoàng tử Smbat và Gurgen mặc trang phục vương công Armenia đội mũ chóp cao đứng đối diện nhau, đôi tay cùng nâng niu một mô hình thu nhỏ bằng đá của chính ngôi nhà thờ để dâng lên Thiên Chúa. Đây được giới nghiên cứu lịch sử nghệ thuật thế giới đánh giá là những tác phẩm điêu khắc chân dung người hiến tặng (donor relief) sớm nhất và hoàn mỹ nhất còn tồn tại của thời kỳ trung cổ vùng Kavkaz.

Theo giáo nghĩa

Trong truyền thống văn hóa dân gian Armenia, ngay chính tên gọi của hai tu viện cũng ẩn chứa một câu chuyện đối thoại thú vị về lịch sử kiến trúc. Tên gọi Sanahin theo lối chiết tự cổ truyền trong tiếng Armenia là sa nranits hin e, có nghĩa là ngôi đền này cổ hơn ngôi đền kia (khẳng định rằng Sanahin với Nhà thờ Đức Mẹ xây từ khoảng năm 928 tới 944 có tuổi đời lớn hơn người anh em Haghpat ở bên kia khe núi). Trong khi đó, tên gọi Haghpat gắn liền với câu chuyện người thợ cả già của Sanahin và người học trò trẻ tài năng cùng thi tài xây dựng ngôi thánh đường trên mỏm cao nguyên đối diện; khi nhìn thấy bức tường thành và khối vòm đá kiên cố tuyệt mỹ của công trình mới, vị sư phụ đã ôm lấy học trò mà thốt lên Hagh pat! (có nghĩa là Bức tường vĩ đại!).

Xét trên bình diện thần học phụng vụ của Giáo hội Tông truyền Armenia, cả Haghpat lẫn Sanahin đều được thiết kế như những Thành Đô Thiên Quốc thu nhỏ trên đỉnh núi, nơi việc cử hành Thánh lễ (Surb Badarak) trong nhà thờ không bao giờ tách rời khỏi việc nghiên cứu kinh điển và sao chép sách thánh tại Thư viện (Matenadaran) và Học viện (Chemaran). Đối với các tu sĩ bác học (vardapet) tại Haghpat và Sanahin, mỗi trang giấy da vẽ tranh tiểu họa bằng vàng lá và màu đỏ son, mỗi chương khảo luận triết học và mỗi tấm bia đá chữ thập Khachkar đều là một lời kinh cầu nguyện hữu hình dâng lên Đấng Cứu Thế.

Theo sử liệu

Trong số hàng trăm tấm bia đá chữ thập (Khachkar) được lưu giữ tại hai tu viện, kiệt tác vĩ đại nhất về cả giá trị thần học lẫn nghệ thuật điêu khắc là tấm bia Amenaprkich Khachkar (Khachkar Chúa Cứu Thế Tất Cả) được tạo tác vào năm 1273 tại Tu viện Haghpat (đặt trong tiền sảnh dẫn vào đại sảnh Hamazasp). Khác với quy tắc thông thường của bia Khachkar Armenia vốn chỉ chạm khắc cây thánh giá nảy lộc mà không tạc tượng hình người, tấm bia năm 1273 do Thượng phụ Hovhannes bảo trợ là một trong số cực kỳ hiếm hoi các bia đá khắc họa trọn vẹn cảnh Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên Thập Giá với trình độ tả thực và biểu cảm xúc động bậc nhất thế kỷ 13.

Trên mặt đá tufa được nhuộm màu đỏ thẫm tự nhiên từ loài côn trùng rệp son vùng Ararat (vordan karmir) bền màu suốt hơn bảy trăm năm, người nghệ nhân năm 1273 đã chạm nổi hình tượng Chúa Kitô trên thập giá, bên cạnh là Đức Mẹ Maria, Thánh Gioan Tông đồ, ông Giuse người Arimathea đang đỡ thân xác Chúa, các thiên thần đang bay xuống từ vòm trời cùng mười hai vị Tông đồ và hình ảnh Chúa Kitô vinh hiển ở tầng trên cùng. Cùng với các bức bích họa thế kỷ 13 vẽ Chúa Kitô Toàn Năng (Deesis) trên vòm bàn thờ nhà thờ Surb Nshan tại Haghpat, tấm bia Amenaprkich là bảo vật vô giá minh chứng cho sự giao thoa rực rỡ giữa thần học phương Đông và nghệ thuật tạo hình thời trung cổ.

Chỗ hay hiểu lầm

Một câu chuyện lịch sử đầy chất thơ làm lay động mọi du khách khi đến thăm Tu viện Haghpat là cuộc đời tu hành và cái chết bi tráng của đại thi hào kiêm nhạc sĩ Sayat-Nova (tên thật là Harutyun Sayatyan, 1712 tới 1795), bậc thầy vĩ đại nhất của nghệ thuật hát thơ ashough vùng Kavkaz (tác giả của hàng trăm bài tình ca và triết ca bất hủ bằng tiếng Armenia, tiếng Gruzia và tiếng vùng Kavkaz). Sau khi rời khỏi cung đình của Vua Heraclius II xứ Gruzia vì những sóng gió cuộc đời, vào năm 1768, Sayat-Nova đã đến ẩn cư tại Tu viện Haghpat, thọ chức linh mục tu sĩ với pháp danh Stepanos và sống tại đây suốt gần ba mươi năm cho tới năm 1795. Tương truyền vào tháng 9 năm 1795, khi nghe tin quân đội Ba Tư của Agha Mohammad Khan Qajar tiến đánh Tbilisi, vị tu sĩ già 83 tuổi đã vội vã từ Haghpat chạy về Tbilisi để đưa các con mình đi lánh nạn và đã bị binh lính giết hại ngay tại ngưỡng cửa nhà thờ Thánh Gevorg khi ông kiên quyết từ chối chối bỏ đức tin Kitô giáo.

IIHơn Một Thiên Niên Kỷ Từ Vương Triều Bagratuni Thế Kỷ 10, Vương Quốc Tashir-Dzoraget Của Nhà Kiurikian Và Dòng Họ Zakarian Đến Di Sản Thế Giới UNESCO

Lịch sử của cặp tu viện Haghpat và Sanahin gắn liền với thời kỳ phồn vinh của vùng Bắc Armenia dưới sự trị vì nối tiếp của ba dòng họ vương quyền lớn: vương triều Bagratuni (thế kỷ 10), vương triều Kiurikian của Vương quốc Tashir-Dzoraget (cuối thế kỷ 10 tới thế kỷ 12) và vương tộc Zakarian (cuối thế kỷ 12 tới thế kỷ 13).

  • Khoảng năm 928 tới 944Các tu sĩ Armenia trở về từ Byzantium xây dựng Nhà thờ Đức Mẹ (Surb Astvatsatsin) tại Sanahin
    Dưới triều Vua Abas I nhà Bagratuni, các tu sĩ Armenia rời đế quốc Byzantine về lập cộng đoàn trên nền một phế tích thế kỷ 4 tại Sanahin và xây dựng Nhà thờ Surb Astvatsatsin.
  • 966 và 976 tới 991Vua Ashot III và Hoàng hậu Khosrovanuysh sáng lập Surb Amenaprkich (Sanahin) và Surb Nshan (Haghpat)
    Hoàng hậu Khosrovanuysh cho dựng Nhà thờ Chúa Cứu Thế tại Sanahin năm 966 và mời đại kiến trúc sư Trdat xây dựng Nhà thờ Thánh Giá (Surb Nshan) tại Haghpat từ năm 976 tới 991.
  • Thế kỷ 11 (1040 tới 1063)Hiền triết Grigor Magistros giảng dạy tại Học viện Sanahin; xây dựng các Thư viện Matenadaran
    Học giả lừng danh Grigor Magistros Pahlavuni lập trường đại học triết học và khoa học tại hành lang giữa hai nhà thờ của Sanahin; Công chúa Hranush cho xây dựng thư viện bảo quản sách năm 1063.
  • 1181 tới 1257Kỷ nguyên xây dựng đại quy mô dưới thời vương tộc Zakarian và Thượng phụ Hovhannes, Hamazasp
    Xây dựng Gavit bốn cột của Sanahin (1181), Cầu đá Sanahin bắc qua sông Debed (1195), Gavit vòm giao nhau của Haghpat (1209), hai tháp chuông ba tầng (1211 tới 1245) và đại sảnh Hamazasp rộng lớn nhất Armenia (1257).
  • 1768 tới 1795Đại thi hào và nhạc sĩ Sayat-Nova tu hành gần ba mươi năm tại Tu viện Haghpat với pháp danh Stepanos
    Bậc thầy thơ ca và âm nhạc vùng Kavkaz là Sayat-Nova sống đời tu sĩ tại Haghpat từ năm 1768 tới năm 1795; thế kỷ 19 gia tộc hoàng thân Argutinsky-Dolgorukov tiếp tục bảo trợ và an táng tại Sanahin.
  • 1996 và 2000UNESCO ghi danh Tu viện Haghpat (1996) và mở rộng thành Các tu viện Haghpat và Sanahin (2000)
    Ủy ban Di sản Thế giới UNESCO công nhận quần thể hai tu viện và Cầu đá Sanahin là Di sản Văn hóa Thế giới (mã số 777bis), biểu trưng cao nhất của kiến trúc tôn giáo Armenia thời trung cổ.
Theo sử liệu

Hai trung tâm đại học với hơn 500 tu sĩ - học giả và kho tàng sách chép tay giấu trong hang đá hẻm núi Debed. Vào thế kỷ 11 tới thế kỷ 13, khi vùng Tashir-Dzoraget (tỉnh Lori ngày nay) trở thành vương quốc độc lập của nhánh vương triều Kiurikian (hậu duệ của hoàng tử Gurgen con trai Hoàng hậu Khosrovanuysh, chọn Sanahin làm lăng mộ hoàng gia và Haghpat làm tòa giám mục tối cao) và sau đó là lãnh địa trung tâm của hai anh em nguyên soái Zakare và Ivane Zakarian, cả hai tu viện đã phát triển thành những trường đại học thực thụ của thế giới trung cổ. Sử liệu ghi nhận vào thời cực thịnh, chỉ riêng tại Sanahin và Haghpat đã có hơn 500 tu sĩ, học giả, y sĩ và họa sĩ tiểu họa cùng sinh sống và nghiên cứu.

Tại Học viện của Grigor Magistros (thế kỷ 11) ở Sanahin, chương trình đào tạo không chỉ dừng lại ở Thần học và Chú giải Kinh Thánh mà còn giảng dạy đầy đủ Bảy Nghệ Thuật Tự Do (Tam học Trivium gồm Ngữ pháp, Tu từ học, Lô-gic học và Tứ khoa Quadrivium gồm Số học, Hình học, Thiên văn học, Âm nhạc) cùng Y học cổ truyền và Luật học. Chính tại Haghpat vào cuối thế kỷ 12, danh y kiêm học giả Mkhitar Heratsi cùng các bậc thầy luật học như David người Alavik đã nghiên cứu và trao đổi tri thức. Đặc biệt, để bảo vệ hàng nghìn cuốn sách chép tay bằng giấy da quý giá (trong đó có kiệt tác Tin Mừng Haghpat năm 1211 do họa sĩ Margar vẽ minh họa, hiện lưu giữ tại Viện Sách cổ Matenadaran ở Yerevan) trước các cuộc tấn công của quân Seljuk và Mông Cổ, các tu sĩ Haghpat đã thiết kế những hốc đá bí mật trong lòng các hang núi dọc theo hẻm núi sông Debed, đồng thời chôn các chum sành xuống dưới nền đá của tòa thư viện để giữ độ ẩm ổn định cho sách và cất giấu tài liệu khẩn cấp khi có biến loạn.

IIIĐỉnh Cao Kỹ Thuật Vòm Đá Giao Nhau Không Cột Trụ, Đại Sảnh Hamazasp Rộng Nhất Armenia, Tháp Chuông Ba Tầng Và Cầu Đá Sanahin (1195)

Về mặt lịch sử kiến trúc thế giới, đóng góp vĩ đại nhất của Các tu viện Haghpat và Sanahin chính là việc phát minh và hoàn thiện hệ thống kết cấu vòm đá bazan giao nhau vuông góc (intersecting stone arches / khachvogh kamarner) để lợp mái cho những đại sảnh hội họp, thư viện và nhà ăn có diện tích cực lớn mà không cần bất kỳ cây cột chống nào ở giữa phòng. Thay vì xây mái vòm nặng nề đè lên các cột trụ dễ bị gãy đổ khi có địa chấn, các kiến trúc sư Armenia thế kỷ 12 và thế kỷ 13 tại Haghpat và Sanahin đã bắc hai cặp cung vòm đá lớn chạy cắt chéo nhau tạo thành một khung xương chịu lực đàn hồi hoàn hảo, vừa mở rộng tối đa không gian nội thất vừa chuyển hóa lực rung lắc của các trận động đất vùng Kavkaz.

Nhà Thờ Thánh Giá Surb Nshan Tại Haghpat Của Đại Kiến Trúc Sư Trdat (976 tới 991) Và Tiền Đường Gavit Vòm Giao Nhau (1209)

Công trình trung tâm của Haghpat do đại kiến trúc sư Trdat thiết kế từ năm 976 tới 991 dưới sự bảo trợ của Hoàng hậu Khosrovanuysh, có mái vòm tròn đặt trên bốn trụ tường chịu lực, bích họa Chúa Kitô Toàn Năng thế kỷ 13 ở hậu cung và phù điêu hai vua Smbat, Gurgen ở mặt đông. Phía tây là tiền đường Gavit mở rộng năm 1209 với trần đá được nâng đỡ bởi hai cặp vòm giao nhau vươn cao không cần cột giữa.

Đại Sảnh Hamazasp (1257), Tháp Chuông Ba Tầng (1245), Thư Viện Và Nhà Ăn Tại Haghpat

Nằm ở phía bắc nhà thờ chính của Haghpat là Đại sảnh Zhamatun của Viện phụ Hamazasp xây năm 1257, đây là phòng hội họp bốn cột lớn nhất trong toàn bộ lịch sử kiến trúc tu viện Armenia (diện tích hơn 330 mét vuông). Nối liền bên cạnh là Thư viện Matenadaran có mái vòm đan chéo (1063, tái thiết 1258 tới 1262), Nhà ăn Seghanatun dài rộng thế kỷ 13 ở rìa bắc và Tháp chuông ba tầng (1245) vươn cao trên sườn đồi phía đông như một ngọn hải đăng tâm linh.

Cặp Nhà Thờ Surb Astvatsatsin (928 tới 944) Và Surb Amenaprkich (966) Tại Tu Viện Sanahin

Tại Tu viện Sanahin, hai ngôi nhà thờ cổ thế kỷ 10 đứng song song nhau: Nhà thờ Đức Mẹ (Surb Astvatsatsin, xây dựng khoảng năm 928 tới 944 bởi các tu sĩ từ Byzantium) và Nhà thờ Chúa Cứu Thế (Surb Amenaprkich, xây năm 966 bởi Hoàng hậu Khosrovanuysh, lớn hơn và có phù điêu hai hoàng tử Smbat, Gurgen ở mặt đông). Trước mặt phía tây của hai nhà thờ là hai đại sảnh Gavit xây năm 1181 (bốn cột chạm đầu bò và sư tử) và năm 1211 (ba gian vòm cuốn).

Hành Lang Học Viện Grigor Magistros (Thế Kỷ 11) Và Nhà Nguyện Tròn Thánh Grêgôriô Tại Sanahin

Khoảng không gian hẹp nằm kẹp giữa bức tường phía nam của Nhà thờ Surb Astvatsatsin và bức tường phía bắc của Nhà thờ Surb Amenaprkich tại Sanahin đã được khéo léo lợp vòm cuốn và tạo các hốc ghế đá sâu dọc hai bên tường vào thế kỷ 11 để làm giảng đường Học viện của nhà triết học Grigor Magistros. Gần đó là Nhà nguyện Thánh Grêgôriô (1061) có bình đồ hình trụ tròn nhỏ nhắn chạm vòm cuốn mù tuyệt đẹp và Thư viện năm 1063.

Tháp Chuông Chữ Thập Đỏ (1211 tới 1235) Và Khu Lăng Mộ Vương Tộc Kiurikian, Zakarian Tại Sanahin

Ở góc tây bắc của Sanahin vươn lên Tháp chuông ba tầng (xây dựng từ năm 1211 tới 1235), nổi bật với một cây thánh giá lớn bằng đá tufa màu đỏ cam ghép lệch tâm trên mặt tiền phía tây. Khuôn viên Sanahin còn lưu giữ lăng mộ hoàng gia của các vua nhà Kiurikian (cuối thế kỷ 10 tới thế kỷ 12), mộ của nguyên soái Ivane Zakarian (mất năm 1227) và lăng mộ các hoàng thân nhà Argutinsky-Dolgorukov thế kỷ 19.

Cầu Đá Cổ Sanahin Bắc Qua Dòng Sông Debed (Hoàn Thành Năm 1195)

Thuộc quần thể Di sản Thế giới UNESCO nối liền đường lên hai tu viện là chiếc Cầu đá Sanahin bắc qua dòng sông Debed cuồn cuộn dưới đáy hẻm núi. Được Hoàng hậu Vaneni (vợ của Vua Abas II nhà Kiurikian) cho xây dựng vào năm 1195 bằng đá bazan ghép vòm đơn nhịp dài 18 mét, thành cầu có chạm nổi hình những con sư tử đá nằm canh giữ suốt hơn tám trăm năm.

So sánh cấu trúc kiến trúc giữa hai quần thể Tu viện Haghpat, Tu viện Sanahin và Cầu đá Sanahin. Nguồn: Hồ sơ Di sản Thế giới UNESCO (Ref. 777bis) và Cục Bảo tồn Di tích Lịch sử Cộng hòa Armenia..
Quần thể và Hạng mụcNiên đại xây dựngĐặc trưng kiến trúc và Giá trị di sản
Haghpat: Nhà thờ Surb Nshan và Gavit chính976 tới 991 (Nhà thờ) · 1209 (Gavit)Thiết kế bởi KTS Trdat; có bích họa hậu cung, phù điêu hai hoàng tử và trần Gavit vòm giao nhau không cột
Haghpat: Đại sảnh Hamazasp, Thư viện và Tháp chuông1063 tới 1262 · Tháp chuông năm 1245Đại sảnh bốn cột lớn nhất Armenia (1257), bia đá Amenaprkich Khachkar (1273), nhà ăn và tháp chuông 3 tầng
Sanahin: Nhà thờ Surb Astvatsatsin và Surb Amenaprkich928 tới 944 và năm 966 · Hai Gavit (1181, 1211)Hai nhà thờ thế kỷ 10 đứng song song, nối với hai đại sảnh Gavit thế kỷ 12 và 13 có cột chạm đầu thú
Sanahin: Học viện Grigor Magistros và Thư việnThế kỷ 11 (Học viện và Thư viện năm 1063)Giảng đường đại học trung cổ có hốc ghế đá nối giữa hai nhà thờ; thư viện mái vòm bát giác trên vòm chéo
Hẻm núi Debed: Cầu đá cổ SanahinNăm 1195 · Hoàng hậu Vaneni nhà KiurikianCầu vòm đá bazan một nhịp dài 18 mét bắc qua sông Debed, trang trí tượng sư tử đá hộ vệ trên thành cầu

IVThế Đất Và Hướng

Cần lưu ý rằng Hoàng hậu Khosrovanuysh, đại kiến trúc sư Trdat và các vị viện phụ thế kỷ 10 tới thế kỷ 13 không sử dụng thuật phong thủy phương Đông khi quy hoạch Các tu viện Haghpat và Sanahin. Hai quần thể được chọn đất theo nguyên lý phòng thủ tự nhiên và cảnh quan chiêm niệm trên cao nguyên của tu viện Kitô giáo vùng núi Kavkaz, đồng thời định hướng toàn bộ các bàn thờ chính quay chuẩn xác về hướng Đông (hướng mặt trời mọc). Phần nhận định dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép xem hình thế sơn thủy cổ truyền của thư viện Vạn Đạo Đường.

Thế đất và hướng

Xét trên đại cuộc địa hình của tỉnh Lori tại tọa độ 41,0939 độ vĩ bắc, 44,7119 độ kinh đông (tại Haghpat) và 41,0872 độ vĩ bắc, 44,6661 độ kinh đông (tại Sanahin), hai đại tu viện tọa lạc trên một cấu trúc sơn thủy vô cùng kỳ vĩ mang thế song đài đối vọng, hẻm vực tàng long (hai đài cao nguyên đối diện nhau nhìn xuống vực sông lớn). Dòng sông Debed chảy cuồn cuộn dưới đáy hẻm núi sâu hàng trăm mét ở phía bắc và phía tây đóng vai trò là đại thủy đạo (Thủy Khẩu và Ngoại Minh Đường) thu gom toàn bộ nguồn nước từ các dãy núi Bazum và Virahayots (dãy Somkheti), trong khi hai tu viện ngự trị trên hai mỏm thềm cao nguyên bazan bằng phẳng ở độ cao khoảng 1.000 tới 1.250 mét so với mực nước biển, cách nhau một khe suối sâu (nơi có pháo đài Kayan Berd thế kỷ 13 trấn giữ ở giữa).

Tại cả Haghpat lẫn Sanahin, thế đất đều hội tụ đủ bốn yếu tố vàng của một đại học viện tâm linh: phía sau lưng có các đỉnh núi cao của dãy Virahayots / Lalvar làm hậu chẩm sơn (Huyền Vũ) vững chãi che chắn; mặt trước mở ra khoảng thềm cao nguyên xanh mướt làm nội minh đường rồi phóng tầm mắt bao quát toàn bộ hẻm núi sông Debed và các dãy núi trùng điệp ở phía xa làm tiền án và triều sơn; đặc biệt, khí hậu vùng núi rừng Lori thường xuyên có những dải mây mù và sương trắng từ đáy sông Debed bốc lên quấn quýt quanh chân hai cao nguyên, tạo nên cảnh tượng vân khí triều nguyên (mây lành tụ quanh huyệt đài), giúp nuôi dưỡng trí tuệ thâm sâu cho các học giả, triết gia và thi nhân suốt hơn một thiên niên kỷ.

VĐại Lễ Thánh Giá Surb Nshan, Ngày Hội Thơ Ca Và Âm Nhạc Tưởng Niệm Sayat-Nova (Vardaton) Và Hành Trình Đi Bộ Nối Hai Tu Viện

Ngày nay, cả hai tu viện Haghpat và Sanahin đều thuộc quyền quản lý mục vụ của Giáo phận Gougark (Gugark Diocese) thuộc Giáo hội Tông truyền Armenia và là những trung tâm hành hương, văn hóa sống động bậc nhất miền Bắc Armenia. Khác với vẻ tĩnh mịch của một bảo tàng, vào các ngày Chủ nhật và các kỳ lễ lớn trong năm, tiếng chuông từ hai ngọn tháp chuông thế kỷ 13 tại Haghpat và Sanahin vẫn ngân vang qua hẻm núi Debed, hòa cùng những làn điệu thánh ca và thơ ca truyền thống.

Các kỳ đại lễ phụng vụ và lễ hội văn hóa truyền thống tại Các tu viện Haghpat và Sanahin. Nguồn: Giáo phận Gougark của Giáo hội Tông truyền Armenia và Bộ Giáo dục, Khoa học, Văn hóa và Thể thao Armenia..
Thời điểm trong nămHệ lịchTên lễ tiết và sự kiệnNghi thức phụng vụ và hoạt động văn hóa tại Haghpat và Sanahin
Chủ nhật gần ngày 14 tháng 9 nhấtLịch phụng vụ Giáo hội ArmeniaĐại lễ Suy Tôn Thánh Giá (Khachverats / Exaltation of the Holy Cross) tại HaghpatNgày đại lễ bổn mạng trọng thể nhất của Nhà thờ chính Surb Nshan (Thánh Giá) tại Tu viện Haghpat với Thánh lễ đại trào và nghi thức rước Thánh Giá trang nghiêm.
Chủ nhật gần ngày 15 tháng 8 nhấtLịch phụng vụ Giáo hội ArmeniaĐại lễ Đức Mẹ Lên Trời (Astvatsatsin) và Lễ Làm phép Nho tại SanahinNgày lễ bổn mạng của Nhà thờ cổ Surb Astvatsatsin tại Tu viện Sanahin, quy tụ người dân khắp vùng Alaverdi và tỉnh Lori đến dự lễ và nhận phúc lành mùa màng.
Tháng 5 hoặc đầu mùa hè hằng nămSự kiện văn hóa truyền thốngNgày hội Hoa Hồng và Âm nhạc Tưởng niệm Thi hào Sayat-Nova (Vardaton)Các nghệ sĩ âm nhạc dân gian (ashough), nhà thơ và người yêu văn chương quy tụ về Tu viện Haghpat để hát vang những ca khúc bất hủ của Sayat-Nova tại nơi ông từng tu hành gần 30 năm.
Mùa xuân tới mùa thu hằng nămThường nhậtHành trình đi bộ hành hương qua hẻm núi Kayan Berd nối liền hai tu viện Sanahin và HaghpatDu khách và người hành hương đi bộ theo con đường mòn cổ xuyên qua rừng sồi, qua pháo đài Kayan Berd (Akner) thế kỷ 13 và tu viện cổ Kobayr ở vùng hẻm núi Debed.

Con đường mòn cổ nối liền Sanahin và Haghpat qua pháo đài Kayan Berd. Một trong những trải nghiệm văn hóa và thiên nhiên đáng nhớ nhất khi đến thăm Di sản Thế giới này là cung đường đi bộ cổ truyền dài khoảng 8 tới 10 km nối liền từ Tu viện Sanahin sang Tu viện Haghpat (hoặc ngược lại). Con đường dẫn người lữ khách đi từ cổng Tu viện Sanahin xuống những sườn đồi xanh mướt, đi ngang qua Pháo đài Kayan Berd (còn gọi là Dsevank, xây năm 1233 trên mỏm đá cheo leo giữa khe vực) từng bảo vệ cả hai tu viện thời trung cổ, vượt qua dòng suối mát dưới tán rừng rồi leo lên thềm cao nguyên của Tu viện Haghpat. Đứng từ mỏm đá Kayan Berd ở giữa và nhìn sang hai bên, du khách có thể thu vào tầm mắt cả hai quần thể đại học viện 1.000 năm tuổi đang đối thoại cùng nhau giữa mây trời vùng Lori.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Làng Haghpat và phường Sanahin thuộc thị trấn Alaverdi, trên cao nguyên nhìn xuống hẻm núi sông Debed, tỉnh Lori, miền Bắc Cộng hòa Armenia
Đường tới
Các tu viện Haghpat và Sanahin tọa lạc trên hai thềm cao nguyên phía trên thị trấn Alaverdi thuộc tỉnh Lori ở miền Bắc Armenia, cách thủ đô Yerevan khoảng 175 km về phía bắc (khoảng 3 tới 3,5 giờ đi ô tô qua đường cao tốc M3 và M6 đi qua Aparan, Vanadzor và dọc theo hẻm núi sông Debed) và cách biên giới Gruzia (cửa khẩu Sadakhlo - Bagratashen) khoảng 40 km về phía nam. Khi tới thị trấn Alaverdi dưới đáy hẻm núi (nơi có Cầu đá cổ Sanahin năm 1195), quý vị đi theo con đường đèo uốn lượn khoảng 4 km lên phía tây nam là tới Tu viện Sanahin, và đi theo một nhánh đường đèo khác khoảng 10 km lên phía đông là tới làng Haghpat và Tu viện Haghpat.
Toạ độ
41.0939, 44.7119
Khi tới nơi

Cả hai tu viện Haghpat và Sanahin đều là những thánh địa đang hoạt động của Giáo hội Tông truyền Armenia và mở cửa đón khách tham quan, hành hương hằng ngày hoàn toàn miễn phí. Quý vị cần mặc trang phục lịch sự, kín đáo khi bước vào các nhà thờ (không mặc quần ngắn trên đầu gối hoặc áo hở vai). Bên trong các đại sảnh Gavit, thư viện và hành lang Học viện Grigor Magistros, mặt nền đá bazan cổ có nhiều tấm bia mộ phẳng khắc chữ của các bậc vương công và học giả thời trung cổ; quý vị nên bước đi nhẹ nhàng, tránh giẫm đạp mạnh lên các dòng chữ khắc cổ và tuyệt đối không chạm tay có dầu mồ hôi lên bức bích họa thế kỷ 13 ở hậu cung nhà thờ Surb Nshan cũng như mặt đá nhuộm đỏ tự nhiên của tấm bia Amenaprkich Khachkar năm 1273. Vì vùng cao nguyên Lori có khí hậu mát mẻ và thường có mưa sương bất chợt, quý vị nên mang theo áo khoác nhẹ và giày đi bộ có độ bám tốt.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Các tu viện Haghpat và Sanahin

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Các tu viện Haghpat và Sanahin được xây dựng vào thời kỳ nào và do ai sáng lập?

Mặc dù cả hai địa điểm đều có nguồn gốc từ các nhà nguyện thế kỷ 4 và đầu thế kỷ 10 (Nhà thờ Đức Mẹ tại Sanahin xây khoảng năm 928 tới 944), hai đại tu viện chính thức được định hình quy mô hoàng gia vào năm 966 (tại Sanahin) và năm 976 (tại Haghpat) dưới sự bảo trợ của Vua Ashot III Đấng Nhân Từ và Hoàng hậu Khosrovanuysh thuộc vương triều Bagratuni, trước khi được mở rộng rực rỡ suốt thế kỷ 11 tới thế kỷ 13 dưới thời vương triều Kiurikian và dòng họ Zakarian.

Tên gọi Sanahin và Haghpat có ý nghĩa gì trong truyền thống văn hóa Armenia?

Theo lối giải thích dân gian truyền thống của người Armenia, tên gọi Sanahin xuất phát từ cụm từ sa nranits hin e, có nghĩa là ngôi đền này cổ hơn ngôi đền kia (nhấn mạnh rằng Sanahin ra đời trước Haghpat). Trong khi đó, tên gọi Haghpat (từ chữ Hagh pat) có nghĩa là Bức tường vĩ đại hoặc Thành lũy kiên cố, ca ngợi kỹ thuật xây dựng vòm đá và tường thành kỳ vĩ của quần thể trên mỏm cao nguyên.

Bức phù điêu hai nhân vật nâng mô hình nhà thờ trên mặt tường phía đông của cả Sanahin và Haghpat khắc họa ai?

Đó là hai bức phù điêu đá chạm nổi cao từ thế kỷ 10 (năm 966 tại Sanahin và khoảng năm 976 tới 991 tại Haghpat) khắc họa hai anh em hoàng tử Smbat (sau là Vua Smbat II của kinh đô Ani) và Gurgen (tức Vua Kiurike I của vương quốc Tashir-Dzoraget), hai người con trai của Vua Ashot III và Hoàng hậu Khosrovanuysh, đang mặc lễ phục hoàng gia và cùng nâng mô hình ngôi nhà thờ dâng lên Thiên Chúa.

Đóng góp lớn nhất về kỹ thuật kiến trúc của Các tu viện Haghpat và Sanahin đối với kiến trúc trung cổ là gì?

Đó là việc phát minh và ứng dụng bậc thầy hệ thống vòm đá giao nhau vuông góc (intersecting stone arches) tại các đại sảnh Gavit, thư viện Matenadaran và nhà ăn Seghanatun thế kỷ 12 và 13. Nhờ hai cặp cung vòm đá lớn đan chéo nhau chịu lực cho toàn bộ mái trần, các kiến trúc sư Armenia đã tạo ra những không gian hội họp và học thuật rộng lớn mà không cần cột chống ở giữa, đồng thời giúp công trình chịu được các trận động đất lớn.

Vì sao tấm bia đá Amenaprkich Khachkar năm 1273 tại Tu viện Haghpat lại nổi tiếng khắp thế giới?

Được tạo tác vào năm 1273 dưới thời Thượng phụ Hovhannes, tấm bia Amenaprkich (Chúa Cứu Thế Tất Cả) là một trong số cực kỳ hiếm hoi các bia đá chữ thập Khachkar thời trung cổ khắc họa trọn vẹn cảnh Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên Thập Giá cùng Đức Mẹ, các Tông đồ và các thiên thần bằng nghệ thuật chạm nổi tinh xảo, đặc biệt mặt đá còn giữ được màu đỏ thẫm tự nhiên chiết xuất từ loài rệp son vordan karmir suốt hơn 750 năm.

Những danh nhân lịch sử và văn hóa lớn nào từng gắn bó với hai tu viện Haghpat và Sanahin?

Hai tu viện gắn liền với bốn tên tuổi vĩ đại của lịch sử Armenia: đại kiến trúc sư thế kỷ 10 Trdat (người thiết kế Nhà thờ Surb Nshan tại Haghpat và từng sửa vòm Hagia Sophia ở Constantinople); nhà bác học và triết gia thế kỷ 11 Grigor Magistros Pahlavuni (người giảng dạy tại Học viện Sanahin); danh tướng nguyên soái Ivane Zakarian (được an táng tại Sanahin năm 1227); và đại thi hào kiêm nhạc sĩ thế kỷ 18 Sayat-Nova (người đã sống và tu hành tại Haghpat suốt gần 30 năm từ 1768 tới 1795).

›Đọc Tiếp