Nằm dưới chân sườn phía bắc của ngọn núi tuyết Uludağ (núi Mysian Olympus cổ đại) tại vùng đông nam biển Marmara, thành phố Bursa từng là kinh đô chính thức đầu tiên của Đế quốc Ottoman từ năm 1326 cho tới khi chuyển đô sang Edirne và Istanbul. Giữa trung tâm khu phố chợ tơ lụa lịch sử của cố đô xanh mát ấy, Đại thánh đường Bursa (Bursa Ulu Camii) hiện lên như một pháo đài đá vôi vàng ấm áp với hai ngọn tháp giáo đường vươn cao ở hai góc phía bắc và một rừng hai mươi mái vòm tròn lợp chì xám nối tiếp nhau như những nhịp sóng trầm mặc của lịch sử Hồi giáo vùng Tiểu Á.
Được khởi công năm 1396 và hoàn thành năm 1399 dưới triều đại của Sultan Bayezid I (biệt danh Yıldırım, tức Tia Chớp), Đại thánh đường Bursa đánh dấu bước chuyển mình vĩ đại từ truyền thống kiến trúc nhiều cột của vương triều Seljuk vùng Anatolia sang ngôn ngữ không gian mái vòm rộng mở của vương triều Ottoman. Không chỉ nổi tiếng với đài phun nước Şadırvan mười sáu cạnh đặt ngay bên trong lòng đại sảnh cầu nguyện dưới một mái vòm giếng trời rực sáng và chiếc bục giảng Minbar bằng gỗ óc chó chạm khắc hình ảnh Hệ Mặt Trời cùng các thiên hà từ cuối thế kỷ 14, ngôi thánh đường này còn được tôn vinh là một bảo tàng thư pháp Hồi giáo sống động bậc nhất thế giới với 192 bức đại tự của các bậc thầy danh tiếng qua sáu thế kỷ. Năm 2014, UNESCO đã ghi danh Đại thánh đường Bursa là hạt nhân của Di sản Thế giới Bursa và Cumalıkızık: Sự ra đời của Đế quốc Ottoman (mã số 1452).

ILời Nguyện Hai Mươi Thánh Đường Của Sultan Bayezid I, Giếng Trời Nước Thanh Tẩy Và Vũ Trụ Thư Pháp Tôn Vinh Allah
Là ngôi đại giáo đường trung tâm (Cami-i Kebir hay Ulu Cami) của kinh đô đầu tiên Bursa, công trình được kiến tạo để dâng lời cầu nguyện lên Thượng Đế Duy Nhất (Allah) theo giáo luật Hồi giáo Sunni trường phái Hanafi. Trong truyền thống tâm linh của người Thổ Nhĩ Kỳ, Đại thánh đường Bursa thường được các học giả và giới tu hành Sufi tôn xưng là thánh địa có phẩm trật linh thiêng thứ năm của thế giới Hồi giáo (sau Masjid al-Haram ở Mecca, Masjid an-Nabawi ở Medina, Masjid al-Aqsa ở Jerusalem và Đại thánh đường Umayyad ở Damascus). Khi bước qua một trong ba cánh cổng lớn bằng đá cẩm thạch để vào đại sảnh rộng hơn ba nghìn mét vuông, người hành hương ngay lập tức cảm nhận được một bầu không khí tĩnh tại khác biệt hoàn toàn với những thánh đường một mái vòm thời kỳ sau: mười hai cột trụ đá vuông khổng lồ nâng đỡ hai mươi mái vòm tròn chia không gian thành những khoảng rừng cột trầm mặc, nơi tiếng nước chảy róc rách từ hồ nước trung tâm hòa quyện cùng lời thì thầm cầu nguyện.
Trung tâm tâm linh và thị giác của đại sảnh chính là mái vòm thứ hai tính từ trục Bắc xuống Nam, nơi phần đỉnh vòm được mở thông với bầu trời (nay có lợp kính chắn mưa tuyết) ngay phía trên đài phun nước thanh tẩy (Şadırvan) mười sáu cạnh. Ánh sáng tự nhiên từ giếng trời chiếu thẳng xuống mặt hồ nước trong vắt và phản chiếu lên các bức tường trắng chung quanh, biến nghi thức rửa tay chân thanh tẩy trước giờ lễ (wudu hay abdest) thành một trải nghiệm thiền định giữa lòng đền thờ.
Điểm làm nên linh hồn độc nhất vô nhị của Đại thánh đường Bursa chính là 192 tác phẩm thư pháp Hồi giáo (Hüsn-i Hat) bao gồm 87 bức chạm sơn trực tiếp lên bốn bức tường cùng mười hai cột trụ đá vuông và 105 tấm bảng gỗ sơn thếp vàng (levha) treo trang trọng khắp không gian. Toàn bộ 99 hồng danh tuyệt mỹ của Thượng Đế (Asma ul-Husna), các câu kinh trọng yếu trong kinh Qur'an, những lời dạy (Hadith) của Đấng Tiên tri Muhammad cùng danh hiệu của Bốn vị Khalip chính thống và các vị Imam đều hiện diện quanh người cầu nguyện theo nhiều thể chữ cổ điển như Thuluth (Sülüs), Jali Thuluth (Celi Sülüs), Kufic, Naskh, Ta'liq và chữ đối xứng gương (Müsenna).
Đặc biệt, trên bức tường phía tây của thánh đường có treo một báu vật vô giá của thế giới Hồi giáo: tấm vải phủ cửa đền thiêng Kaaba tại Mecca (Kiswah / Kâbe Örtüsü) có niên đại từ năm 1516 tới 1517. Khi Hoàng đế Ottoman Sultan Selim I (Yavuz) thống nhất vùng Trung Đông và tiếp nhận danh hiệu Người Bảo hộ Hai Thánh địa Mecca và Medina năm 1517, nhà vua đã cho thay tấm vải phủ mới tại Mecca và đích thân gửi tấm vải Kiswah thêu chỉ vàng và bạc nguyên bản từ Kaaba về dâng tặng cho Đại thánh đường Bursa tại cố đô của tổ tiên.
Theo các biên niên sử cổ của vương triều Ottoman (như bộ sử của Aşıkpaşazade và Neşri) cùng ghi chép của nhà du hành Evliya Çelebi, sự ra đời của hai mươi mái vòm tại Bursa Ulu Camii bắt nguồn từ lời thề nguyện lịch sử của Sultan Bayezid I trước trận đại chiến Nicopolis (trên bờ sông Danube năm 1396). Đứng trước liên quân Thập tự chinh hùng hậu của châu Âu, Sultan Bayezid I đã khấn nguyện rằng nếu Thượng Đế ban cho quân đội Ottoman chiến thắng, ông sẽ trích kho tàng chiến lợi phẩm để xây dựng hai mươi ngôi thánh đường dâng kính Allah.
Sau khi giành đại thắng tại Nicopolis và trở về kinh đô Bursa, người con rể đồng thời là cố vấn tâm linh tối cao của nhà vua là bậc thầy Emir Sultan (Şemseddin Mehmed Buhari, một hậu duệ của Tiên tri Muhammad từ Bukhara tới định cư tại Bursa) cùng các học giả tôn giáo đã khuyên Sultan Bayezid I rằng: thay vì xây hai mươi ngôi thánh đường nhỏ rải rác khắp nơi, nhà vua hãy xây dựng một ngôi đại thánh đường duy nhất có hai mươi mái vòm (yirmi kubbeli bir ulu cami) tại trung tâm Bursa để toàn thể dân chúng kinh đô có thể tụ hội cầu nguyện ngày Thứ Sáu dưới cùng một mái nhà. Sultan Bayezid I đã nghe theo lời khuyên chí lý ấy và giao cho kiến trúc sư Ali Neccar thiết kế công trình từ năm 1396 tới 1399.
Nhiều du khách khi thấy đài phun nước lớn Şadırvan nằm ngay chính giữa đại sảnh cầu nguyện dưới mái vòm mở thường cho rằng đây là thiết kế gốc ngay từ năm 1399, hoặc nghe kể giai thoại dân gian rằng mảnh đất giữa đền vốn thuộc về một phụ nữ không chịu bán đất nên sau khi thu hồi đất người ta không dám trải thảm cầu nguyện ở ô đó mà phải xây hồ nước. Tuy nhiên, các tài liệu lưu trữ địa chính và quỹ tôn giáo (Vakfiye) thời sơ kỳ Ottoman cho thấy khu vực giếng trời mở ở mái vòm thứ hai vốn được thiết kế từ đầu năm 1399 để lấy ánh sáng và thông gió cho đại sảnh rộng lớn (theo truyền thống sân trong sahn thu nhỏ của kiến trúc Seljuk), còn bồn nước mười sáu cạnh bằng đá cẩm thạch với ba tầng vòi phun nước hiện hữu được lắp đặt hoàn thiện vào thế kỷ 19 nhằm phục vụ nhu cầu thanh tẩy ngay trong nhà cho tín hữu giữa mùa đông lạnh giá dưới chân núi tuyết Uludağ.
IITừ Đại Thắng Nicopolis Năm 1396, Phép Lạ Bánh Mì Của Somuncu Baba Tới Cuộc Phục Hưng Thư Pháp Thế Kỷ 19
Lịch sử hơn sáu trăm năm của Đại thánh đường Bursa gắn liền với những bước ngoặt kịch tính nhất của Đế quốc Ottoman, từ hào quang chiến thắng cuối thế kỷ 14, bi kịch nội chiến đầu thế kỷ 15 cho tới trận đại địa chấn năm 1855 đã vô tình khai sinh ra diện mạo bảo tàng thư pháp lẫy lừng như ngày nay.
Sau ba năm thi công khẩn trương từ năm 1396 tới cuối năm 1399 (năm 802 lịch Hijri, ghi rõ trên tấm minh văn chạm khắc ngay đỉnh bục giảng gỗ Minbar), công trình được khánh thành trong một buổi đại lễ cầu nguyện Thứ Sáu đầu tiên đi vào huyền thoại tâm linh Thổ Nhĩ Kỳ. Khi Sultan Bayezid I thỉnh cầu con rể là thánh nhân Emir Sultan bước lên bục giảng thuyết pháp khai lễ, Emir Sultan đã khiêm tốn từ chối và tấu với nhà vua rằng trong thành Bursa lúc ấy có một bậc đại chân tu ẩn danh còn cao trọng hơn cả ông: đó chính là ông lão nướng bánh mì dạo Somuncu Baba (tức Şeyh Hamid-i Veli xứ Aksaray, sinh năm 1331 mất năm 1412), người hằng ngày vẫn đẩy xe bán những ổ bánh mì thơm lừng quanh công trường xây dựng thánh đường với tiếng rao giản dị Somunlar, müminler (Bánh mì đây, hỡi những người có đức tin).
- Năm 1396 tới năm 1399 (802 Hijri)Sultan Bayezid I khởi dựng và hoàn thành Đại thánh đường 20 mái vòmSau chiến thắng Nicopolis (25/9/1396), Sultan Bayezid I thực hiện lời nguyện bằng cách giao cho kiến trúc sư Ali Neccar xây dựng Đại thánh đường Bursa với 20 mái vòm, còn nghệ nhân Hacı Mehmed bin Abdülaziz el-Müstevfi xứ Antep hoàn tác bục giảng gỗ óc chó năm 1399.
- Mùa đông năm 1399 / 1400Bậc thầy Sufi ẩn danh Somuncu Baba thuyết giảng bài Khutbah khánh thànhTrong ngày lễ khánh thành, Şeyh Hamid-i Veli (Somuncu Baba) bước lên bục giảng Minbar thuyết giải chương mở đầu kinh Qur'an (Surah Al-Fatiha) theo bảy tầng nghĩa sâu thẳm khiến Sultan Bayezid I và các học giả rơi lệ; sau buổi lễ lộ danh tính ấy, Somuncu Baba âm thầm rời Bursa để giữ hạnh ẩn tu.
- Năm 1402 và năm 1413Biến cố quân đội Timur (Tamerlane) và cuộc vây thành của nhà KaramanidSau trận Ankara năm 1402, quân đội của Timur chiếm đóng Bursa và đốt phá mặt tiền phía bắc thánh đường; tới năm 1413, quân Karamanid chất củi bên ngoài tường đền đốt lửa làm bong tróc lớp đá mặt ngoài, buộc Sultan Mehmed I (Çelebi) phải cho đại trùng tu và trát vữa bảo vệ năm 1421.
- Năm 1517Sultan Selim I gửi tặng tấm vải phủ cửa đền thiêng Kaaba (Kiswah) về BursaSau khi chinh phục vùng Mamluk Ai Cập và tiếp nhận quyền bảo hộ Mecca, Sultan Selim I gửi tấm vải phủ cửa Kaaba nguyên bản (niên đại 1516) về treo trang trọng tại Đại thánh đường Bursa như biểu tượng kế thừa chính thống của triều đại.
- Ngày 28 tháng 2 và 11 tháng 4 năm 1855Trận đại địa chấn Bursa 1855 và cuộc phục hưng nghệ thuật thư phápTrận động đất kinh hoàng năm 1855 làm sập 18 trong tổng số 20 mái vòm của thánh đường (chỉ còn vòm phía bắc và vòm che bục giảng Minbar đứng vững). Sultan Abdülmecid I đã cử kiến trúc sư người Pháp Léon Parvillée tới khôi phục toàn bộ các mái vòm và điều động các đại danh bút hàng đầu từ Istanbul về viết 192 bức thư pháp lên tường và cột đá.
- Ngày 22 tháng 6 năm 2014UNESCO công nhận Di sản Thế giớiĐại thánh đường Bursa cùng khu phố chợ thương mại Hanlar và các quần thể lăng tẩm hoàng gia được UNESCO ghi danh là Di sản Thế giới (mã số 1452), tôn vinh cái nôi kiến trúc và tổ chức xã hội của Đế quốc Ottoman.
Cuộc hội tụ của các đại danh bút Ottoman sau trận động đất năm 1855. Sau khi mười tám mái vòm được xây dựng lại vững chắc dưới thời Sultan Abdülmecid I (trị vì 1839 tới 1861), triều đình Istanbul đã thực hiện một quyết định văn hóa vĩ đại: biến toàn bộ bề mặt tường và mười hai cột trụ khổng lồ bên trong Bursa Ulu Camii thành một triển lãm thư pháp vĩnh cửu. Hoàng đế đã đích thân viết tặng các bảng chữ của mình, đồng thời cử những bậc thầy thư pháp kiệt xuất nhất thế kỷ 19 như Kazasker Mustafa İzzet Efendi, Abdülfettah Efendi, Şefik Bey (Mehmed Şefik), Sami Efendi và Mahmud Celaleddin về Bursa làm việc suốt nhiều năm. Chỉ riêng danh bút Mehmed Şefik Bey đã lưu lại hơn bảy mươi tác phẩm đại tự trên tường và cột đá của thánh đường với những nét bút Celi Sülüs cao hàng mét, uyển chuyển và hùng hồn tới mức giới nghiên cứu mỹ thuật Hồi giáo coi Bursa Ulu Camii là đỉnh cao không thể vượt qua của nghệ thuật thư pháp trên tường kiến trúc (duvar yazıları).
IIIMặt Bằng Hai Mươi Mái Vòm Trên Mười Hai Trụ Đá, Bục Giảng Gỗ Óc Chó Khắc Hệ Mặt Trời Và Hai Tháp Giáo Đường Cổ
Về mặt lịch sử kiến trúc, Đại thánh đường Bursa là công trình lớn nhất và hoàn thiện nhất thuộc loại hình thánh đường nhiều mái vòm đồng đẳng (multi-unit / multi-domed mosque) của thời kỳ đầu Ottoman. Toàn bộ tòa nhà có mặt bằng hình chữ nhật đồ sộ với kích thước phủ bì khoảng 68 nhân 56 mét (tương đương diện tích 3.165 mét vuông, và khoảng 55 nhân 69 mét tùy cách đo cả phần chân tháp). Không gian nội thất được chia thành một lưới hình học chuẩn xác gồm năm gian ngang nhân bốn nhịp dọc (5 x 4 = 20 ô vuông) bằng mười hai cột trụ đá chữ thập - vuông khổng lồ xếp thành ba hàng. Trên mỗi ô vuông ấy là một mái vòm bán cầu đường kính khoảng 10,5 tới 11 mét tựa trên hệ vòm chuyển tiếp bát giác (belt of Turkish triangles), tạo nên hai mươi mái vòm có đường kính bằng nhau nhưng được nâng cao dần về phía trục trung tâm Bắc - Nam để dẫn ánh sáng và không khí lưu thông hoàn hảo.
Bên ngoài thánh đường là những bức tường đá vôi cắt gọt phẳng phiu dày tới hơn hai mét, được gia cố bằng các vòm cuốn mù hai tầng tạo nhịp điệu khỏe khoắn và mở ba cánh cổng lớn ở hướng Bắc (cổng chính nhìn ra công viên Orhan Gazi), hướng Đông và hướng Tây (nối thẳng vào khu chợ tơ lụa có mái che Koza Han và Kapalı Çarşı). Hai góc phía bắc của tòa nhà vươn lên hai ngọn tháp giáo đường (Minaret) bằng gạch trên đế đá cẩm thạch bát giác: ngọn tháp góc tây bắc do chính Sultan Bayezid I xây dựng cuối thế kỷ 14, còn ngọn tháp góc đông bắc đứng tách rời một khoảng nhỏ so với tường đền được Sultan Mehmed I (Çelebi) xây bổ sung vào đầu thế kỷ 15.
Mười hai cột trụ đá lớn trong lòng đền nâng đỡ hệ thống vòm cuốn nhọn chia đại sảnh thành 20 khoang vuông đồng đều, mỗi khoang lợp một mái vòm. Bốn mặt của cả 12 cột trụ đều được sơn phủ những bức đại tự thư pháp đen tuyền và thếp vàng lộng lẫy viết danh hiệu Allah, Tiên tri Muhammad và các câu kinh Qur'an ở tầm mắt người hành lễ.
Ngay tại khoang vòm thứ hai trên trục chính từ cổng Bắc đi vào, mái vòm được thiết kế mở thông lên bầu trời (hiện lợp lồng kính bát giác để lấy sáng). Ngay bên dưới giếng trời này là hồ nước đá cẩm thạch trắng 16 cạnh rộng lớn với tháp phun nước ba tầng và 33 vòi nước thanh tẩy xung quanh, nơi tín hữu ngồi rửa tay chân trong tiếng nước chảy êm dịu.
Đặt bên phải hốc Mihrab là bục giảng Minbar cao vút do nghệ nhân Hacı Mehmed bin Abdülaziz el-Müstevfi chế tác năm 1399 từ 6.666 mảnh gỗ óc chó cứng ghép mộng hình học (kỹ thuật Kündekâri) hoàn toàn không dùng một chiếc đinh hay giọt keo nào. Kỳ diệu nhất là trên mặt sườn phía đông của Minbar, các hoa văn gỗ nổi chạm khắc chính xác Mặt Trời ở trung tâm cùng các hành tinh quay quanh theo tỷ lệ khoảng cách tương ứng, còn mặt phía tây chạm khắc hệ thống các thiên hà xoắn ốc và sao chổi.
Hốc Mihrab ở chính giữa bức tường phía nam được trang trí bằng các dải nhũ đá muqarnas tám tầng sơn son thếp vàng rực rỡ và hai cây nến đồng cổ khổng lồ hai bên. Gần khu vực phía đông Mihrab là bức thư pháp chữ Vav (chữ cái thứ 27 trong bảng chữ cái Ả Rập, hình dáng như thai nhi trong bụng mẹ và người đang cúi đầu suy tôn Thượng Đế), nơi gắn liền với truyền thuyết cảm hứng tu hành của bậc thầy Sufi Ismail Hakkı Bursevi.
Treo trong khung kính bảo tồn bên bức tường phía tây gần cổng Tây là tấm vải phủ cửa đền Kaaba tại Mecca bằng lụa đen thêu chỉ vàng bạc rực rỡ có niên đại năm 1516 (được Sultan Selim I đưa từ Mecca về tặng Bursa năm 1517). Đây được giới bảo tàng học xác nhận là tấm Kiswah cửa Kaaba nguyên vẹn cổ xưa nhất hiện còn được lưu giữ trên thế giới.
Hai ngọn tháp giáo đường cao gần 60 mét có phần chân bát giác ốp đá cẩm thạch chạm trổ tinh xảo và phần thân trụ xây gạch đỏ lợp chóp chì. Ngay dưới chân đế ngọn tháp phía tây có một đài nước uống bằng đá cẩm thạch cổ kính được truyền tụng là do chính thánh nhân Somuncu Baba từng góp công tạo dựng cho thợ xây và khách bộ hành.
| Hạng mục kiến trúc và bảo vật | Thông số kỹ thuật và niên đại | Đặc điểm nghệ thuật và giá trị lịch sử |
|---|---|---|
| Quy mô mặt bằng đại sảnh | Rộng khoảng 68 m x 56 m (diện tích nội thất khoảng 3.165 m2) | Đại thánh đường nhiều mái vòm lớn nhất của lịch sử kiến trúc Ottoman |
| Hệ thống mái vòm và trụ đỡ | 20 mái vòm bán cầu đặt trên 12 trụ đá vuông (chia 5 gian x 4 nhịp) | Thực hiện trọn vẹn lời nguyện xây 20 thánh đường của Sultan Bayezid I năm 1396 |
| Bục giảng gỗ Minbar | Hoàn tác năm 1399 (802 H) từ 6.666 chi tiết gỗ óc chó ghép mộng Kündekâri | Do nghệ nhân Hacı Mehmed xứ Antep chế tác; hai bên sườn chạm khắc Hệ Mặt Trời và thiên hà |
| Bộ sưu tập thư pháp Hồi giáo | 192 tác phẩm (87 bức vẽ trên tường và cột, 105 bảng gỗ levha) của 41 danh bút | Quy tụ bút tích của Sultan Abdülmecid I, Kazasker Mustafa İzzet, Mehmed Şefik Bey, Sami Efendi |
| Đài phun nước nội thất (Şadırvan) | Hồ đá cẩm thạch 16 cạnh, tháp phun 3 tầng, 33 vòi nước dưới vòm giếng trời | Đón ánh sáng tự nhiên và điều hòa vi khí hậu, tạo âm thanh nước chảy tĩnh tâm trong lòng đền |
| Bảo vật vải phủ Kaaba (Kiswah) | Niên đại năm 1516, trao tặng năm 1517 bởi Sultan Selim I sau chiến dịch Ai Cập | Tấm vải phủ cửa đền thiêng Kaaba cổ xưa nhất còn tồn tại nguyên vẹn trên thế giới |
IVThế Đất Và Hướng
Cũng như mọi công trình thánh đường trong thế giới Hồi giáo, Đại thánh đường Bursa hoàn toàn không được xây dựng theo thuật phong thủy phương Đông. Trục định hướng duy nhất chi phối mặt bằng công trình là phương vị thiên văn Qibla hướng bức tường Mihrab về phía đền thiêng Kaaba tại Mecca, kết hợp với mô hình quy hoạch kinh đô sơ kỳ Ottoman: đặt đại giáo đường ngay tại giao điểm của các khu nhà trọ thương nhân (Han) và chợ tơ lụa trên thềm đất cao nhìn xuống thung lũng Bursa. Phần dưới đây là góc nhìn đối chiếu địa thế núi sông của cố đô Bursa theo phép xem hình thế cổ truyền của thư viện.
Xét trên đại cục địa hình vùng đông nam biển Marmara tại tọa độ 40,1839 độ vĩ bắc, 29,0617 độ kinh đông, cố đô Bursa sở hữu một thế đất tựa đại sơn, nghênh bình nguyên vô cùng hùng vĩ. Ngay phía nam và tây nam của thành phố cùng Đại thánh đường Bursa là khối núi Uludağ (ngọn núi Olympus vùng Mysia thời cổ đại, được các tu sĩ Byzantine gọi là Keşiş Dağı tức Núi Tu Sĩ) vươn lên sừng sững tới độ cao 2.543 mét, quanh năm tuyết phủ trắng xóa trên đỉnh và rừng thông xanh ngắt dưới sườn. Trong con mắt hình thế cổ truyền, dãy Uludağ chính là một bức tổ sơn và thiếu tổ sơn khổng lồ che chắn toàn bộ phía sau kinh đô, vừa cung cấp những mạch nước suối khoáng nóng và nước băng tan tinh khiết chảy xuống nuôi sống thành phố, vừa tụ khí xuống dải thềm đá vôi bằng phẳng ở độ cao khoảng 155 mét nơi đặt nền móng Đại thánh đường Bursa. Phía trước mặt thánh đường về hướng bắc là cánh đồng bằng trù phú Bursa Ovası trải rộng ra tới bờ vịnh Gemlik của biển Marmara, đóng vai trò một ngoại minh đường khoáng đạt thu nạp sinh khí giao thương từ cả đường bộ lẫn đường biển.
Xét về trục hướng và cấu trúc nội khí, Đại thánh đường Bursa được định vị dọc theo trục Bắc Tây Bắc - Nam Đông Nam, với cổng chính và sườn phố lớn nhìn ra hướng Bắc Tây Bắc, còn bức tường Mihrab ở phía sau xoay về hướng Nam Đông Nam (khoảng 150 độ, hướng thẳng về Mecca), tức đồng thời hướng thẳng vào lòng ngọn núi thiêng Uludağ. Đặc biệt, việc kiến trúc sư Ali Neccar mở giếng trời ở mái vòm thứ hai và đặt hồ nước Şadırvan ngay dưới luồng ánh sáng trời rọi xuống tạo nên một cấu trúc thiên tỉnh tụ thủy (giếng trời gom nước giữa trung cung) hiếm thấy trong kiến trúc tôn giáo: ánh dương quang từ trên cao giao hòa trực tiếp với mặt nước tĩnh lặng ở tâm sảnh, giúp luân chuyển không khí mát lành khắp hai mươi khoang vòm và giữ cho trường khí trong lòng đền luôn thanh khiết, an hòa.
VTruyền Thống Ngồi Quanh Đài Nước Şadırvan, Đêm Thiêng Tháng Ramadan Và Các Nghi Lễ Tâm Linh Tại Cố Đô Bursa
Suốt hơn sáu thế kỷ qua, Đại thánh đường Bursa không bao giờ ngưng tiếng kinh cầu và luôn giữ vị trí là trái tim tâm linh của tỉnh Bursa dưới sự quản lý của Văn phòng Đại Mufti Bursa (Bursa İl Müftülüğü). Các đại lễ tôn giáo tại đây được cử hành theo lịch âm Hồi giáo Hijri, hòa quyện sâu sắc với truyền thống tu tập tâm linh Sufi của dòng tu Mevlevi, Rifa'i và di sản của các vị thánh hộ quốc như Somuncu Baba và Emir Sultan.
| Thời gian | Hệ lịch | Tên lễ tiết và sự kiện | Nghi thức cử hành tại Đại thánh đường Bursa (Bursa Ulu Camii) |
|---|---|---|---|
| Năm thời cầu nguyện mỗi ngày và Trưa Thứ Sáu | Lịch Hồi giáo (Hijri) và Dương lịch | Nghi lễ cầu nguyện hằng ngày (Beş Vakit Namaz) và Đại lễ Thứ Sáu (Cuma Namazı) | Hàng nghìn tín hữu lấp đầy 20 khoang vòm dưới ánh đèn chùm và những bức đại tự thư pháp; trước giờ lễ, người dân ngồi quây quần quanh đài nước 16 cạnh Şadırvan dưới giếng trời để thực hiện nghi thức thanh tẩy trong tiếng nước chảy róc rách. |
| Trọn tháng 9 lịch Hijri (Tháng Ramadan) | Lịch Hồi giáo (Hijri) | Tháng chay Ramadan, Đọc kinh Mukabele và Treo đèn chữ Mahya | Giữa hai ngọn tháp giáo đường cổ ở phía bắc được giăng đèn chữ Mahya rực sáng; ban ngày diễn ra các buổi xướng đọc trọn bộ kinh Qur'an (Hatim / Mukabele) quanh các cột trụ thư pháp và ban đêm cử hành lễ cầu nguyện Teravih đông nghịt người. |
| Các đêm lễ thiêng Kandil và Đêm Kadir Gecesi (27 Ramadan) | Lịch Hồi giáo (Hijri) | Năm đêm lễ đèn thiêng Kandil (Mevlid, Regaip, Miraç, Berat, Kadir) | Trong các đêm lễ Kandil và đặc biệt là Đêm Định Mệnh Kadir Gecesi, các ban xướng ca tôn giáo Bursa tụng vang bản trường ca Mevlid-i Şerif (ca ngợi sự đản sinh của Tiên tri Muhammad do nhà thơ Süleyman Çelebi sáng tác tại chính Bursa năm 1409), ngoài cổng phát bánh mì và sữa nóng miễn phí. |
| Ngày 1 tháng Shawwal và Ngày 10 tháng Dhu al-Hijjah | Lịch Hồi giáo (Hijri) | Đại lễ Ramazan Bayramı (Eid al-Fitr) và Kurban Bayramı (Eid al-Adha) | Sáng sớm ngày đầu tiên của kỳ lễ Bayram, hàng vạn người dân Bursa tập trung từ trong đại sảnh tràn ra khắp công viên Orhan Gazi và phố chợ tơ lụa để cử hành lễ cầu nguyện Bayram và trao nhau lời chúc bình an. |
Bản trường ca Mevlid-i Şerif của Süleyman Çelebi và hành trình tâm linh quanh khu chợ tơ lụa Bursa. Một dấu ấn văn học tâm linh vĩ đại gắn liền trực tiếp với bục giảng của Đại thánh đường Bursa là sự ra đời của kiệt tác thơ Vesiletü'n-Necat (thường gọi là Mevlid-i Şerif, tức Bài ca Đản sinh của Đấng Tiên tri). Vào năm 1409, vị Imam chánh tế đầu tiên của Đại thánh đường Bursa là Süleyman Çelebi (1351 tới 1422), sau khi nghe một cuộc tranh luận thần học ngay trong lòng đền, đã cảm tác viết nên bản trường ca bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ cổ ngợi ca cuộc đời và ánh sáng của Tiên tri Muhammad; tác phẩm này suốt hơn sáu trăm năm qua vẫn được tụng hát trong mọi dịp sinh nở, cưới hỏi và tưởng niệm khắp đất nước Thổ Nhĩ Kỳ và vùng Balkan. Sau khi chiêm bái 192 bức thư pháp trong lòng đền, bước qua cánh cổng phía đông hoặc phía tây của thánh đường, du khách sẽ lạc ngay vào Koza Han (Thương điếm Kén Tơ xây năm 1491 dưới triều Sultan Bayezid II), nơi lữ khách có thể ngồi dưới bóng cây tiêu huyền cổ thụ nhâm nhi tách trà Thổ Nhĩ Kỳ bên những gian hàng lụa tơ tằm truyền thống đã nuôi dưỡng sự phồn vinh của cố đô Bursa suốt nhiều thế kỷ.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Nalbantoğlu Mahallesi, Ulucami Caddesi No:2, 16010 Osmangazi, tỉnh Bursa, Thổ Nhĩ Kỳ
- Đường tới
- Đại thánh đường Bursa nằm ngay trung tâm quận lịch sử Osmangazi của thành phố Bursa, trên đại lộ Atatürk Caddesi / Ulucami Caddesi. Từ thành phố Istanbul, cách đi thuận tiện và nhanh nhất là đi tàu cao tốc đường biển (phà BUDO khởi hành từ bến Eminönü/Sirkeci hoặc phà İDO khởi hành từ bến Yenikapı/Kadıköy) vượt biển Marmara tới cảng Mudanya của Bursa trong khoảng 1 giờ 45 phút, sau đó bắt xe buýt đô thị tuyến F3 hoặc tuyến 1/M chạy thẳng vào trung tâm dừng ngay trước Đại thánh đường Bursa (khoảng 35 phút). Nếu đi đường bộ từ Istanbul hoặc Ankara tới Bến xe khách trung tâm Bursa (Bursa Şehirlerarası Otobüs Terminali), quý vị bắt xe buýt tuyến 38 hoặc tàu điện ngầm BursaRay tới ga Şehreküstü hoặc Osmangazi rồi đi bộ 5 phút lên đồi chợ cổ là tới cổng thánh đường.
- Toạ độ
- 40.1839, 29.0617
Đại thánh đường Bursa mở cửa đón du khách miễn phí hằng ngày từ sáng sớm tới tối muộn, trừ khoảng 30 tới 45 phút trong các khung giờ cầu nguyện chính và buổi lễ trưa Thứ Sáu. Khi bước vào thánh đường, du khách bắt buộc phải cởi giày dép (có kệ gỗ và túi nilon đựng giày miễn phí ngay tại cả ba cổng Bắc, Đông, Tây để quý vị tự mang theo) và tuân thủ trang phục tôn nghiêm: cả nam và nữ đều phải mặc trang phục che kín vai và dài qua đầu gối, phụ nữ bắt buộc phải quàng khăn trùm kín tóc (có quầy phát khăn choàng mượn miễn phí ở cửa). Bên trong đại sảnh, quý vị được phép chụp ảnh không dùng đèn flash, đi bộ nhẹ nhàng trên thảm quanh đài phun nước Şadırvan để ngắm các bức đại tự thư pháp, tấm vải phủ Kaaba (Kiswah) ở tường Tây và hoa văn Hệ Mặt Trời trên sườn bục giảng gỗ Minbar (được bảo vệ sau lớp vách kính trong suốt), nhưng tuyệt đối không bước cắt ngang trước mặt những người đang quỳ lạy cầu nguyện.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đại thánh đường Bursa (Bursa Ulu Camii), Bursa
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao Đại thánh đường Bursa lại được xây dựng với 20 mái vòm nhỏ thay vì một mái vòm lớn duy nhất?
Theo sử biên niên Ottoman, trước trận đánh lớn tại Nicopolis năm 1396, Sultan Bayezid I đã thề nguyện sẽ xây dựng 20 ngôi thánh đường nếu giành chiến thắng. Sau khi thắng trận trở về kinh đô Bursa, nghe theo lời khuyên của con rể là thánh nhân Emir Sultan và các học giả tôn giáo, nhà vua đã thực hiện lời thề bằng cách xây dựng một ngôi đại thánh đường duy nhất có đúng 20 mái vòm tròn đặt trên 12 cột trụ đá vuông để toàn thể tín hữu kinh đô có thể tụ hội cầu nguyện cùng nhau.
Đài phun nước Şadırvan nằm ngay bên trong lòng Đại thánh đường Bursa có chức năng và đặc điểm gì?
Khác với hầu hết các thánh đường Hồi giáo đặt đài phun nước thanh tẩy ở sân ngoài trời, Đại thánh đường Bursa có đài phun nước Şadırvan bằng đá cẩm thạch 16 cạnh với tháp phun ba tầng và 33 vòi nước nằm ngay chính giữa đại sảnh cầu nguyện, bên dưới mái vòm thứ hai được mở làm giếng trời đón ánh sáng tự nhiên. Cấu trúc này vừa giúp tín hữu thực hiện nghi thức thanh tẩy (wudu) ấm áp trong mùa đông núi tuyết Uludağ, vừa tạo âm thanh nước chảy tĩnh tâm và làm mát không khí mùa hè.
Vì sao chiếc bục giảng kinh (Minbar) bằng gỗ năm 1399 của Đại thánh đường Bursa được xem là một kỳ quan khoa học và nghệ thuật?
Được chế tác năm 1399 bởi nghệ nhân Hacı Mehmed bin Abdülaziz xứ Antep, chiếc Minbar này ghép từ 6.666 mảnh gỗ óc chó theo kỹ thuật mộng hình học Kündekâri hoàn toàn không dùng đinh hay keo dán. Điểm gây kinh ngạc nhất là trên mặt sườn phía đông của Minbar, người nghệ nhân thế kỷ 14 đã chạm nổi hình ảnh Mặt Trời ở trung tâm cùng các hành tinh trong Hệ Mặt Trời theo đúng tỷ lệ kích thước và khoảng cách quỹ đạo tương đối, còn mặt phía tây chạm khắc các thiên hà xoắn ốc và sao chổi.
Bộ sưu tập 192 bức thư pháp và tấm vải phủ đền Kaaba bên trong Đại thánh đường Bursa có nguồn gốc từ đâu?
Sau trận động đất lớn năm 1855 làm sập 18 mái vòm, Sultan Abdülmecid I đã cho trùng tu toàn bộ thánh đường và triệu tập các bậc thầy thư pháp lỗi lạc nhất thế kỷ 19 (như Kazasker Mustafa İzzet Efendi, Mehmed Şefik Bey, Abdülfettah Efendi) về Bursa sáng tác 192 bức đại tự viết trên tường, trên 12 cột trụ đá và trên bảng gỗ. Ngoài ra, trên tường phía tây còn lưu giữ tấm vải phủ cửa đền thiêng Kaaba (Kiswah) năm 1516 do Sultan Selim I gửi tặng năm 1517, được xem là tấm vải cửa Kaaba cổ nhất thế giới còn nguyên vẹn.
Câu chuyện về vị thánh nướng bánh mì Somuncu Baba trong ngày khánh thành Đại thánh đường Bursa diễn ra như thế nào?
Trong suốt thời gian xây dựng thánh đường từ năm 1396 tới 1399, có một ông lão nướng bánh mì giản dị thường mang bánh mì nóng phát cho thợ xây và được người dân gọi là Somuncu Baba (Ông lão Bánh mì). Tới ngày lễ khánh thành năm 1399, thánh nhân Emir Sultan đã tiết lộ trước mặt Sultan Bayezid I rằng ông lão nướng bánh ấy chính là bậc đại chân tu ẩn danh Şeyh Hamid-i Veli và nhường quyền thuyết giảng khai lễ. Somuncu Baba đã bước lên bục giảng giải thích chương mở đầu kinh Qur'an (Al-Fatiha) theo bảy tầng nghĩa thâm sâu khiến cả đại sảnh chấn động, rồi âm thầm rời thành Bursa ngay sau đó để giữ hạnh khiêm cung.