Ở cực đông của Liên bang Micronesia, cách đảo Pohnpei khoảng năm trăm năm mươi cây số về phía đông nam, đảo núi lửa Kosrae vươn lên giữa làn nước xanh thẳm của Thái Bình Dương như một viên ngọc lục bảo phủ kín rừng mưa nhiệt đới. Nằm nép mình trong vịnh cảng phía đông bắc của đảo lớn là hòn đảo nhỏ Lelu (còn viết là Leluh). Khi người lữ khách bước vào những lối đi rợp bóng cây sa kê và dương xỉ ở trung tâm thị trấn Lelu ngày nay, hiện ra giữa khu dân cư yên tĩnh là những bức tường thành khổng lồ cao tới sáu mét được xếp hoàn toàn bằng những cột đá bazan đen sẫm có tiết diện năm cạnh, sáu cạnh đan chồng lên nhau mà không cần một giọt vữa, bao bọc quanh các con kênh dẫn nước biển và những kim tự tháp đá san hô cổ kính. Đó chính là Di chỉ thành cổ và khu thờ cúng Lelu (Lelu Ruins).
Nếu quần thể Nan Madol ngoài bờ đảo Pohnpei nổi tiếng là thành phố trên mặt nước đã vắng bóng người ở trước khi các nhà hàng hải phương Tây đặt chân tới, thì thành cổ Lelu trên đảo Kosrae lại là quần thể kinh đô cự thạch duy nhất ở vùng biển Thái Bình Dương còn đang vận hành trọn vẹn các nghi lễ hoàng gia và tế tự khi các đoàn thám hiểm châu Âu của Pháp và Nga đến thăm vào thập niên 1820. Được kiến tạo từ khoảng năm 1250 tới 1500 Công nguyên trên diện tích 27 héc-ta rạn san hô bồi đắp nhân tạo, nơi đây từng là trung tâm thờ cúng tổ tiên hoàng tộc, nơi cử hành lễ cải táng xương cốt của các vị quốc vương tối cao Tokosra tại khu kim tự tháp Insru và là nơi các tư tế dâng lễ cho nữ thần mùa màng Sinlaku. Xin nói rõ cùng bạn đọc: ngày nay Lelu là một công viên di tích khảo cổ lịch sử, không còn đền miếu cổ truyền nào đang hành lễ, nhưng vẫn được người dân Kosrae trân trọng bảo tồn như cội nguồn thiêng liêng của tổ tiên mình.

ITín Ngưỡng Thờ Cúng Tổ Tiên Hoàng Tộc Tokosra, Kim Tự Tháp Mộ Táng Và Nữ Thần Mùa Màng Sinlaku
Trong hệ thống vũ trụ quan và tín ngưỡng cổ truyền của người Kosrae trước khi đón nhận Kitô giáo vào giữa thế kỷ 19, toàn bộ hòn đảo được thống nhất dưới quyền cai trị thiêng liêng của một vị Quốc vương tối cao mang tước hiệu Tokosra. Vị Tokosra không chỉ là người đứng đầu mười tám tước vị quý tộc quản lý các vùng đất trên đảo lớn Kosrae, mà còn được tôn kính là gạch nối sống động giữa thế giới con người, anh linh các vị vua tổ tiên đã khuất và chư thần cai quản thiên nhiên. Toàn bộ thành cổ Lelu được quy hoạch như một không gian phân cấp thiêng liêng: khu vực trung tâm có tường đá bazan cao và dày nhất dành riêng cho nơi ở của vị Tokosra (khu Posral), các khu nhà tế lễ cộng đồng và đặc biệt là khu kim tự tháp mộ táng hoàng gia (Saru), nơi linh hồn các vị tiên đế ngự trị để bảo hộ cho vương quốc.
Song hành cùng việc phụng thờ anh linh các vị vua tổ tiên Tokosra, thành cổ Lelu còn là trung tâm hội tụ của các giáo đoàn tư tế (tomasr) phụng sự chư thần bản địa Kosrae. Đứng đầu trong tâm thức nông nghiệp và biển đảo của người Kosrae là nữ thần Sinlaku (vị nữ thần tối cao cai quản cây sa kê breadfruit, mùa màng, gió mùa, bão tố và sự chữa lành bệnh tật), bên cạnh thần sấm Nosrunsrap, thần Sikaus và các vị thần biển cả. Các ngôi nhà thờ tự trong thành Lelu là nơi các vị tư tế từ các đền gốc trên đảo lớn Kosrae (như đền thờ nữ thần Sinlaku tại vùng Menke) rước thần vị về Lelu để cử hành đại lễ cầu mùa và tấn phong nhà vua mới.
Nghi lễ cốt lõi nhất thể hiện triết lý thờ cúng tổ tiên tại thành cổ Lelu là nghi thức an táng kép (hai lần táng) dành cho Quốc vương Tokosra tại khu kim tự tháp đá san hô Insru, Inol và Lurun. Theo ghi chép dân tộc học và khảo cổ học của Cơ quan Công viên Quốc gia Hoa Kỳ (National Park Service), khi một vị Tokosra băng hà, thi hài của ngài được xức dầu dừa thơm, quấn chặt trong những tấm vải dệt tinh xảo từ sợi vỏ cây dâm bụt (tol) rồi đưa lên an táng trong hầm đá xây trên đỉnh kim tự tháp cụt cao khoảng 2,5 tới 3 mét. Suốt nhiều tháng ròng rã, một đoàn phụ nữ quý tộc dựng lều canh thức ngày đêm dưới chân kim tự tháp, dâng thức ăn và giữ lửa hương khói cho đến khi phần nhục thân phân hủy hết, chỉ còn lại bộ hài cốt trắng tinh khiết.
Khi ấy, nghi thức linh thiêng thứ hai mới được cử hành: các vị tư tế mở hầm mộ trên đỉnh kim tự tháp, nâng niu thu nhận bộ xương thiêng của nhà vua, rửa sạch, trang sức bằng những chuỗi vỏ ốc quý giá (tola) rồi đặt lên thuyền độc mộc rước dọc theo kênh đào Pensa tiến ra vịnh cảng Lelu. Tại một hố sâu tự nhiên giữa rạn san hô mang tên Yenasr (Hố thiêng Yenasr), bộ xương của vị tiên đế được thả chìm xuống đáy nước xanh thẳm để linh hồn ngài chính thức hóa thân thành thần hộ mệnh vĩnh cửu nơi thủy cung của tổ tiên. Bên cạnh đó, mọi sinh hoạt tâm linh hằng ngày của giới quý tộc tại Lelu đều xoay quanh nghi thức giã và uống nước rễ cây thiêng seka (tức kava, loài cây Piper methysticum, tương đương với nghi lễ uống sakau tại Pohnpei): trên những phiến đá bazan phẳng lớn (tok) đặt trong từng khuôn viên, rễ cây seka được giã nhuyễn hòa với nước để dâng kính tổ tiên trước khi nhà vua và các tù trưởng cùng uống trong sự tĩnh lặng tôn nghiêm.
Về niên đại hình thành, các cuộc khai quật khảo cổ học hiện đại (tiêu biểu là các đợt khảo cổ của Paul Hambruch năm 1910, Yawata Ichiro năm 1929, Ross Cordy năm 1979 tới 1981 và Athens năm 1995 bằng phương pháp định tuổi đồng vị phóng xạ carbon) xác định rằng công cuộc bồi đắp rạn san hô phía tây đảo Lelu bắt đầu từ khoảng năm 1250 Công nguyên, và các bức tường đại cự thạch bằng cột đá bazan cao sáu mét cùng khu kim tự tháp mộ táng hoàng gia được xây dựng rầm rộ nhất trong giai đoạn từ năm 1400 đến năm 1600 Công nguyên.
Khác với Nan Madol chỉ còn được biết đến qua truyền thuyết khi người phương Tây tới nơi, thành cổ Lelu có một bộ sử liệu chứng kiến tận mắt vô giá từ đầu thế kỷ 19. Vào tháng 6 năm 1824, đoàn thám hiểm khoa học Pháp trên tàu La Coquille do thuyền trưởng Louis Isidore Duperrey và dược sĩ René Primevère Lesson dẫn đầu, và tiếp đó vào tháng 12 năm 1827 là đoàn thám hiểm Nga trên tàu Senyavin của thuyền trưởng Friedrich Benjamin von Lütke (cùng nhà tự nhiên học Friedrich Heinrich von Kittlitz), đã lưu lại Lelu nhiều tuần lễ. Các bản vẽ minh họa và nhật ký của Duperrey, Lesson và Lütke đã mô tả sống động cảnh hàng nghìn cư dân đi lại trật tự giữa những bức tường đá bazan cao vút, các con thuyền trượt êm ả trên kênh đào Pensa và lòng tôn kính tuyệt đối của toàn dân mỗi khi quỳ rạp trước mặt vị quốc vương Tokosra trong cung thất.
Nhiều du khách khi nghe nói thành cổ Lelu và Nan Madol đều được xây bằng những cột đá bazan xếp chồng lên nhau thường lầm tưởng rằng hai di tích này giống hệt nhau. Thực tế có ba điểm khác biệt cốt lõi rất thú vị: thứ nhất, Nan Madol được xây trên các đảo san hô hoàn toàn tách biệt ngoài biển, trong khi Lelu là phần mở rộng nhân tạo nối liền trực tiếp vào chân một hòn đảo núi lửa tự nhiên có sẵn là đảo Lelu; thứ hai, khu lăng mộ Nandauwas ở Nan Madol là các buồng mộ hình hộp chữ nhật bao quanh bởi tường thành, trong khi mộ táng hoàng gia tại Lelu lại được đắp thành những kim tự tháp cụt bằng đá san hô và bazan (như Insru và Inol) phục vụ tục cải táng đưa hài cốt xuống hố biển Yenasr; thứ ba, một phần không gian của đảo Lelu vẫn tiếp tục có cư dân sinh sống liên tục từ thời cổ đại cho tới thị trấn Lelu hiện đại ngày nay.
IITừ Thời Hoàng Kim Của Vương Triều Tokosra Tới Công Viên Lịch Sử Quốc Gia Thế Kỷ 21
Lịch sử của thành cổ Lelu là đỉnh cao của nghệ thuật tổ chức xã hội và kỹ thuật xây dựng cự thạch vùng Đông Micronesia. Vào khoảng thế kỷ 13 và 14, các tù trưởng trên đảo Lelu đã thống nhất toàn bộ đảo lớn Kosrae dưới một vương quyền tập trung duy nhất. Để khẳng định uy quyền tối thượng và bảo đảm an ninh, các vị vua Tokosra đã yêu cầu tất cả các đại quý tộc nắm giữ đất đai trên đảo lớn (gọi là các lemful) phải chuyển về cư trú tập trung trong các khuôn viên tường đá tại kinh đô Lelu, trong khi người dân thường ở các làng trên đảo lớn hàng ngày chèo thuyền chở nông sản, quả sa kê, khoai môn, cá biển và rễ cây seka qua vịnh về cống nạp cho kinh thành.
Bước sang nửa sau thế kỷ 19, sau khi các tàu săn cá voi phương Tây ghé vào vịnh Lelu làm lây lan các dịch bệnh mới khiến dân số Kosrae sụt giảm nghiêm trọng (từ khoảng vài nghìn người năm 1824 xuống chỉ còn khoảng 300 người vào thập niên 1870), và sau khi Mục sư Benjamin G. Snow (cùng đoàn truyền giáo ABCFM xuất phát năm 1852 với Nhà thờ Tin Lành Thống nhất tại Kolonia, Pohnpei) đến mở điểm truyền giáo trên đảo Lelu năm 1852, vị vua Tokosra cuối cùng theo chế độ cũ và toàn thể người dân Kosrae đã đón nhận đức tin Kitô giáo. Các nghi lễ tế thần và cải táng tại kim tự tháp Insru dần khép lại, nhưng những bức tường đá bazan cổ kính vẫn được cộng đồng gìn giữ như di sản thiêng liêng của tiền nhân.
- Khoảng 1250 tới 1400 CNKhởi đầu công cuộc bồi đắp rạn san hô phía tây đảo Lelu và lập kinh đôCư dân cổ đại Kosrae bắt đầu đắp nền san hô nhân tạo mở rộng về phía tây ngọn đồi núi lửa đảo Lelu, hình thành những khu nhà ở, kênh nước và khuôn viên nghi lễ đầu tiên.
- Khoảng 1400 tới 1650 CNThời kỳ cực thịnh xây dựng các bức tường cột đá bazan và kim tự tháp mộ tángDưới sự thống nhất toàn đảo của các vị vua tối cao Tokosra, hàng vạn cột đá bazan lăng trụ nặng hàng tấn được vận chuyển bằng bè về dựng nên khu cung thất Posral, kênh đào Pensa và bốn kim tự tháp mộ táng Insru, Inol, Lurun, Insrall.
- Năm 1824 và 1827 tới 1828Đoàn thám hiểm Pháp của Duperrey và đoàn Nga của Lütke ghi chép kinh đô Lelu đang sốngThuyền trưởng Pháp Louis Isidore Duperrey (1824) và thuyền trưởng Nga Friedrich von Lütke (1827) đến thăm Lelu, vẽ bản đồ và ghi lại cảnh sinh hoạt cung đình, nghi lễ uống seka và hệ thống kênh đào đang hoạt động.
- Năm 1852 tới cuối thế kỷ 19Mục sư Benjamin G. Snow truyền bá đạo Tin Lành và sự chuyển dịch sang thời kỳ mớiMục sư Benjamin G. Snow thuộc phái bộ ABCFM đặt chân lên đảo Lelu năm 1852; trong các thập niên sau đó, hoàng gia và cư dân Kosrae chuyển sang theo đạo Tin Lành Tự trị, khép lại các nghi thức mộ táng cổ.
- Năm 1910 và 1929Các cuộc khảo sát khoa học đầu tiên của Paul Hambruch (Đức) và Yawata Ichiro (Nhật Bản)Nhà dân tộc học người Đức Paul Hambruch (trong đoàn thám hiểm Nam Hải năm 1910) lập bản đồ chi tiết từng khuôn viên của thành cổ Lelu và khai quật khảo sát khu kim tự tháp Insru.
- 16/05/1983 tới nayGhi danh Di tích Lịch sử Quốc gia (NRHP) và bảo tồn Công viên Lịch sử LeluSau đợt khảo cổ chuyên sâu của Ross Cordy (1979 tới 1981), ngày 16 tháng 5 năm 1983, Di chỉ Lelu được ghi danh vào Sổ bộ Di tích Lịch sử Quốc gia Hoa Kỳ (mã số 83004524) và được Văn phòng Bảo tồn Lịch sử Kosrae chăm sóc.
Những cổ vật quý bằng vỏ ốc trong lòng kim tự tháp Insru và Inol. Khi nhà khảo cổ học người Đức Paul Hambruch năm 1910 và nhà khảo cổ học người Nhật Yawata Ichiro năm 1929 tiến hành khảo sát các hầm mộ đá trên đỉnh kim tự tháp Insru và Inol với sự cho phép của các bô lão Kosrae, họ đã tìm thấy những di vật chứng thực hoàn toàn lời kể truyền khẩu về nghi lễ an táng các vị vua Tokosra: bên trong các hộc mộ xây bằng cột đá bazan ở trung tâm kim tự tháp san hô vẫn còn lưu lại một số mảnh xương sọ và xương chi của hoàng gia chưa kịp rước ra hố biển Yenasr, nằm cạnh những chiếc lưỡi rìu nghi lễ mài từ vỏ trai khổng lồ (Tridacna gigas), những chiếc vòng tay cắt từ vỏ ốc nón (Conus), hạt chuỗi vỏ sò đỏ (Spondylus) và chày đá bazan giã seka tinh xảo bậc nhất Thái Bình Dương.
IIIKỹ Thuật Xếp Cột Đá Bazan Lăng Trụ (Stack-Log Basalt Walls), Kênh Đào Pensa Và Bốn Kim Tự Tháp Mộ Táng
Về mặt quy hoạch đô thị và kiến trúc cự thạch, thành cổ Lelu là một kỳ công kỹ thuật đáng kinh ngạc của cư dân cổ đại đảo Kosrae. Trên tổng diện tích khoảng 27 héc-ta (67 mẫu Anh) vươn ra mặt đầm phá phía tây của đảo Lelu, các kiến trúc sư cổ đại đã phân chia thành phố thành hơn 100 khuôn viên hình chữ nhật (gọi là lohm hay infal) nối kết với nhau bằng một mạng lưới đường đi lát đá san hô phẳng phiu và hệ thống kênh đào nước mặn nhân tạo rộng từ 5 tới 8 mét. Mỗi khuôn viên đại quý tộc có diện tích trung bình từ 1.000 đến hơn 3.000 mét vuông, được bao bọc bởi những bức tường đá khổng lồ dày tới 3 mét và cao từ 3 đến 6 mét (tương đương tòa nhà hai tầng).
Vật liệu tạo nên vẻ uy nghiêm kỳ bí của những bức tường cao nhất tại khu trung tâm (như khu Kinyeir Fulat, Bat, Lurun và Posral) là những cột đá bazan hình lăng trụ tự nhiên (prismatic columnar basalt) có 5 hoặc 6 cạnh đều đặn, hình thành từ quá trình nguội lạnh của dòng dung nham núi lửa cổ đại tại các mỏ đá như Tonpak trên đảo lớn Kosrae. Những thanh đá bazan dài từ 2 tới 4 mét, nặng hàng tấn được chở bằng bè tre qua vịnh, sau đó được các thợ đá xếp theo kỹ thuật ngang dọc đan cài như xếp củi (header-and-stretcher cribwork): một lớp thanh đá đặt nằm dọc theo mặt tường lại xen một lớp thanh đá cắm đầu vuông góc vào lòng tường, còn ở các góc tường thì hơi vếch cong nhẹ lên cao, tạo nên kết cấu khóa lực tự thân vững chắc suốt hơn sáu trăm năm không cần vữa kết dính.
Nằm ở trung tâm thành cổ là những bức tường cột đá bazan đồ sộ và nguyên vẹn nhất cao tới 6 mét của khu Kinyeir Fulat, Penem và Posral, nơi xưa kia là cung điện của Quốc vương Tokosra và các đại quý tộc đứng đầu.
Nằm trong các khuôn viên thiêng liêng biệt lập ở trung tâm Lelu là các kim tự tháp hình chóp cụt đáy vuông (Saru) cao khoảng 2,5 tới 3 mét, cạnh đáy dài tới 18 mét, đắp bằng đá san hô kè đá bazan, trên đỉnh có hầm mộ đá nơi quàn thi hài các vị vua Tokosra.
Con kênh chính Pensa cùng các nhánh kênh phụ được kè tường đá san hô và bazan hai bên bờ, dẫn nước biển theo nhịp thủy triều chảy xuyên qua lòng kinh thành để thuyền độc mộc hoàng gia cập thẳng vào cổng các khu dinh thự và khu lăng mộ.
Rải rác trên nền sàn san hô của các khuôn viên quý tộc và khu tư tế ở phía nam và phía tây vẫn còn bảo tồn hàng chục phiến đá bazan phẳng có vết lõm tròn nhẵn bóng (tok), nơi người xưa dùng chày đá giã rễ cây thiêng seka trong các nghi lễ.
Toàn bộ thành cổ tựa lưng vào ngọn đồi núi lửa tự nhiên Finol Poro cao 109 mét ở phía đông đảo Lelu và hướng ra vịnh cảng, nơi có hố nước sâu Yenasr giữa rạn san hô là điểm hạ thủy vĩnh hằng cho hài cốt của các vị tiên đế.
| Hạng mục | Thông số khảo cổ và kiến trúc | Nguồn kiểm chứng |
|---|---|---|
| Niên đại khởi dựng và phát triển | Khởi công khoảng năm 1250 CN; cao trào xây dựng cự thạch năm 1400 tới 1600 CN; hoạt động tới thập niên 1850 | Khảo cổ học Ross Cordy (1981, 1993) và Cơ quan Công viên Quốc gia Hoa Kỳ (NPS) |
| Tổng diện tích và số phân khu | Khoảng 27 héc-ta (67 mẫu Anh) đất san hô bồi đắp nhân tạo với hơn 100 khuôn viên tường đá | Hồ sơ Sổ bộ Di tích Lịch sử Quốc gia Hoa Kỳ (NRHP mã số 83004524) |
| Chiều cao tường và vật liệu | Tường cột đá bazan lăng trụ (columnar basalt) và khối đá san hô cao từ 3 tới 6 mét (20 feet) | Paul Hambruch (1910), Viện Bảo tồn Lịch sử Bang Kosrae và NPS |
| Hạng mục tâm linh trung tâm | Bốn khu kim tự tháp mộ táng hình chóp cụt (Insru, Inol, Lurun, Insrall) và các khuôn viên tư tế | Khảo cổ học Yawata Ichiro (1929), Ross Cordy và Wikidata Q1816748 |
| Xếp hạng bảo tồn di sản | Di tích Lịch sử Quốc gia (U.S. National Register of Historic Places, ghi danh ngày 16/05/1983) | Bộ Nội vụ Hoa Kỳ (National Park Service) và Chính quyền Bang Kosrae |
IVThế Đất Và Hướng
Người Kosrae cổ đại không sử dụng thuật phong thủy Trung Hoa hay Việt Nam; họ quy hoạch kinh đô Lelu theo vũ trụ quan phân cấp biển đảo của riêng mình: lấy ngọn đồi núi lửa phía đông làm đầu, mở rộng nền đá san hô về phía tây hướng vào mặt vịnh êm ả và đặt khu cung điện nhà vua cùng các kim tự tháp tổ tiên ở chính tâm được bảo vệ bởi nhiều vòng tường đá cao. Phần dưới đây đọc lại thế đất của thành cổ Lelu theo phép xem hình thế sơn thủy cổ truyền của thư viện để bạn đọc có góc nhìn đối chiếu.
Xét về thế núi tựa lưng và cục diện vịnh cảng bao bọc tại tọa độ 5,3319 độ vĩ bắc, 163,0253 độ kinh đông, đảo Lelu nằm gọn trong lòng vịnh cảng Lelu (Lelu Harbor) ở bờ đông bắc đảo lớn Kosrae. Trong phép xem hình thế sơn thủy, toàn bộ thành cổ Lelu được kiến tạo theo thế tọa Đông hướng Tây, y sơn bàng thủy (lưng tựa núi cao, mặt hướng về vùng nước tụ): phía đông của khu thành cổ là ngọn đồi núi lửa tự nhiên Finol Poro cao 109 mét đứng chắn ngay đầu gió mậu dịch Đông Bắc và sóng lớn ngoài khơi Thái Bình Dương như một bức Huyền Vũ Hậu Chẩm vững chãi; từ chân đồi phía đông ấy, nền đất san hô nhân tạo rộng 27 héc-ta vươn dần ra phía Tây tiến vào vùng nước lặng như gương của vịnh Lelu.
Xét về tầm nhìn Minh Đường và hình tượng Núi Người Đẹp Ngủ, khi đứng từ bờ tây của thành cổ Lelu nhìn qua mặt nước vịnh cảng Lelu (đóng vai trò Nội Minh Đường tụ thủy) về phía đảo lớn Kosrae ở hướng Tây và Tây Nam, toàn bộ dãy núi trung tâm của đảo Kosrae với đỉnh Mount Finkol (cao 634 mét) và đỉnh Mount Mutunte hiện lên trên nền trời với đường nét uyển chuyển giống hệt hình dáng một người phụ nữ đang nằm ngửa nhìn lên bầu trời mà người dân bản địa từ ngàn xưa gọi là Núi Người Đẹp Ngủ (The Sleeping Lady). Trong con mắt phong thủy truyền thống, dãy núi hình người mẹ nằm yên bình bên kia vịnh chính là bức Triều Sơn và Án Sơn hữu tình tuyệt đẹp chầu về kinh thành, trong khi hệ thống kênh đào Pensa dẫn nước thủy triều ra vào giữa các bức tường đá bazan chính là mạch khí thủy lưu thông nuôi dưỡng sinh khí cho toàn bộ cố đô.
VKý Ức Đại Lễ Rước Nữ Thần Sinlaku, Nghi Thức Cải Táng Vua Tokosra Và Ngày Văn Hóa Di Sản Kosrae
Vì thành cổ Lelu ngày nay là một di tích khảo cổ lịch sử và cư dân đảo Kosrae từ nửa sau thế kỷ 19 đã chuyển sang theo đạo Tin Lành Tự trị với lòng sùng đạo sâu sắc, các nghi lễ tế tự cổ truyền tại Lelu không còn được thực hành như một tôn giáo đang hoạt động, mà được ghi chép trang trọng trong sử liệu dân tộc học và được tái hiện qua các hoạt động giáo dục bảo tồn di sản văn hóa của bang Kosrae. Bảng dưới đây tổng hợp các đại lễ cổ truyền từng diễn ra tại Lelu theo ghi chép lịch sử cùng các ngày lễ văn hóa đương đại.
| Thời gian / Chu kỳ | Hệ lịch | Tên nghi lễ / Sự kiện | Nội dung nghi thức lịch sử và hoạt động bảo tồn tại Lelu |
|---|---|---|---|
| Chu kỳ mùa quả sa kê chín (Thời kỳ cổ đại tới thế kỷ 19) | Lịch nông nghiệp và nghi lễ cổ Kosrae | Đại lễ Rước Nữ thần Sinlaku và Cầu mùa Quả Sa kê (Breadfruit Ritual Procession) | Theo sử liệu dân tộc học, các tư tế (tomasr) của nữ thần Sinlaku từ đền thờ gốc ở đảo lớn Kosrae cử hành đoàn rước nghi lễ tiến về kinh đô Lelu để cầu mưa thuận gió hòa và dâng phẩm vật đầu mùa lên Quốc vương Tokosra. |
| Khi Quốc vương băng hà và sau kỳ canh thức (Thời cổ đại tới giữa thế kỷ 19) | Nghi lễ Hoàng gia Vương triều Tokosra | Đại lễ An táng trên Kim tự tháp Insru và Lễ Thủy táng Hài cốt tại Hố Yenasr | Quàn thi hài nhà vua bọc vải tol trong hầm đá trên đỉnh kim tự tháp cụt có các phụ nữ quý tộc canh thức; sau khi phân hủy hoàn toàn thì rước bộ xương thiêng bằng thuyền qua kênh Pensa ra thả xuống hố san hô Yenasr. |
| Hằng ngày vào chiều tối (Thời kỳ Vương triều Lelu) | Nếp sinh hoạt nghi lễ quý tộc cổ | Nghi thức Giã và Dâng Rễ cây Thiêng Seka (Kava Ceremony) | Trong các nhà hội và khuôn viên tường đá bazan, rễ cây seka được giã trên các bàn đá phẳng (tok) theo nhịp điệu quy định để dâng cúng tổ tiên và chư thần trước khi nhà vua và các tù trưởng thọ lộc. |
| Ngày 8 tháng 9 hằng năm | Dương lịch (Lịch Lễ hội Bang Kosrae hiện đại) | Ngày Giải phóng Kosrae (Kosrae Liberation Day) và Tuần lễ Di sản Văn hóa | Tổ chức các hoạt động văn hóa truyền thống, đua thuyền độc mộc trên vịnh Lelu, trình diễn đan lát và hướng dẫn thế hệ trẻ tìm hiểu lịch sử xây dựng thành cổ Lelu. |
| Ngày 11 tháng 1 hằng năm | Dương lịch (Lịch Quốc gia và Bang Kosrae) | Ngày Hiến pháp Bang Kosrae (Kosrae Constitution Day) | Các hoạt động kỷ niệm bản sắc văn hóa và lịch sử hình thành đảo Kosrae từ thời đại kinh đô Lelu tới thời kỳ hiện đại trong Liên bang Micronesia. |
Sự tĩnh lặng trang nghiêm của ngày Chủ nhật trên đảo Lelu. Có một nét văn hóa đặc biệt mà mọi du khách khi đến thăm Di chỉ thành cổ Lelu ngày nay đều cảm nhận rất rõ: đảo Kosrae là một trong những nơi giữ luật nghỉ ngơi ngày Chủ nhật (Sabbath) nghiêm cẩn nhất thế giới kể từ khi người dân đón nhận đạo Tin Lành vào năm 1852. Vào mỗi ngày Chủ nhật, mọi hoạt động buôn bán, đánh cá hay du lịch ồn ào trên đảo đều tạm dừng để toàn dân mặc trang phục trắng đi nhà thờ và hát thánh ca bốn bè. Đi dạo một mình trong sự tĩnh lặng tuyệt đối giữa những bức tường cột đá bazan rêu phong cao sáu mét của khu Kinyeir Fulat và đứng bên kim tự tháp cổ Insru lắng nghe tiếng nước thủy triều vỗ nhẹ vào bờ kênh đào Pensa, người lữ khách sẽ cảm nhận được sự tiếp nối kỳ diệu giữa lòng thành kính đối với tổ tiên ngàn xưa và đức tin hiền hòa của người dân Kosrae hôm nay.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đảo Lelu trong vịnh cảng Lelu (ngoài bờ đông bắc đảo lớn Kosrae), thị trấn Lelu, bang Kosrae, Liên bang Micronesia
- Đường tới
- Di chỉ thành cổ Lelu nằm trên đảo Lelu, nối liền với đảo lớn Kosrae bằng một con đê đường bộ (Lelu Causeway) dài khoảng 1 cây số băng qua rạn san hô vịnh Lelu. Từ Sân bay Quốc tế Kosrae (Kosrae International Airport, mã IATA: KSA, nằm ở phía tây bắc đảo lớn), quý vị đi xe taxi hoặc ô tô thuê theo tuyến đường nhựa ven biển vòng qua trung tâm hành chính Tofol rồi băng qua đê biển sang đảo Lelu mất khoảng 20 tới 25 phút (khoảng 14 cây số). Lối vào khu di tích nằm ngay phía sau khu nhà thờ và trường học trung tâm thị trấn Lelu.
- Toạ độ
- 5.3319, 163.0253
Di chỉ thành cổ Lelu nằm ngay ở khu vực trung tâm thị trấn trên đảo Lelu và mở cửa đón khách tham quan hằng ngày. Khi đi bộ khám phá dọc theo các con kênh đào cổ và các khuôn viên tường đá bazan cũng như khu kim tự tháp mộ táng Insru, quý vị vui lòng tuyệt đối không leo trèo lên các bức tường cột đá bazan hay đỉnh các kim tự tháp san hô để tránh làm xô lệch kết cấu đá cổ không dùng vữa và thể hiện sự tôn trọng đối với di tích mộ táng của tổ tiên người Kosrae. Vì lối đi trong di tích có nhiều đoạn đá san hô ẩm ướt và rêu phong dưới tán rừng nhiệt đới, quý vị nên đi giày thể thao chống trượt, mang theo kem chống muỗi và nên ghé thăm Bảo tàng Bang Kosrae (Kosrae State Museum) ở Tofol trước hoặc sau chuyến thăm để xem các hiện vật vỏ ốc và chày đá seka khai quật từ Lelu.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Di chỉ thành cổ và khu thờ cúng Lelu
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Di chỉ thành cổ và khu thờ cúng Lelu được xây dựng vào thời kỳ nào và phục vụ mục đích gì?
Thành cổ Lelu được khởi dựng trên nền rạn san hô bồi đắp nhân tạo ở phía tây đảo Lelu từ khoảng năm 1250 Công nguyên và phát triển rực rỡ nhất từ năm 1400 đến 1600 Công nguyên. Đây từng là kinh đô hoàng gia, trung tâm hành chính và thánh địa thờ cúng tổ tiên của các vị Quốc vương tối cao (Tokosra) cùng giới đại quý tộc và tư tế thống trị toàn bộ đảo Kosrae.
Di chỉ thành cổ Lelu trên đảo Kosrae có gì giống và khác so với di tích Nan Madol trên đảo Pohnpei?
Cả Lelu và Nan Madol đều là những kiệt tác kiến trúc cự thạch vùng Đông Micronesia sử dụng những cột đá bazan lăng trụ xếp chồng ngang dọc (cribwork) cao tới 6 mét và có hệ thống kênh đào dẫn nước biển. Tuy nhiên, Lelu khác Nan Madol ở ba điểm chính: Lelu được đắp nối liền trực tiếp vào một hòn đảo núi lửa tự nhiên (đảo Lelu); khu mộ táng hoàng gia tại Lelu có hình dáng những kim tự tháp cụt (như Insru, Inol); và đặc biệt Lelu vẫn còn đang có vua quan sinh sống, hành lễ khi các nhà thám hiểm châu Âu đến thăm năm 1824 và 1827.
Nghi thức an táng kép tại các kim tự tháp đá Insru, Inol và hố san hô Yenasr diễn ra như thế nào?
Khi một vị Quốc vương Tokosra băng hà, thi hài ngài được xức dầu thơm, quấn vải sợi dâm bụt (tol) và đặt vào hầm mộ trên đỉnh kim tự tháp cụt bằng đá san hô và bazan với đoàn phụ nữ quý tộc canh thức suốt nhiều tháng. Sau khi phần thịt phân hủy hết, các tư tế mở mộ lấy bộ xương thiêng của nhà vua, trang sức bằng vỏ ốc quý rồi dùng thuyền rước theo kênh Pensa ra thả chìm xuống hố nước sâu tự nhiên Yenasr ngoài vịnh Lelu.
Nữ thần Sinlaku và nghi thức giã rễ cây seka tại thành cổ Lelu có ý nghĩa gì?
Nữ thần Sinlaku là vị thần tối cao trong tín ngưỡng cổ của người Kosrae, cai quản cây sa kê (breadfruit), mùa màng và bão biển, có các đoàn tư tế rước lễ về Lelu hằng năm. Trong khi đó, seka (cây kava) là thức uống thiêng được giã trên những phiến đá bazan phẳng (tok) trong từng khuôn viên của Lelu để dâng cúng tổ tiên và chư thần trước khi nhà vua và các tù trưởng cùng uống.
Những nhà thám hiểm phương Tây nào đã tận mắt chứng kiến kinh đô Lelu khi nơi này còn đang hoạt động?
Vào tháng 6 năm 1824, đoàn thám hiểm Pháp trên tàu La Coquille của thuyền trưởng Louis Isidore Duperrey và năm 1827 là đoàn thám hiểm Nga trên tàu Senyavin của thuyền trưởng Friedrich Benjamin von Lütke đã đến thăm Lelu, để lại những bức tranh vẽ và nhật ký quý giá mô tả cảnh cung đình Tokosra, các bức tường đá bazan và kênh đào Pensa khi vẫn đang hoạt động sống động.
Du khách làm thế nào để đi từ Sân bay Quốc tế Kosrae tới tham quan Di chỉ thành cổ Lelu?
Từ Sân bay Quốc tế Kosrae (KSA), du khách chỉ mất khoảng 20 tới 25 phút đi xe ô tô (14 km) dọc theo đường ven biển phía đông qua trung tâm Tofol, sau đó đi qua con đê biển Lelu Causeway là vào tới thẳng đảo Lelu, nơi các bức tường đá bazan và kim tự tháp cổ nằm ngay giữa lòng thị trấn.