Rời quảng trường lớn trước Nhà thờ Thánh Gioan Tẩy Giả ở trung tâm thị trấn cổ Tomar và rẽ vào con ngõ nhỏ lát đá cuội mang tên Rua Dr. Joaquim Jacinto (xưa kia gọi là Rua Nova que vai para a Judiaria, tức Phố Mới dẫn vào Khu Do Thái), lữ khách sẽ bắt gặp ở số nhà 73 một ngôi nhà quét vôi trắng có mái ngói đỏ thấp giản dị nằm nép mình giữa những dãy nhà dân cư hai tầng. Nếu không để ý tới khung cửa đá vôi có vòm nhọn kiểu Gothic giản phác ở mặt tiền hướng Bắc, người đi đường rất dễ lướt qua mà không ngờ rằng phía sau bức tường trắng khiêm nhường ấy là một không gian tâm linh quý hiếm bậc nhất của bán đảo Iberia.
Bước qua bậc cửa đá để tiến xuống gian phòng cầu nguyện hình vuông mát lạnh bên trong, ánh mắt du khách lập tức dừng lại trước bốn cây cột đá vôi thanh mảnh nâng đỡ chín ô vòm gạch đan chéo uyển chuyển, cùng những tấm bia đá khắc chữ Do Thái cổ kính xếp dọc theo chân tường. Đây chính là Hội đường Do Thái cổ Tomar (Sinagoga de Tomar), ngôi hội đường thuộc truyền thống Do Thái giáo thời Trung cổ (trước sắc lệnh trục xuất năm 1496) duy nhất còn bảo tồn nguyên vẹn cấu trúc kiến trúc trên toàn lãnh thổ Bồ Đào Nha, đồng thời là trụ sở của Bảo tàng Do Thái và Bồ Đào Nha Abraham Zacuto (Museu Luso-Hebraico Abraão Zacuto).

IĐức Tin Độc Thần Sephardic, Bốn Tổ Mẫu Israel Và Tinh Hoa Khoa Học Hàng Hải Thế Kỷ Mười Lăm
Theo giáo luật và truyền thống phụng vụ của Do Thái giáo, bên trong hội đường (Beit Knesset, tức Nhà Hội Họp; tiếng Do Thái cũng gọi là Beit Tefilah, Nhà Cầu Nguyện, và Beit Midrash, Nhà Học Tập) tuyệt đối không có bất kỳ pho tượng hay hình ảnh nhân hình nào, bởi cộng đồng chỉ thờ phượng duy nhất Đức Chúa Trời Vô Hình và Tuyệt Đối của Israel (được tôn xưng là HaShem hay Adonai). Tâm điểm thiêng liêng nhất của Hội đường Tomar nằm ở bức tường phía Đông hướng về phía thành phố thánh Giêrusalem, nơi xưa kia đặt Tủ Kinh Thánh (Aron Kodesh / Heikhal) lưu giữ các cuộn kinh Torah viết tay trên da thuộc, và bục đọc kinh Bimah (Tevah) đặt ở trung tâm giữa bốn cây cột đá.
Từ năm 1939, ngôi hội đường cổ còn mang tên chính thức là Bảo tàng Do Thái và Bồ Đào Nha Abraham Zacuto để tôn vinh nhà bác học, nhà thiên văn học, nhà toán học và giáo sĩ Do Thái lừng danh Abraham ben Samuel Zacuto (Abraão Zacuto, sinh năm 1452 tại Salamanca và mất khoảng năm 1515 tại Damascus hoặc Giêrusalem). Sau khi rời Tây Ban Nha sang Bồ Đào Nha năm 1492, Abraham Zacuto đã được Quốc vương João II và Quốc vương Manuel I bổ nhiệm làm Nhà Thiên văn học Hoàng gia. Chính bộ bảng lịch thiên văn vĩnh cửu Almanach Perpetuum (in tại Leiria năm 1496 bởi nhà in Do Thái của Abraham d'Ortas) và chiếc thước đo độ cao mặt trời bằng đồng (astrolábio) do Abraham Zacuto cải tiến đã được trực tiếp trang bị cho hạm đội của Vasco da Gama trong chuyến hải trình lịch sử vòng qua Mũi Hảo Vọng tới Ấn Độ năm 1497.
Trong thần học và triết học kiến trúc Do Thái giáo Sephardic (nhánh người Do Thái sinh sống lâu đời trên bán đảo Iberia, từ chữ Do Thái Sefarad chỉ vùng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha), cấu trúc của Hội đường Tomar là một bài giáo lý bằng đá vô cùng tinh tế. Gian cầu nguyện chính được nâng đỡ bởi bốn cây cột đá vôi đứng ở trung tâm, tượng trưng cho Bốn Tổ mẫu của dân tộc Israel (Arba Imahot) trong Kinh Thánh Torah là: Sarah (vợ tổ phụ Abraham), Rebecca (vợ tổ phụ Isaac), Rachel và Leah (hai người vợ của tổ phụ Jacob).
Từ bốn cây cột Tổ mẫu ấy, các cung vòm đá tỏa ra bốn phía và tựa lên mười hai chiếc công-xon đá (mísulas) gắn vào bốn bức tường bao quanh, biểu trưng cho Mười Hai Chi tộc Israel (Shivatei Yisrael) được sinh thành và nâng đỡ bởi đức tin của các bậc Tổ mẫu. Bố cục hình vuông vòm chín ô này cũng gợi nhắc đến ký ức về Đền thờ Giêrusalem xưa và Lều Hội Ngộ trong sa mạc, nơi lời kinh Shema Yisrael và kinh Amidah vang lên mỗi sáng chiều để kết nối cộng đồng lưu đày ở cực tây châu Âu với quê hương Đất Hứa ở phương Đông.
Sử liệu của thành phố Tomar và Mạng lưới các Khu phố Do Thái Bồ Đào Nha (Rede de Judiarias de Portugal) cho thấy sự ra đời của Hội đường Do Thái Tomar gắn liền mật thiết với Hoàng tử Henry Nhà Hàng Hải (Infante Dom Henrique, 1394 tới 1460), vị Thống lĩnh tối cao (Governador e Administrador) của Dòng Hiệp sĩ Chúa Kitô có đại bản doanh đặt ngay trên đỉnh đồi Tu viện Chúa Kitô tại Tomar từ năm 1420 đến năm 1460. Để biến thị trấn Tomar dưới chân đồi lâu đài thành một trung tâm kinh tế, thương mại và khoa học hàng hải phồn thịnh, Hoàng tử Henry đã chủ trương thu hút và bảo vệ cộng đồng người Do Thái có trình độ cao về y học, bản đồ học, chế tác kim hoàn, tài chính và ngoại thương.
Vào khoảng giữa thế kỷ 15 (từ năm 1430 tới 1460), khi cộng đồng người Do Thái tại Tomar tăng nhanh và chiếm tới gần một phần ba dân số khu phố buôn bán, Hoàng tử Henry đã cho phép quy hoạch một khu phố riêng gọi là Judiaria de Tomar (nằm dọc theo phố Rua Dr. Joaquim Jacinto ngày nay, đóng hai cổng ở hai đầu phố mỗi khi đêm xuống để bảo đảm an ninh) và cho phép cộng đồng xây dựng ngôi hội đường đá kiên cố này theo đúng kỹ thuật xây vòm tiên tiến đang được áp dụng tại xưởng thợ của Tu viện Chúa Kitô trên đồi.
Nhiều du khách khi lần đầu đứng trước mặt tiền Hội đường Do Thái Tomar thường thắc mắc vì sao một công trình tôn giáo do chính Hoàng tử Henry Nhà Hàng Hải cho phép xây dựng lại có vẻ ngoài hoàn toàn giống một ngôi nhà dân bình thường, không có tháp cao, không có biển hiệu hay phù điêu tôn giáo ở mặt phố. Đây không phải là do thiếu kinh phí, mà là do quy định pháp lý chung của thời Trung cổ trên bán đảo Iberia (cả dưới thời Hồi giáo lẫn thời các vương quốc Kitô giáo): các hội đường Do Thái không được phép xây cao hơn nhà thờ xung quanh và mặt ngoài hướng ra đường phố công cộng phải giữ vẻ giản dị, kín đáo để tránh kích động sự đố kỵ. Thay vào đó, toàn bộ tâm huyết nghệ thuật và sự sang trọng đều được các nghệ nhân dồn vào không gian nội thất và các đầu cột chạm khắc bên trong.
IIHơn Năm Thế Kỷ Từ Thời Hoàng Tử Henry, Biến Cố Năm 1496 Đến Cuộc Giải Cứu Của Samuel Schwarz
Số phận của Hội đường Do Thái cổ Tomar là một tấm gương thu nhỏ đầy xúc động về lịch sử thăng trầm của người Do Thái Sephardic tại Bồ Đào Nha. Thời kỳ hoàng kim của hội đường chỉ kéo dài được khoảng nửa thế kỷ sau khi hoàn thành: vào năm 1492, khi Vua Công giáo Fernando và Isabel ban hành Sắc lệnh Alhambra trục xuất người Do Thái khỏi Tây Ban Nha, hàng vạn người Do Thái Tây Ban Nha (trong đó có nhà bác học Abraham Zacuto) đã vượt biên giới sang tị nạn tại Bồ Đào Nha, làm cho cộng đồng tại Tomar càng thêm đông đúc.
Tuy nhiên, đến ngày 5 tháng 12 năm 1496, Quốc vương Bồ Đào Nha là Manuel I (để đáp ứng điều kiện kết hôn với công chúa Isabel của Tây Ban Nha) đã ký sắc lệnh tại Muge buộc toàn bộ người Do Thái và người Hồi giáo phải cải đạo sang Kitô giáo hoặc rời khỏi đất nước trước tháng 10 năm 1497. Năm 1497, vì không muốn mất đi nguồn nhân lực trí thức và thương nhân quý giá, triều đình đã đóng các cảng biển và thực hiện việc cải đạo cưỡng bức hàng loạt, biến những người Do Thái ở lại thành tầng lớp Tân Kitô hữu (Cristãos-Novos), trong đó rất nhiều gia đình vẫn bí mật giữ đức tin Do Thái trong hầm kín qua nhiều thế kỷ (được lịch sử gọi là Crypto-Jews hay Bnei Anusim).
- Khoảng 1430 tới 1460Xây dựng Hội đường Do Thái tại khu phố Judiaria dưới thời Hoàng tử Henry Nhà Hàng HảiĐược sự bảo trợ của Hoàng tử Henry (Thống lĩnh Dòng Kitô tại Tomar), cộng đồng Do Thái xây dựng hội đường vòm đá bốn cột cùng khu nhà tắm thanh tẩy Mikveh tại trung tâm khu phố Judiaria.
- 1492 tới 1497Đón dòng người tị nạn từ Tây Ban Nha và đóng cửa hội đường theo sắc lệnh năm 1496Hội đường đón nhiều gia đình Do Thái từ Tây Ban Nha sang năm 1492; đến cuối năm 1496 đầu năm 1497, theo sắc lệnh của vua Manuel I, hội đường bị tịch thu và đóng cửa, khu phố Judiaria được đổi tên thành Rua Nova.
- Thế kỷ 16 tới thế kỷ 19Chuyển đổi công năng thành nhà giam, nhà nguyện Thánh Bartolomeu và kho chứa rượuNhờ được chuyển đổi liên tiếp thành nhà giam dân sự (năm 1516 tới khoảng 1550), nhà nguyện Kitô giáo kính Thánh Bartolomeu (thế kỷ 17), rồi kho chứa cỏ khô và hầm rượu của tư nhân (thế kỷ 19), kết cấu vòm đá của hội đường may mắn không bị phá hủy.
- 29 tháng 7 năm 1921Các nhà khảo cổ học Bồ Đào Nha khảo sát và xếp hạng Di tích Quốc giaSau chuyến khảo sát của học giả Joaquim Possidónio Narciso da Silva và các nhà sử học nghệ thuật, chính phủ Bồ Đào Nha chính thức công nhận tòa nhà là Di tích Quốc gia (Monumento Nacional).
- 5 tháng 5 năm 1923Kỹ sư Samuel Schwarz bỏ tiền cá nhân mua lại hội đường và khai quật khảo cổKhi thấy di tích vẫn bị dùng làm kho chứa hàng tạp hóa, kỹ sư mỏ kiêm nhà sử học người Do Thái gốc Ba Lan là Samuel Schwarz đã mua đứt tòa nhà từ chủ tư nhân và tự bỏ kinh phí dọn dẹp, khai quật nền móng.
- 27 tháng 7 năm 1939Samuel Schwarz hiến tặng di tích cho Nhà nước và lập Bảo tàng Abraham ZacutoGiữa lúc bóng mây Thế chiến thứ hai đang bao trùm châu Âu, Samuel Schwarz hiến tặng hội đường cho Nhà nước Bồ Đào Nha với điều kiện lập Bảo tàng Do Thái - Bồ Đào Nha Abraham Zacuto; đổi lại, Tổng thống Óscar Carmona cấp quốc tịch Bồ Đào Nha cho vợ chồng ông, cứu sống gia đình ông khỏi thảm họa Holocaust.
- 1985 tới thập niên 2020Khai quật phát hiện bồn tắm nghi lễ Mikveh và đại trùng tu bảo tồnNăm 1985, cuộc khai quật tại ngôi nhà liền kề làm phát lộ nguyên vẹn bồn tắm thanh tẩy nghi lễ (Mikveh) từ thế kỷ 15; từ năm 2017 tới 2020, tòa thị chính Tomar thực hiện đợt đại trùng tu toàn diện.
Câu chuyện phi thường về kỹ sư Samuel Schwarz và sự hồi sinh di sản Do Thái tại Bồ Đào Nha. Người có công lớn nhất trong việc cứu Hội đường Tomar khỏi cảnh làm kho chứa thùng rượu chính là Samuel Schwarz (1880 tới 1953), một kỹ sư khai thác mỏ người Do Thái sinh tại Zgierz (Ba Lan), tốt nghiệp tại Paris và đến định cư tại Bồ Đào Nha từ năm 1915. Năm 1917, khi đi khảo sát mỏ thiếc ở vùng núi Belmonte (quận Castelo Branco), ông đã phát hiện ra một cộng đồng những người Marranos (hậu duệ của những người Do Thái bị cưỡng bức cải đạo năm 1497) vẫn bí mật truyền khẩu các bài kinh Do Thái qua các thế hệ phụ nữ suốt hơn 400 năm mà tưởng rằng họ là những người Do Thái duy nhất còn sót lại trên trái đất.
Chính niềm xúc động trước lịch sử kiên cường ấy đã thôi thúc Samuel Schwarz tìm đến Tomar vào năm 1923, mua lại ngôi hội đường cổ đang xuống cấp và quy tụ toàn bộ những tấm bia đá khắc chữ Do Thái thời Trung cổ còn rải rác khắp các bảo tàng địa phương từ Lisboa, Santarém, Faro đến Belmonte về trưng bày tại đây. Nhờ nghĩa cử hiến tặng hội đường ngày 27 tháng 7 năm 1939 để thành lập Bảo tàng Abraham Zacuto, Samuel Schwarz và phu nhân Agatha đã được cấp hộ chiếu công dân Bồ Đào Nha ngay trước khi cuộc chiến nổ ra vào tháng 9 năm 1939.
IIIGian Cầu Nguyện Chín Ô Vòm, Đầu Cột Hoa Sen Phương Đông, Chum Gốm Âm Học Và Bồn Tắm Mikveh
Mặc dù có kích thước khá khiêm nhường với mặt bằng gian cầu nguyện gần vuông (dài khoảng 9,5 mét, rộng 8,2 mét), kiến trúc bên trong Hội đường Do Thái cổ Tomar lại toát lên sự hài hòa cân đối hiếm có của nghệ thuật giao thoa giữa kỹ thuật xây vòm Hậu Gothic, mỹ học Mudéjar của bán đảo Iberia và kỹ thuật cắt đá Phục Hưng sớm thế kỷ 15.
Điểm đáng kinh ngạc nhất đối với các nhà nghiên cứu lịch sử kiến trúc là mối liên hệ kỹ thuật trực tiếp giữa Hội đường Do Thái ở dưới phố và Tu viện Chúa Kitô ở trên đồi: các thức cột, chân đế bát giác và cách đan vòm gạch của hội đường hoàn toàn trùng khớp với Hành lang Nghĩa trang (Claustro do Cemitério) và Hành lang Tắm giặt (Claustro da Lavagem) do kiến trúc sư Fernão Gonçalves xây dựng cho Hoàng tử Henry Nhà Hàng Hải tại Tu viện Chúa Kitô vào khoảng năm 1430 tới 1440, chứng tỏ hai công trình được thực hiện bởi cùng một đội thợ đá tài hoa.
Không gian chính hình tứ giác gần vuông được chia thành 9 ô vòm gạch đan chéo (abóbadas de aresta) có cùng độ cao, nâng đỡ bởi 4 cột đá vôi tròn thanh thoát ở giữa phòng tượng trưng cho Bốn Tổ mẫu (Sarah, Rebecca, Rachel, Leah) và 12 công-xon đá gắn trên tường tượng trưng cho 12 Chi tộc Israel.
Trên đỉnh bốn cây cột đá là những đầu cột (capitéis) chạm khắc tinh xảo bằng đá vôi trắng với họa tiết đài hoa sen nở, lá cọ và các đường xoắn ốc đối xứng, gợi nhớ đến phong cách cột đá thời Đền thờ Giêrusalem cổ đại kết hợp với nghệ thuật trang trí Hồi giáo Mudéjar và tiền Phục Hưng.
Ở trên cao tại bốn góc tường của gian cầu nguyện, du khách có thể nhìn thấy những lỗ tròn nhỏ ăn sâu vào tường đá: đó là miệng của những chiếc chum bằng đất nung (talhas de barro) được chôn ngầm nằm ngang trong vách tường từ thế kỷ 15 để tạo buồng cộng hưởng âm học, giúp giọng đọc kinh Torah và tiếng hát của vị xướng kinh (Chazzan) vang ấm và rõ nét khắp phòng.
Được phát lộ trong cuộc khai quật năm 1985 tại gian nhà phụ liền kề phía bắc, khu nhà tắm thanh tẩy nghi lễ (Mikveh) vẫn giữ nguyên ba bậc đá đi xuống bồn nước ngầm sâu, hệ thống rãnh dẫn nước mưa tinh khiết, lò đun nước nóng và các bệ ghế đá dành cho phụ nữ và các thành viên cộng đồng thực hiện nghi thức tẩy trần trước ngày lễ Shabbat.
Dọc theo bốn bức tường hội đường là bộ sưu tập bia ký chữ Do Thái quý giá bậc nhất bán đảo Iberia do Samuel Schwarz quy tụ: nổi bật nhất là Tấm bia cẩm thạch từ Hội đường Belmonte khắc năm 5057 theo lịch Do Thái (tức năm 1297 Công nguyên), Tấm bia hiến tặng từ Hội đường Lớn Lisboa năm 1307 (thời vua Dinis), và tấm bia mộ của Rabbi Joseph từ vùng Faro năm 1315.
Bảo tàng trưng bày các bản sao bảng thiên văn Almanach Perpetuum của Abraham Zacuto, các đồ vật phụng tự Do Thái giáo (như chân nến chín ngọn Hanukkiah, kèn sừng cừu Shofar, hộp đựng hương vị Havdalah, đĩa lễ Vượt Qua Seder, hộp kinh Mezuzah) do các cộng đồng Do Thái từ khắp thế giới gửi về kính tặng khi đến hành hương tại Tomar.
| Hạng mục kiến trúc và Hiện vật | Niên đại và Xuất xứ | Đặc điểm kỹ thuật và Ý nghĩa văn hóa |
|---|---|---|
| Gian cầu nguyện chính (9 ô vòm và 4 cột) | Khoảng 1430 tới 1460 (xưởng thợ thời Hoàng tử Henry) | Mặt bằng 9,5 x 8,2 mét, 4 cột đá vôi có đầu cột chạm hoa sen, 12 công-xon tường, cửa vào hướng Bắc và tường đặt Tủ Kinh hướng Đông |
| Hệ thống Chum gốm Âm học (Talhas Acústicas) | Thế kỷ 15 (nguyên bản trong kết cấu tường) | Các bình đất nung chôn ngầm ở 4 góc tường trên cao giúp triệt tiêu tiếng vang dội và khuếch đại giọng đọc kinh Hebrew |
| Khu Bồn tắm Thanh tẩy Nghi lễ (Mikveh) | Thế kỷ 15 (khai quật khảo cổ năm 1985) | Bồn đá ngầm có bậc cấp đi xuống, rãnh dẫn nước tự nhiên và buồng lò sưởi ấm nước theo đúng chuẩn mực luật Halakha |
| Bia đá Hội đường Belmonte (Inscrição de Belmonte) | Năm 5057 lịch Do Thái (tức năm 1297 Công nguyên) | Khắc chữ Do Thái vuông trích sách Tiên tri về Đền thờ Chúa, một trong những bia ký Do Thái cổ nhất hiện còn tại Bồ Đào Nha |
| Bia đá Hội đường Lớn Lisboa và Bia mộ Faro | Năm 1307 (Lisboa, thời vua Dinis) và năm 1315 (Faro) | Minh chứng khảo cổ học xác thực về sự hiện diện phồn thịnh của các cộng đồng Sephardic từ thủ đô Lisboa tới vùng cực nam Algarve |
| Tư liệu Thiên văn học của Abraham Zacuto | Cuối thế kỷ 15 (Almanach Perpetuum in năm 1496 tại Leiria) | Tôn vinh đóng góp quyết định của nhà bác học Do Thái Abraham Zacuto đối với các chuyến hải trình khám phá đại dương của Bồ Đào Nha |
IVThế Đất Và Hướng
Cần khẳng định rõ rằng Do Thái giáo không sử dụng học thuyết phong thủy Á Đông khi xây dựng hội đường. Vị trí và bố cục của Hội đường Do Thái cổ Tomar được quy định nghiêm ngặt bởi luật tôn giáo Do Thái (Halakha) kết hợp với quy hoạch đô thị thời Trung cổ của thị trấn Tomar: cổng vào được mở ở mặt phố phía Bắc để người đi vào sẽ rẽ và hướng toàn bộ tâm trí về bức tường phía Đông (Mizrach), tức hướng về phía Đền thờ Giêrusalem theo đúng lời cầu nguyện của Vua Salomon trong sách Các Vua, đồng thời sàn của gian cầu nguyện được hạ thấp hơn mặt đường bên ngoài để ứng nghiệm câu Thánh Vịnh 130: Từ vực sâu, con kêu cầu lên Ngài, lạy Đức Chúa (De profundis clamavi ad te, Domine). Phần dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép xem hình thế cổ truyền của thư viện Vạn Đạo Đường dành cho độc giả Á Đông.
Xét trên tổng thể địa hình sơn thủy của thung lũng Tomar tại tọa độ 39,6033 độ vĩ Bắc, -8,4136 độ kinh Tây, Hội đường Do Thái cổ Tomar tọa lạc trên vùng đất bằng phẳng ấm áp dưới chân đồi ở cao độ khoảng 65 mét, nằm gọn giữa hai yếu tố sơn thủy chủ đạo của thành phố. Ở ngay phía tây và tây bắc cách hội đường chỉ khoảng 400 mét là ngọn đồi đá vôi cao sừng sững nơi tọa lạc Lâu đài Hiệp sĩ Dòng Đền và Tu viện Chúa Kitô: trong phép xem hình thế cổ truyền, ngọn đồi lâu đài ấy chính là chủ sơn (hậu chẩm kiêm hữu Bạch Hổ cao dày) đứng che chắn toàn bộ gió tây bắc lạnh giá từ phía Đại Tây Dương thổi vào thung lũng. Ở phía đông chỉ cách khoảng 250 mét là dòng sông Nabão trong vắt chảy hiền hòa từ bắc xuống nam uốn lượn ôm lấy khu phố cổ, đóng vai trò là thủy long (minh đường thủy) tụ khí và nuôi dưỡng mạch nước ngầm cung cấp cho bồn tắm thanh tẩy Mikveh của hội đường.
Xét về phương vị và thế tàng phong tụ khí, việc ngôi hội đường nằm lùi trong con phố nhỏ Rua Dr. Joaquim Jacinto chạy theo trục Đông sang Tây và có mặt sàn gian cầu nguyện thấp hơn mặt đường bên ngoài tạo nên thế tàng uẩn nội liễm (ẩn mình giữ khí bên trong lớp vỏ bình dị). Cửa chính mở về hướng Bắc đón khí từ trục phố, nhưng trục tâm linh bên trong lại xoay vuông góc về hướng Đông (phương Mộc, hướng mặt trời mọc và hướng về Giêrusalem, đồng thời cũng là hướng nhìn ra dòng sông Nabão). Chính thế đất khiêm cung, kín đáo giữa lòng phố thị dưới sự che chở của ngọn đồi lâu đài phía tây và dòng sông phía đông đã giúp công trình vượt qua hơn năm thế kỷ biến động lịch sử mà vẫn giữ nguyên vẹn từng cây cột đá và từng vòm gạch cổ.
VCác Kỳ Lễ Trọng Theo Lịch Do Thái, Ngày Tưởng Niệm Samuel Schwarz Và Hành Hương Di Sản Sephardic
Mặc dù ngày nay Hội đường Do Thái cổ Tomar hoạt động thường xuyên với tư cách là một Bảo tàng Quốc gia (Bảo tàng Abraham Zacuto) trực thuộc quản lý của Tòa thị chính Tomar chứ không có một giáo đoàn thường trú cử hành lễ mỗi ngày thứ Bảy, nơi đây vẫn là trung tâm tâm linh sống động đón các đoàn tín hữu Do Thái giáo (đặc biệt là hậu duệ người Do Thái Sephardic từ khắp thế giới, từ Israel, Hoa Kỳ, Pháp, Brasil và các cộng đồng Lisboa, Porto, Belmonte) trở về đọc kinh, thắp nến và cử hành các ngày lễ trọng theo lịch Do Thái (âm dương lịch Hebrew) cũng như các sự kiện văn hóa theo dương lịch.
| Thời điểm trong năm | Hệ lịch | Tên lễ tiết và sự kiện | Ý nghĩa tâm linh và hoạt động tưởng niệm tại Hội đường Tomar |
|---|---|---|---|
| Tháng Tishrei (thường vào tháng 9 hoặc tháng 10 dương lịch) | Lịch Do Thái (Hebrew calendar) | Tết Năm Mới Do Thái (Rosh Hashanah) và Ngày Lễ Chuộc Tội (Yom Kippur) | Các đoàn khách hành hương Do Thái và đại diện các cộng đồng Do Thái tại Bồ Đào Nha đến hội đường đọc kinh cầu nguyện, thổi tù và sừng cừu (Shofar) và tưởng nhớ các bậc tiền nhân Sephardic từng cầu nguyện tại đây trước năm 1497. |
| Ngày 25 tháng Kislev (thường vào tháng 12 dương lịch) | Lịch Do Thái (Hebrew calendar) | Lễ hội Ánh sáng (Hanukkah / Chanukah) | Nghi thức thắp sáng cây đèn chín ngọn (Hanukkiah) trong gian cầu nguyện bốn cột đá, biểu trưng cho sự trường tồn kỳ diệu của ánh sáng đức tin và văn hóa Do Thái trên đất Bồ Đào Nha sau hơn năm thế kỷ. |
| Tháng Nisan (thường vào tháng 3 hoặc tháng 4 dương lịch) | Lịch Do Thái (Hebrew calendar) | Lễ Vượt Qua (Pesach / Passover) | Trưng bày chuyên đề về các đĩa lễ Seder và truyền thống nướng bánh không men (Matzah) bí mật của các gia đình Tân Kitô hữu (Marranos) tại Tomar và vùng Beira thời Trung cổ và Cận đại. |
| Chúa Nhật đầu tiên của tháng 9 hằng năm | Dương lịch | Ngày Văn hóa Do Thái Châu Âu (Jornada Europeia da Cultura Judaica) | Tòa thị chính Tomar và Mạng lưới các Khu phố Do Thái Bồ Đào Nha tổ chức ngày mở cửa đặc biệt, hòa nhạc truyền thống Sephardic (nhạc Ladino), thuyết trình lịch sử về Abraham Zacuto và hướng dẫn tham quan khu phố Judiaria. |
| Tháng 5 và tháng 7 hằng năm (kỷ niệm 5/5/1923 và 27/7/1939) | Dương lịch | Tưởng niệm Kỹ sư Samuel Schwarz và Ngày Thành lập Bảo tàng Abraham Zacuto | Tri ân công lao của Samuel Schwarz, người đã giải cứu ngôi hội đường năm 1923 và hiến tặng cho đất nước Bồ Đào Nha ngày 27 tháng 7 năm 1939 để mở cửa bảo tàng. |
Sự đối thoại hài hòa giữa hai di sản tâm linh tại thành phố Tomar. Khi đến thăm thành phố Tomar, việc kết hợp chiêm bái Tu viện Chúa Kitô của Hiệp sĩ dòng Đền trên đỉnh đồi với Hội đường Do Thái cổ Tomar dưới khu phố cổ mang lại cho du khách một cái nhìn trọn vẹn và sâu sắc về lịch sử Bồ Đào Nha thế kỷ 15: chính sự hợp tác giữa tầm nhìn đại dương của Hoàng tử Henry Nhà Hàng Hải trên đồi lâu đài và trí tuệ thiên văn học, toán học của các học giả Do Thái như Abraham Zacuto dưới mái hội đường bốn cột đã cùng nhau mở ra kỷ nguyên Hàng hải vĩ đại kết nối châu Âu với châu Á.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Rua Dr. Joaquim Jacinto, 73, 2300-577 Tomar, quận Santarém, Bồ Đào Nha
- Đường tới
- Hội đường tọa lạc tại số 73 phố Rua Dr. Joaquim Jacinto, ngay giữa trung tâm lịch sử thành phố Tomar, cách quảng trường chính Praça da República (nơi có Nhà thờ São João Baptista) chưa đầy 150 mét đi bộ và cách Ga tàu hỏa cùng Bến xe buýt Tomar khoảng 600 mét (7 phút đi bộ qua cầu cổ hoặc đại lộ). Từ thủ đô Lisboa (ga Santa Apolónia hoặc ga Oriente), quý vị có thể đi tàu hỏa vùng (Regional / Intercidades) thẳng tới ga cuối Tomar mất khoảng 1 giờ 50 phút.
- Toạ độ
- 39.6033, -8.4136
Khi vào thăm Hội đường Do Thái cổ Tomar và Bảo tàng Abraham Zacuto, quý vị lưu ý bậc cửa đá dẫn từ mặt đường phố xuống gian cầu nguyện có độ chênh cao nên cần bước xuống cẩn thận. Đây vừa là bảo tàng quốc gia vừa là một không gian thiêng liêng được các tín hữu Do Thái khắp thế giới tôn kính, vì vậy quý vị vui lòng ăn mặc lịch sự, giữ giọng nói nhỏ nhẹ, không bước qua rào chắn bảo vệ khu vực hố khảo cổ bồn tắm thanh tẩy Mikveh và tuyệt đối không chạm tay trực tiếp lên bề mặt các tấm bia đá khắc chữ Do Thái thế kỷ 13 và 14. Nam giới theo truyền thống Do Thái giáo khi vào cầu nguyện trong hội đường thường đội mũ tròn nhỏ (kippah).
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Hội đường Do Thái cổ Tomar (Sinagoga de Tomar)
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao Hội đường Do Thái cổ Tomar được coi là di tích Do Thái quan trọng bậc nhất tại Bồ Đào Nha?
Hội đường Do Thái cổ Tomar (xây dựng khoảng năm 1430 tới 1460) là ngôi hội đường thời Trung cổ (trước sắc lệnh trục xuất năm 1496 của vua Manuel I) duy nhất trên toàn lãnh thổ Bồ Đào Nha còn bảo tồn nguyên vẹn cấu trúc kiến trúc gốc từ thế kỷ 15, bao gồm cả gian cầu nguyện chín ô vòm bốn cột đá lẫn khu bồn tắm thanh tẩy nghi lễ (Mikveh) bên cạnh.
Bốn cây cột đá ở giữa gian cầu nguyện của Hội đường Tomar mang ý nghĩa biểu tượng gì?
Trong kiến trúc biểu tượng của hội đường, bốn cây cột đá vôi đứng ở trung tâm gian phòng tượng trưng cho Bốn Tổ mẫu của dân tộc Israel (Sarah, Rebecca, Rachel và Leah), còn mười hai chiếc công-xon đá gắn trên bốn bức tường đón nhận các cung vòm tỏa ra từ bốn cột ấy tượng trưng cho Mười Hai Chi tộc Israel. Đỉnh của bốn cây cột được chạm khắc hình hoa sen và lá cọ theo phong cách phương Đông rất tinh xảo.
Những chiếc lỗ tròn nhỏ trên cao ở bốn góc tường hội đường dùng để làm gì?
Những lỗ tròn ở bốn góc tường phía trên cao chính là miệng của những chiếc chum bằng đất nung (talhas acústicas) được chôn ngầm nằm ngang bên trong khối tường đá từ thế kỷ 15. Đây là một kỹ thuật âm học truyền thống rất thông minh thời Trung cổ nhằm tạo ra các buồng cộng hưởng âm thanh, giúp giọng đọc kinh Torah và tiếng hát cầu nguyện vang rõ và ấm áp khắp gian phòng mà không bị dội âm.
Nhà thiên văn học Abraham Zacuto và kỹ sư Samuel Schwarz có vai trò gì đối với hội đường này?
Kỹ sư mỏ kiêm nhà sử học người Do Thái gốc Ba Lan Samuel Schwarz là người đã bỏ tiền cá nhân mua lại ngôi hội đường (lúc ấy đang bị dùng làm kho chứa rượu và hàng tạp hóa) vào ngày 5 tháng 5 năm 1923, tổ chức khai quật và sưu tầm các tấm bia chữ Do Thái cổ về đây, rồi hiến tặng cho Nhà nước Bồ Đào Nha ngày 27 tháng 7 năm 1939. Theo nguyện vọng của ông, hội đường được đặt tên là Bảo tàng Abraham Zacuto để tôn vinh nhà thiên văn học và giáo sĩ Do Thái thế kỷ 15 Abraham Zacuto, người đã lập các bảng thiên văn giúp Vasco da Gama tìm ra đường biển sang Ấn Độ.
Bồn tắm thanh tẩy nghi lễ (Mikveh) bên trong Hội đường Tomar được phát hiện vào năm nào?
Khu vực bồn tắm thanh tẩy nghi lễ (Mikveh) nằm ở gian nhà liền kề phía bắc của gian cầu nguyện chính đã được các nhà khảo cổ học phát hiện vào năm 1985. Cuộc khai quật đã làm lộ diện nguyên vẹn các bậc thang đá đi xuống bồn nước ngầm, hệ thống rãnh dẫn nước tự nhiên và cả dấu vết lò đun nước nóng từ thế kỷ 15 phục vụ nghi thức thanh tẩy theo luật Do Thái giáo.