Nằm ở vùng chuyển tiếp dịu mát giữa thung lũng miền trung Myanmar và cao nguyên phía tây bang Shan, thị trấn nhỏ Pindaya thuộc Khu tự trị của người Danu từ lâu đã được biết đến với những đồi chè xanh mướt, những cánh đồng hoa cải vàng rực sau mùa mưa và những rặng đa cổ thụ có tuổi đời hàng thế kỷ vươn tán rộng che rợp cả một góc sườn đồi. Nhìn từ bờ hồ Pone Taloke phẳng lặng dưới chân phố chợ lên sườn dãy núi đá vôi Myelat sừng sững ở phía tây, lữ khách dễ dàng nhận ra dãy hành lang bậc thang có mái che truyền thống Miến Điện vắt chéo qua vách đá dựng đứng, dẫn thẳng lên vòm cửa hang ở độ cao hơn một nghìn bốn trăm mét so với mực nước biển.
Bước qua ngưỡng cửa đá tự nhiên ấy, một khung cảnh thánh thiêng mở ra trước mắt người hành hương: ngay sau bóng dáng uy nghi của bảo tháp Shwe U Min (nghĩa là Động Vàng trong tiếng Miến) cao mười lăm mét, lòng núi đá vôi sâu một trăm năm mươi mét đã được nhiều thế hệ cư dân bản địa biến thành một đại bảo điện ngầm dưới lòng đất. Hơn tám nghìn pho tượng Phật lớn nhỏ thếp vàng rực rỡ hoặc chạm khắc từ đá cẩm thạch trắng tinh khiết được đặt kín trên các bệ đá, nép mình trong từng hốc thạch nhũ tự nhiên và xếp chồng tầng tầng lớp lớp lên tận vòm trần cao vút. Cùng với Chùa Phaung Daw Oo trên hồ Inle cách đó khoảng sáu mươi kilômét về phía đông nam, Quần thể hang động Phật giáo Pindaya là một trong hai trung tâm hành hương Phật giáo Nam tông lâu đời và tiêu biểu bậc cao của vùng cao nguyên bang Shan.

IĐức Phật Thích Ca Mâu Ni, Tám Nghìn Tôn Tượng Qua Các Triều Đại Và Huyền Tích Hoàng Tử Bắn Nhện
Toàn bộ không gian thờ tự trong lòng hang động Pindaya dành trọn để tôn vinh Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Gautama Buddha) thông qua truyền thống hiến cúng tôn tượng tích lũy phước báu (Kutho) của Phật tử khắp miền đất Myanmar. Theo số liệu kiểm kê chính thức của Ban quản trị bảo tháp Shwe U Min, tổng số tôn tượng Phật được an vị trong các buồng đá của hang hiện đã vượt quá con số 8.094 pho và vẫn tiếp tục gia tăng qua từng năm khi các gia đình, tu viện cùng hội đồng hương từ Yangon, Mandalay, Taunggyi hay cộng đồng Phật tử hải ngoại phát tâm thỉnh tượng mới vào thờ phụng. Dưới chân mỗi bệ tượng, người đi lễ đều thấy khắc rõ tên họ thí chủ, quê quán, năm hiến cúng và lời hồi hướng phước lành cầu mong sớm chứng ngộ Niết bàn.
Đi dọc theo lối đi lát gạch men uốn lượn qua các buồng đá rộng hẹp khác nhau như Buồng Tĩnh Tâm, Hành Lang Thạch Nhũ hay Ngách Vạn Phật, người quan sát có dịp chiêm ngưỡng một bảo tàng sống động về nghệ thuật tạo tượng Phật giáo Miến Điện và vùng cao nguyên Shan suốt gần ba thế kỷ qua. Phần lớn các pho tượng thể hiện Đức Thế Tôn ngồi kiết già trên tòa sen trong hai ấn tướng chủ đạo của truyền thống Thượng tọa bộ: Xúc Địa Ấn (Bhumisparsha Mudra, bàn tay phải buông xuôi chạm đất gọi nữ thần đất mẹ Wathundaye làm chứng cho công hạnh tu tập lúc hàng phục ma quân dưới cội Bồ đề) và Thiền Định Ấn (Dhyana Mudra, hai bàn tay đặt ngửa chồng lên nhau trước bụng trong trạng thái đại định). Những pho tượng cổ có niên đại từ thế kỷ 18 mang đặc trưng thẩm mỹ vùng Myelat và triều đại Konbaung sơ kỳ: khuôn mặt bầu bĩnh phúc hậu, đôi mắt khép hờ nhìn xuống chóp mũi, dái tai dài dày dặn buông chạm bờ vai và phần nhục kế (Ushnisha) trên đỉnh đầu thuôn nhọn tựa búp sen khép kín.
Bên cạnh những pho tượng Phật cao tới vài mét được đắp bằng gạch vữa thếp vàng hoặc đúc bằng đồng nguyên khối đặt ở vị trí trung tâm mỗi vòm hang, Pindaya còn lưu giữ hàng trăm pho tượng nhỏ chỉ cao bằng gang tay được xếp ngay ngắn trong các hốc đá vôi tự nhiên trên cao, nơi người thợ xưa phải bắc giàn giáo tre mới có thể đưa tượng lên an vị. Đặc biệt, ở một ngách sâu bên trong hang có tôn trí pho tượng Phật Hikiang (thường được người dân gọi là Tượng Phật Đổ Mồ Hôi): do sự chênh lệch nhiệt độ và hơi ẩm ngầm rỉ ra từ mạch đá vôi quanh năm, bề mặt tôn tượng luôn đọng những giọt sương nhỏ lấp lánh dưới ánh đèn, được bà con các dân tộc Danu, Pa-O và Shan tin rằng đó là cam lộ từ bi ban phước lành và xua tan bệnh tật cho người thành tâm lễ bái.
Trong đời sống tâm linh của Phật giáo Nam tông Myanmar, hành động tạo tác và hiến cúng một pho tượng Phật vào chốn già lam hoặc hang đá tự nhiên thuộc về nhóm công đức cao quý của hạnh Bố thí (Dana) và hạnh Cung kính (Apacayana). Khi một gia đình trải qua biến cố lớn, vượt qua cơn bạo bệnh, hoàn thành mùa vụ bội thu hay muốn hồi hướng phước lành cho cha mẹ quá vãng, họ vừa cúng dường tứ sự cho Tăng già, vừa góp tịnh tài thỉnh một pho tượng Phật bằng đá cẩm thạch trắng vùng Sagyin hoặc bằng gỗ tếch sơn son thếp vàng đưa vào hang Pindaya. Hàng nghìn pho tượng ngồi sát bên nhau trong lòng núi đá vôi không nhằm phô trương sự giàu có vật chất, mà biểu thị lời nhắc nhở trực quan về tinh thần bất nhị và sự tiếp nối vô tận của Chánh pháp: dù người hiến cúng là bậc vương công quý tộc thời phong kiến hay người nông dân trồng chè vùng cao nguyên Danu, ánh sáng giác ngộ của Đức Thế Tôn đều bình đẳng soi chiếu và che chở cho muôn loài.
Không gian hang đá tự nhiên (Guha hoặc Lena trong tiếng Pali) vốn gắn bó mật thiết với lịch sử tu tập của Tăng đoàn Phật giáo ngay từ thời Đức Phật còn tại thế tại thành Vương Xá (Rajagaha), nơi hang Thất Diệp (Sattapanni) từng là địa điểm cử hành kỳ Kết tập Kinh điển lần thứ nhất. Việc cư dân vùng Pindaya biến một hang động đá vôi hoang sơ trên sườn núi Myelat thành bảo điện thờ Phật tiếp nối truyền thống chuyển hóa cảnh giới tự nhiên thành đạo tràng tu học: bóng tối lạnh lẽo của lòng núi tượng trưng cho vô minh sinh tử, còn sắc vàng ấm áp tỏa ra từ tám nghìn pho tượng Phật chính là ngọn đèn trí tuệ bát nhã xua tan sợ hãi và dẫn dắt tâm thức hành giả trở về sự tỉnh thức nội tâm.
Song hành cùng lịch sử Phật giáo, tên gọi Pindaya và vòm cửa hang đá vôi này còn gắn liền với một huyền tích dân gian lâu đời được lưu truyền qua nhiều thế hệ người Danu và người Shan quanh vùng hồ Pone Taloke. Chuyện xưa kể rằng vào thời cổ đại, có bảy nàng công chúa xinh đẹp là con của một vị tiểu vương bản địa rủ nhau xuống tắm mát tại hồ nước dưới chân núi. Khi chiều buông và cơn mưa rừng bất chợt đổ xuống, bảy nàng chạy lên sườn núi tìm chỗ trú ẩn trong một hang đá lớn mà không hề hay biết đó là sào huyệt của một con nhện khổng lồ hung dữ. Con nhện đã chăng những lớp tơ dày đặc bịt kín cửa hang để giam giữ bảy nàng công chúa.
Đúng lúc ấy, hoàng tử Kummabhaya khôi ngô tuấn tú và giỏi nghề cung tiễn đi ngang qua vùng núi, nghe tiếng kêu cứu vọng ra từ vách đá liền trèo lên sườn đồi. Khi con nhện khổng lồ lao ra từ bóng tối cửa hang, chàng hoàng tử bình tĩnh giương cây nỏ thần bắn một mũi tên xuyên trúng tim con quái vật. Hạ gục xong con nhện và phá lớp tơ cứu thoát bảy nàng công chúa, hoàng tử Kummabhaya reo vang câu nói bằng tiếng Miến cổ là Pinguya (nghĩa là Ta đã bắt được con nhện; từ Pingu trong tiếng Miến nghĩa là con nhện). Qua hàng trăm năm biến đổi ngữ âm trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của cư dân địa phương, cụm từ Pinguya dần đọc trại thành tên thị trấn Pindaya ngày nay. Về mặt khảo cổ học thực chứng, các nhà nghiên cứu văn hóa Myanmar ghi nhận hơn bảy mươi pho tượng cổ trong hang có khắc niên đại cụ thể từ cuối thế kỷ 18, trong đó dòng minh văn sớm nhất còn đọc rõ năm tháng ghi năm 1773 (tức năm 1135 theo lịch Miến Điện, dưới triều vua Hsinbyushin của vương triều Konbaung).
Nhiều du khách lần đầu nghe danh Hang động Pindaya thường hình dung đây là những thạch thất nhân tạo được đục đẽo vào vách đá sa thạch giống như hệ thống chùa hang Phowintaung ở vùng Monywa hay các hang đá Ajanta tại Ấn Độ. Thực tế hoàn toàn khác: hệ thống hang động Pindaya là hang đá vôi karst tự nhiên trăm phần trăm được hình thành bởi dòng nước ngầm ăn mòn tầng đá vôi qua hàng trăm triệu năm địa chất; con người không hề đục khoét mở rộng vách hang mà chỉ lát lối đi, dựng tháp và tận dụng từng gờ đá, hốc nhũ đá tự nhiên sẵn có để tôn trí hơn tám nghìn pho tượng Phật.
IITừ Dấu Ấn Vương Triều Bagan Tới Bảo Điện Tám Nghìn Tượng Phật Thời Konbaung Và Đương Đại
Dãy núi đá vôi chạy dọc phía tây thị trấn Pindaya thuộc phần rìa phía tây của cao nguyên Shan, nơi giao thoa lịch sử giữa người Miến ở đồng bằng sông Irrawaddy với các tộc người bản địa Danu, Shan, Pa-O, Taungyo và Intha trên miền núi cao. Trên sườn núi này thực chất có ba hang động đá vôi tự nhiên nằm xếp hàng theo trục từ bắc xuống nam, song chỉ có hang phía nam (Southern Cave) là nơi có cấu trúc vòm đá khô ráo, vững chãi và chiều sâu khoảng một trăm năm mươi mét được tiền nhân chọn làm thánh địa tôn trí tượng Phật suốt nhiều thế kỷ qua.
Theo truyền thuyết Phật giáo địa phương, mối nhân duyên giữa hang đá Pindaya với đạo Phật bắt đầu từ thế kỷ 12 dưới triều đại của các vị vua đế chế Bagan, khi vùng Myelat trở thành trạm dừng chân trên con đường giao thương và tuần thú từ bình nguyên miền trung lên các tiểu quốc của người Shan. Đến thế kỷ 18, khi cư dân người Danu định cư đông đúc quanh thung lũng hồ Pone Taloke, hang động Pindaya bước vào thời kỳ hưng thịnh rực rỡ với hàng loạt đợt đúc tượng, tạc tượng và trùng tu nối tiếp nhau không dứt.
- Kỷ Permi tới Kỷ Trias (Cổ sinh và Trung sinh)Hình thành hệ thống hang đá vôi karst trên dãy núi MyelatQuá trình kiến tạo địa chất nâng cao nguyên Shan và sự xâm thực của nước mưa giàu axit cacbonic qua tầng đá vôi tạo nên ba hang động tự nhiên có hệ thống măng đá, nhũ đá phong phú trên sườn núi phía tây Pindaya.
- Thế kỷ 12 (Triều vua Alaungsithu, 1112 tới 1167)Tương truyền khởi dựng bảo tháp Shwe U Min tại cửa hangBiên niên sử dân gian vùng Myelat ghi nhận quốc vương Alaungsithu của vương triều Bagan trong chuyến tuần du cao nguyên Shan đã dừng chân chiêm bái hang đá và cho dựng ngôi bảo tháp Shwe U Min đầu tiên ngay sát vòm cửa hang phía nam.
- Khoảng năm 1750 tới 1773 (Đầu triều đại Konbaung)Khởi đầu truyền thống hiến cúng hàng loạt tượng Phật có khắc bia kýCác vị tù trưởng và gia tộc Phật tử người Danu, người Shan phát tâm thỉnh tượng Phật bằng gỗ tếch, đồng và gạch vữa thếp vàng đặt vào các ngách hang; bia ký sớm nhất còn nguyên vẹn khắc niên đại năm 1773 dưới triều vua Hsinbyushin.
- Thế kỷ 19 (Thời kỳ Amarapura và Mandalay)Mở rộng quy mô tôn tượng với nghệ thuật chạm đá cẩm thạch và sơn màiHàng nghìn pho tượng Phật chế tác từ đá cẩm thạch trắng vùng Sagyin gần Mandalay và tượng sơn mài khô truyền thống Shan được rước bằng xe bò lên cao nguyên Myelat để an vị khắp các vách thạch nhũ.
- Thế kỷ 20Xây dựng hành lang bậc thang Zaungdan, tháp thang máy và trùng tu bảo thápChư tăng và cư dân Pindaya xây dựng dãy cầu thang đá có mái che từ chân đồi lên cửa hang, dựng cụm tượng Hoàng tử Kummabhaya bắn nhện, lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng lòng hang và bổ sung thang máy phục vụ khách hành hương cao tuổi.
- Đầu thế kỷ 21 tới nayBảo tồn hơn 8.000 tôn tượng cổ và quần thể rừng đa di sản PindayaTổng số tượng Phật trong hang vượt mốc 8.000 pho; Ban quản trị bảo tháp cùng Cục Khảo cổ học Myanmar thực hiện kiểm kê định kỳ, bảo vệ các pho tượng thế kỷ 18 và giữ gìn cảnh quan rừng đa cổ thụ dưới chân núi.
Giá trị đặc biệt của hơn bảy mươi minh văn thế kỷ 18 khắc trên bệ tượng Pindaya. Trong khảo cổ học Phật giáo Myanmar, rất nhiều tự viện gỗ hoặc bảo tháp gạch tại vùng đồng bằng đã bị hủy hoại qua chiến tranh, hỏa hoạn hoặc các trận động đất lớn, khiến các hiện vật thế kỷ 18 còn giữ nguyên vị trí gốc không còn nhiều. Nhờ nằm sâu trong lòng núi đá vôi kiên cố và tách biệt khỏi các cuộc xung đột quân sự lớn, hang động Pindaya đã bảo tồn nguyên trạng hơn bảy mươi pho tượng có khắc minh văn niên đại cuối thế kỷ 18 (tập trung nhiều vào thập niên 1770 và 1780). Các dòng chữ Miến cổ khắc trên bệ tượng vừa cho biết danh tính người hiến cúng, giá thành tiền bạc thời bấy giờ trả cho người thợ tạc tượng, vừa phản ánh sự giao thoa kỹ thuật giữa trường phái điêu khắc hoàng gia vùng Ava và Amarapura với mỹ cảm mộc mạc, khỏe khoắn của các nghệ nhân dân tộc Danu trên cao nguyên Shan.
IIIKiến Trúc Bảo Điện Lòng Núi, Bảo Tháp Shwe U Min Và Kỹ Nghệ Tạo Tượng Ngũ Chất
Cấu trúc tổng thể của Quần thể hang động Phật giáo Pindaya là sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc hành hương truyền thống trên sườn núi ngoài trời và không gian bảo điện thạch nhũ tự nhiên trong lòng đất. Từ đường cái ven thị trấn Pindaya, con đường dẫn lên núi đi xuyên qua một công viên tự nhiên rợp bóng những cây đa cổ thụ (Nyaung-bin) có tuổi đời hai tới ba trăm năm, với những chùm rễ phụ khổng lồ cắm sâu xuống đất tạo thành hàng chục thân cây phụ nâng đỡ vòm lá xanh rì. Ngay tại quảng trường chân núi, đôi tượng sư tử thần Chinthe trắng xóa và cụm tượng Hoàng tử Kummabhaya giương cung bắn nhện đen đánh dấu điểm khởi đầu của dãy hành lang bậc thang có mái che (Zaungdan) leo dốc lên sườn đá vôi.
Khi đặt chân lên tới thềm cửa hang ở độ cao 1.426 mét, kiến trúc nhân tạo và địa hình tự nhiên hòa làm một: mái hiên tiền đường nhiều tầng mái chạm trổ hoa văn Kanote ôm lấy miệng hang đá vôi rộng mở. Bước qua khu vực sảnh chính nơi bảo tháp Shwe U Min thếp vàng cao 15 mét vươn lên chạm sát vòm đá, người hành hương đi vào một tuyến hành trình dài khoảng 150 mét xuyên qua các buồng đá lớn nhỏ. Điểm đáng chú ý về mặt mỹ thuật tại Pindaya là kỹ nghệ tạo tượng bằng năm nhóm chất liệu chính: đồng đúc, đá cẩm thạch trắng, gỗ tếch chạm khắc, gạch vữa đắp nổi và đặc biệt là kỹ thuật tượng sơn mài khô (Man-hpaya, dùng cốt vải gai hoặc nan tre phủ nhiều lớp nhựa sơn mài Thitsi trộn tro trấu rồi thếp vàng lá, giúp pho tượng nhẹ, bền và không bị mục nát trong môi trường hang động ẩm ướt).
Dưới chân sườn núi Myelat là quần thể hàng chục cây đa đại thụ nhiều thế kỷ tỏa bóng mát quanh năm, dẫn tới cổng chào có đặt bức tượng lớn mô tả Hoàng tử Kummabhaya trong trang phục hoàng gia cổ đang giương cung nhắm thẳng vào con nhện đen khổng lồ để giải cứu bảy nàng công chúa theo huyền tích khai danh Pindaya.
Nối từ chân đồi lên cửa hang là dãy cầu thang đá hàng trăm bậc lợp mái nhiều tầng theo lối kiến trúc chùa tháp Miến Điện truyền thống, bên cạnh có xây dựng một tháp thang máy khung thép và kính ốp sát vách đá vôi giúp các bậc trưởng lão và du khách đi lại thuận tiện.
Ngay bên trong vòm cửa hang phía nam là ngôi bảo tháp Shwe U Min cao 15 mét rực rỡ ánh vàng tương truyền có gốc tích từ thời vua Alaungsithu thế kỷ 12, đứng đối diện với tháp Subok (nơi người hành hương tin rằng lời cầu nguyện chân thành sẽ được viên mãn) tạo thành cổng dẫn vào mê cung tượng Phật.
Lòng hang đá vôi tự nhiên chia thành nhiều buồng lớn và các ngách hẹp thông nhau, nơi hàng nghìn cột nhũ đá và măng đá hòa quyện cùng hơn 8.000 pho tượng Phật bằng đồng, đá cẩm thạch Sagyin, gỗ tếch và sơn mài khô thếp vàng được bài trí kín từ mặt sàn lên tới các hốc đá cao sát trần.
Ở những buồng sâu bên trong lòng núi, nơi nhiệt độ luôn mát lạnh và tĩnh mịch, tôn trí pho tượng Phật Hikiang luôn đọng những giọt nước sương tự nhiên trên bề mặt vàng lá, cùng các bồn đá hứng nước suối ngầm tinh khiết nhỏ giọt từ nhũ đá và những ngách nhỏ yên tĩnh dành cho hành giả ngồi thiền quán niệm.
| Hạng mục | Thông số kỹ thuật và đặc điểm lịch sử | Nguồn kiểm chứng |
|---|---|---|
| Độ cao và chiều sâu hang chính | Cửa hang ở độ cao khoảng 1.426 mét so với mực nước biển; lòng hang phía nam dài khoảng 150 mét | Cục Khảo cổ học và Bảo tàng Quốc gia Myanmar |
| Tổng số lượng tôn tượng Phật | Trên 8.094 pho tượng Phật lớn nhỏ (tiếp tục tăng do Phật tử phát tâm hiến cúng) | Hồ sơ kiểm kê Ban quản trị bảo tháp Shwe U Min Pindaya |
| Niên đại minh văn sớm nhất | Năm 1773 (năm 1135 lịch Miến Điện, triều vua Hsinbyushin vương triều Konbaung) | Khảo cứu minh văn học Phật giáo vùng Myelat, bang Shan |
| Chất liệu chế tác tôn tượng | Đồng đúc, đá cẩm thạch trắng Sagyin, gỗ tếch, sơn mài khô (Man-hpaya) và gạch vữa thếp vàng | Tư liệu mỹ thuật Phật giáo Bộ Văn hóa và Tôn giáo Myanmar |
| Vị trí hành chính | Sườn núi đá vôi phía tây thị trấn Pindaya, Khu tự trị Danu, bang Shan, Myanmar | Wikidata Q1358134 và Bộ Khách sạn và Du lịch Myanmar |
IVThế Đất Và Hướng
Tọa lạc trên sườn núi đá vôi cao ráo nhìn bao quát toàn bộ thung lũng Pindaya và mặt hồ tự nhiên bên dưới, Quần thể hang động Phật giáo Pindaya hội tụ đầy đủ những yếu tố chuẩn mực của thế đất tọa sơn vọng thủy, thạch thất tàng nguyên trên vùng cao nguyên. Phần dưới đây phân tích địa thế thực địa của thắng tích theo phép xem hình thế sơn thủy cổ truyền của thư viện.
Xét về mạch núi và thế tựa lưng tại tọa độ 20,9317 độ vĩ bắc, 96,6525 độ kinh đông, hang động Pindaya nằm lưng chừng ở cao độ hơn một nghìn bốn trăm mét trên sườn đông của dãy núi đá vôi Myelat chạy dài theo trục bắc nam. Trong phép xem sơn mạch, dãy núi đá vôi hùng vĩ phía tây đóng vai trò Huyền Vũ cao dày che chắn toàn bộ gió lạnh và khí khô từ vùng bình nguyên miền trung thổi lên, đồng thời kết tụ sinh khí của cả dải cao nguyên đá vôi vào ba hang động tự nhiên trên sườn núi. Hai dải sườn đồi thoải dần về phía bắc và phía nam ôm lấy khu vực rừng đa cổ thụ dưới chân núi như hai cánh tay Thanh Long và Bạch Hổ hộ vệ lối lên bảo điện.
Xét về tọa hướng và Minh Đường tụ thủy, vòm cửa hang phía nam và tiền đường bảo tháp Shwe U Min mở hướng nhìn thẳng về phía đông và đông nam, đón trọn ánh bình minh ấm áp chiếu rọi vào cửa động mỗi buổi sáng sớm. Ngay dưới chân núi về phía đông là thung lũng thị trấn Pindaya bằng phẳng và mặt nước trong xanh của hồ Pone Taloke (Pone Taloke Lake) trải rộng như một tấm gương lớn. Trong thuật hình thế cổ truyền, thế núi cao có hồ nước tự nhiên phẳng lặng nằm ngay phía trước cửa động gọi là cách cục sơn hoàn thủy bão, minh đường tụ bảo: mặt hồ Pone Taloke vừa phản chiếu ánh sáng mặt trời vừa điều hòa vi khí hậu cho toàn bộ thung lũng, giữ cho vùng đất quanh năm mát mẻ, cây cối xanh tươi và dân cư trù phú.
Nhìn vào cấu trúc nội khí trong lòng hang, chiều sâu một trăm năm mươi mét uốn lượn qua nhiều buồng đá hẹp rồi lại mở rộng thành vòm động lớn giúp luồng gió từ cửa hang đi vào được dẫn lưu êm dịu mà không bị gió lùa tán khí. Các mạch nước ngầm thấm qua tầng đá vôi nhỏ giọt liên tục xuống các bồn đá và cột thạch nhũ chính là dòng chân thủy nuôi dưỡng sinh khí trong lòng núi, tạo nên bầu không khí tĩnh lặng, thanh lương rất thuận lợi cho việc bảo tồn hơn tám nghìn pho tượng cổ cũng như sự nhiếp tâm thiền quán của người hành hương.
VĐại Lễ Chùa Hang Tháng Tabaung, Phiên Chợ Cao Nguyên Năm Ngày Và Nếp Hành Hương Xứ Danu
Bên cạnh giá trị của một di tích khảo cổ tĩnh lặng, Quần thể hang động Phật giáo Pindaya luôn là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng sống động suốt bốn mùa của cộng đồng các dân tộc vùng Myelat gồm người Danu, người Pa-O, người Shan, người Taungyo và người Intha. Bảng dưới đây tổng hợp những kỳ lễ hội truyền thống quan trọng nhất diễn ra hằng năm tại chùa hang Shwe U Min.
| Thời gian | Hệ lịch | Tên lễ tiết | Nghi thức và sinh hoạt truyền thống tại hang động Pindaya |
|---|---|---|---|
| Tuần trăng tròn tháng Tabaung (khoảng tháng 2 tới tháng 3 dương lịch) | Âm lịch Phật giáo Myanmar | Đại lễ hội chùa Shwe U Min Pindaya (Tabaung Pagoda Festival) | Kỳ lễ hội lớn nhất trong năm kéo dài suốt một tuần lễ trước và sau ngày rằm tháng Tabaung. Hàng vạn đồng bào các dân tộc Danu, Pa-O đội khăn thổ cẩm rực rỡ, người Shan và người Taungyo từ khắp các bản làng cao nguyên đánh xe bò và xe tải về cắm trại dưới rừng đa cổ thụ, dâng lễ phẩm cúng dường chư tăng, tổ chức hội chợ nông sản thủ công truyền thống và thắp nến chiêm bái tám nghìn pho tượng Phật suốt ngày đêm. |
| Ngày rằm tháng Kason (khoảng tháng 4 tới tháng 5 dương lịch) | Âm lịch Phật giáo Myanmar | Đại lễ Phật Đản và Lễ tưới nước thơm cội Bồ đề | Tín đồ địa phương mặc trang phục truyền thống xếp hàng rước những bình gốm đựng nước mát từ hồ Pone Taloke lên tưới cho các cội Bồ đề và cây đa cổ thụ quanh chùa nhằm kỷ niệm ngày Đức Phật đản sinh, thành đạo và nhập Niết bàn. |
| Rằm tháng Thadingyut và tháng Tazaungmon (tháng 10 tới tháng 11) | Âm lịch Phật giáo Myanmar | Lễ hội Ánh sáng Mãn hạ Thadingyut và Đại lễ Dâng y Kathina | Sau ba tháng an cư mùa mưa, cư dân Pindaya thắp hàng vạn ngọn đèn dầu và nến dọc theo cầu thang Zaungdan lên cửa hang cũng như quanh bờ hồ Pone Taloke để nghênh đón Đức Phật từ cung trời Đao Lợi trở về, đồng thời tổ chức đoàn rước đại y Kathina dâng lên chư tăng các tự viện dưới chân núi. |
| Tháng 3 tới tháng 4 hằng năm (trước mùa mưa) | Lịch truyền thống địa phương | Lễ xuất gia gieo duyên Shinbyu của thiếu niên vùng Danu và Pa-O | Các gia đình vùng Pindaya tổ chức đoàn rước con trai trong trang phục hoàng tử rực rỡ lên lễ Phật trước bảo tháp Shwe U Min và tám nghìn tôn tượng trong hang trước khi xuống tóc thọ giới Sa-di tại các tu viện bản địa. |
Nhịp sống hiền hòa của phiên chợ năm ngày và nghề thủ công truyền thống dưới chân núi. Nếu có dịp ghé thăm Pindaya đúng vào ngày họp phiên chợ luân phiên năm ngày một lần của vùng cao nguyên Shan hoặc vào mùa lễ hội tháng Tabaung, lữ khách sẽ bắt gặp nét văn hóa giao thương mộc mạc gắn liền với nếp đi chùa lễ Phật. Sau khi gánh chè xanh, đậu nành, bánh gạo nướng và giấy làm ô truyền thống bằng vỏ cây dâu tằm (Shan paper umbrellas) ra chợ trao đổi, bà con người Danu và người Pa-O trong bộ y phục chàm đen quấn khăn đầu sặc sỡ thường mua những bó hoa cúc vàng tươi và những xấp vàng lá mỏng bước lên bậc thang hang Pindaya.
Trong ánh sáng dịu nhẹ phản chiếu từ hàng nghìn pho tượng cổ giữa lòng núi đá vôi mát rượi, tiếng tụng kinh Pali trầm hùng hòa cùng tiếng giọt nước thạch nhũ rơi tý tách từ vòm hang cao tạo nên một cảm thức bình yên sâu thẳm. Trải qua hơn hai thế kỷ rưỡi kể từ những pho tượng khắc năm 1773 cho tới hôm nay, Quần thể hang động Phật giáo Pindaya vẫn đứng vững như một kho tàng nghệ thuật và đức tin sống động giữa mây ngàn bang Shan.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Dãy núi đá vôi phía tây thị trấn Pindaya, tự trị vùng Danu, bang Shan
- Đường tới
- Quần thể hang động tọa lạc trên sườn núi đá vôi phía tây thị trấn Pindaya, thuộc Khu tự trị Danu, bang Shan, Myanmar. Từ sân bay Heho (sân bay chính phục vụ vùng hồ Inle và bang Shan), quý vị đi xe ô tô theo tuyến đường đồi núi uốn lượn qua thị trấn Aungban lên phía bắc khoảng 45 kilômét (mất chừng 1 giờ 15 phút tới 1 giờ 30 phút di chuyển) là tới thị trấn Pindaya. Nếu xuất phát từ thị trấn Nyaungshwe bên bờ hồ Inle hoặc từ thị trấn Kalaw, quãng đường đi ô tô tới Pindaya dài khoảng 60 tới 70 kilômét (mất khoảng 1 giờ 45 phút tới 2 giờ). Từ trung tâm thị trấn Pindaya và bờ hồ Pone Taloke, quý vị chỉ cần đi bộ hoặc đi xe khoảng 1,5 kilômét về phía tây nam qua rặng đa cổ thụ là tới cổng cầu thang và thang máy dẫn lên cửa hang.
- Toạ độ
- 20.9317, 96.6525
Vì toàn bộ lòng hang Pindaya là một bảo điện Phật giáo thiêng liêng đang hoạt động, quý vị bắt buộc phải cởi bỏ hoàn toàn giày dép và tất (vớ) ngay từ khu vực chân cầu thang Zaungdan hoặc trước khi bước vào tháp thang máy lên cửa hang. Sàn gạch men và đá vôi bên trong các ngách sâu của hang thường mát lạnh và đôi chỗ có nước nhỏ giọt từ nhũ đá trên trần gây ẩm ướt trơn trượt, nên quý vị cần bước đi chậm rãi và có thể mang theo khăn giấy nhỏ để lau khô chân khi ra về. Quý vị vui lòng mặc trang phục lịch sự kín vai và dài qua đầu gối (không mặc quần ngắn, váy ngắn hay áo sát nách), giữ giọng nói nhỏ nhẹ và tuyệt đối không chạm tay, cạy lớp vàng lá hay tự ý di chuyển bất kỳ pho tượng cổ nào trong các hốc đá.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Quần thể hang động Phật giáo Pindaya
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Trong hang động Phật giáo Pindaya hiện có bao nhiêu pho tượng Phật và niên đại từ khi nào?
Theo số liệu kiểm kê của Ban quản trị bảo tháp Shwe U Min, bên trong hang đá vôi phía nam của Pindaya hiện lưu giữ hơn 8.094 pho tượng Phật lớn nhỏ và số lượng vẫn tiếp tục tăng khi tín đồ hiến cúng thêm. Tuy truyền thuyết gắn ngôi tháp cửa hang với thời vua Alaungsithu thế kỷ 12, nhưng hơn 70 pho tượng cổ có khắc minh văn niên đại cụ thể sớm nhất trong hang thuộc về nửa sau thế kỷ 18, với bia ký sớm nhất ghi rõ năm 1773 dưới triều đại Konbaung.
Tên gọi Pindaya và bức tượng hoàng tử bắn nhện dưới chân núi có ý nghĩa gì?
Theo truyền thuyết dân gian bản địa, xưa có bảy nàng công chúa đi tắm ở hồ Pone Taloke bị một con nhện khổng lồ giăng tơ nhốt trong hang đá. Hoàng tử Kummabhaya đã dùng cung tên bắn chết con nhện để cứu các nàng và hô lớn câu tiếng Miến cổ là Pinguya (nghĩa là Ta đã bắt được con nhện; Pingu là con nhện). Câu nói ấy lâu đời đọc trại thành tên vùng đất Pindaya, nên ngay lối vào cầu thang lên hang có dựng bức tượng lớn mô tả hoàng tử giương cung bắn nhện.
Hang động Pindaya là hang đá tự nhiên hay hang do con người đục đẽo?
Hang động Pindaya là một hang đá vôi karst hoàn toàn tự nhiên được hình thành qua hàng trăm triệu năm phong hóa địa chất trên dãy núi Myelat, với hệ thống măng đá và nhũ đá nguyên sinh dài khoảng 150 mét. Con người không đục khoét tạo hang mà chỉ tận dụng các vòm đá, gờ đá và hốc thạch nhũ tự nhiên sẵn có trong lòng núi để bài trí hơn tám nghìn pho tượng Phật.
Các pho tượng Phật trong hang Pindaya được chế tác từ những chất liệu nào?
Hơn tám nghìn tôn tượng tại Pindaya được chế tác từ năm nhóm chất liệu chính gồm: đồng đúc, đá cẩm thạch trắng vùng Sagyin (gần Mandalay), gỗ tếch chạm khắc thếp vàng, gạch vữa đắp nổi và đặc biệt là tượng sơn mài khô truyền thống vùng Shan (Man-hpaya, dùng cốt vải hoặc tre phủ nhựa sơn mài Thitsi rồi thếp vàng lá để chống ẩm mốc trong môi trường hang động).
Thời điểm nào đẹp nhất để hành hương tới chùa hang Pindaya tại bang Shan?
Quần thể hang động Pindaya mở cửa đón khách quanh năm với khí hậu mát mẻ của vùng núi cao hơn 1.400 mét, nhưng thời điểm rộn ràng và giàu bản sắc văn hóa nhất là dịp Đại lễ hội chùa Shwe U Min vào tuần trăng tròn tháng Tabaung (khoảng cuối tháng 2 hoặc tháng 3 dương lịch), khi hàng vạn đồng bào các dân tộc Danu, Pa-O, Shan và Intha trong trang phục truyền thống tụ hội về rừng đa dưới chân núi trẩy hội và dâng đèn lễ Phật.