Cách Vườn Thánh Lâm Tỳ Ni (Đền Maya Devi) khoảng hai mươi bảy kilômét về phía tây dọc theo vùng đồng bằng Terai trù phú của tỉnh Lumbini (Nepal), nơi dòng sông cổ Banganga (xưa gọi là sông Bhagirathi) uốn lượn từ chân núi Siwalik xuống miền nam, có một gò thành cổ rợp bóng cây rừng mang tên Tilaurakot. Đối với lịch sử Phật giáo thế giới và ngành khảo cổ học Nam Á, khu di tích Tilaurakot - Kapilavastu chính là kinh thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) của tiểu quốc cộng hòa quý tộc Thích Ca (Shakya) dưới triều đại phụ vương Tịnh Phạn (Suddhodana).
Nếu Lâm Tỳ Ni là nơi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cất tiếng khóc chào đời dưới tán cây vô ưu và Bồ Đề Đạo Tràng là nơi ngài thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thì thành Ca Tỳ La Vệ tại Tilaurakot là nơi định hình toàn bộ hai mươi chín năm đầu đời của Thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm (Siddhartha Gautama): từ những năm tháng được di mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề nuôi dưỡng, học văn luyện võ, kết duyên cùng Công chúa Da Du Đà La và đón con trai La Hầu La, cho tới bốn cuộc dạo chơi qua các cổng thành chứng kiến cảnh sinh, lão, bệnh, tử của kiếp người và quyết định từ bỏ ngai vàng vượt qua Cổng Đông (Mahabhinishkramana Dwar) giữa đêm khuya để tìm con đường giải thoát cho muôn loài.

IKinh Đô Vương Tộc Thích Ca, Đêm Vượt Thành Xuất Gia Và Cuộc Hội Ngộ Cảm Động Giữa Đức Phật Cùng Phụ Vương Tịnh Phạn
Tên gọi Kapilavastu (âm Hán Việt cổ dịch là Ca Tỳ La Vệ, nghĩa đen trong tiếng Phạn là Vùng đất màu nâu đỏ hoặc Thành phố của Hiền giả Kapila) bắt nguồn từ truyền thuyết cổ xưa kể rằng khi các vương tử dòng dõi vua Okkaka (Ikshvaku) đi tìm vùng đất lập quốc dưới chân dãy Himalaya, vị ẩn sĩ hiền triết Kapila đang tu hành trong rừng gỗ tếch đã nhường lại khu đất lành bên bờ sông cho họ dựng nên kinh thành và lấy tên vị hiền giả đặt cho đô thành. Vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, kinh thành Ca Tỳ La Vệ trở thành trung tâm chính trị và văn hóa của bộ tộc Thích Ca (Shakya), đứng đầu là vị quốc vương nhân từ Tịnh Phạn (Raja Suddhodana) cùng Hoàng hậu Ma Da (Mahamaya) và Hoàng hậu Kiều Đàm Di (Mahapajapati Gotami).
Trong tâm thức của người con Phật khắp năm châu, mỗi tấc đất tại Tilaurakot đều thấm đẫm hai sự kiện trọng đại của cuộc đời Đức Thế Tôn. Sự kiện thứ nhất là Bốn cuộc gặp gỡ nơi cổng thành và cuộc Đại Xuất Gia (Mahabhinishkramana): sau hai mươi chín năm sống trong nhung lụa của ba tòa lâu đài theo mùa nhưng luôn trăn trở trước thực tại già nua, bệnh tật và cái chết của con người cũng như vẻ thanh tịnh của bậc sa môn, vào một đêm trăng tròn tháng Asadha, Thái tử Tất Đạt Đa đã lặng lẽ nhìn vợ con lần cuối rồi cùng người hầu trung thành Xa Nặc (Channa) cưỡi con tuấn mã trắng Kiền Trắc (Kanthaka) đi qua Cổng Đông của thành Tilaurakot, vượt sông Anoma cắt tóc xuất gia ở tuổi hai mươi chín.
Sự kiện thứ hai không kém phần thiêng liêng diễn ra vào năm đầu tiên (hoặc năm thứ hai) sau khi Đức Phật thành đạo tại Bồ Đề Đạo Tràng: nhận lời thỉnh cầu tha thiết của phụ vương Tịnh Phạn qua sứ giả Kaludayi, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã dẫn đầu tăng đoàn hai mươi nghìn vị Tỳ kheo A La Hán trở về thăm quê hương Ca Tỳ La Vệ. Nhà vua Tịnh Phạn đã dâng cúng khu vườn cây bàng Nigrodharama (ngày nay là khu khảo cổ Kudan nằm cách thành Tilaurakot khoảng 4,5 km về phía nam) làm tịnh xá lưu trú cho Đức Phật. Chính tại Ca Tỳ La Vệ và Nigrodharama, Đức Phật đã thuyết pháp độ cho phụ vương đắc quả Thánh, truyền giới xuất gia cho hoàng tử La Hầu La (Rahula), A Nan Đà (Ananda), Đề Bà Đạt Đa, ưu bà ly (Upali) và gieo nhân duyên thành lập Ni đoàn đầu tiên trong lịch sử Phật giáo cho di mẫu Kiều Đàm Di cùng công chúa Da Du Đà La.
Khác với những ngôi đền rực rỡ vàng son, khi bước đi giữa những hàng gạch nung cổ xưa nằm sát mặt cỏ xanh của khu khảo cổ Tilaurakot, khách hành hương trực tiếp chứng nghiệm giáo nghĩa cốt lõi của Đức Phật về Vô thường (Anicca) và Sự buông xả cao thượng (Nekkhamma). Một kinh thành từng có tường cao hào sâu, cung điện uy nghi và vương quyền lẫy lừng rốt cuộc cũng trở về với đất mẹ qua dòng chảy hai nghìn năm trăm năm; chỉ có trí tuệ giác ngộ và lòng đại bi mà vị Thái tử đã đánh đổi cả ngai vàng để tìm kiếm sau khi bước qua Cổng Đông là vẫn còn soi sáng nhân gian.
Đồng thời, cuộc trở về Ca Tỳ La Vệ của Đức Phật để thuyết pháp báo hiếu Vua Tịnh Phạn và Hoàng hậu Kiều Đàm Di còn khẳng định đạo lý Đại hiếu trong Phật giáo: người xuất gia không hề quay lưng với cha mẹ và quê hương, mà dùng chính ánh sáng giải thoát để đền đáp ân đức sinh thành một cách trọn vẹn nhất.
Sử liệu cổ đại quan trọng nhất giúp các nhà khảo cổ học định vị thành Ca Tỳ La Vệ tại Tilaurakot là ghi chép thực địa của hai vị cao tăng chiêm bái người Trung Hoa: ngài Pháp Hiển (Faxian, đến thăm đầu thế kỷ 5) và ngài Huyền Trang (Xuanzang, đến thăm năm 636 CN và chép tỉ mỉ trong bộ Đại Đường Tây Vực Ký). Cả hai vị pháp sư đều mô tả khu nội thành hoàng cung Ca Tỳ La Vệ được bao bọc bởi tường gạch kiên cố, bên trong có nền cung điện Vua Tịnh Phạn, tịnh thất của Hoàng hậu Ma Da, cổng thành phía đông nơi Thái tử xuất gia, và ở phía nam thành có khu rừng Nigrodharama cùng các bảo tháp của Vua Ashoka.
Năm 1899, nhà khảo cổ học Ấn Độ P. C. Mukherji thuộc Cơ quan Khảo cổ Ấn Độ đã tiến hành khảo sát thực địa vùng Terai Nepal, đối chiếu khoảng cách từ trụ đá Ashoka tại Lâm Tỳ Ni, trụ đá vua Phật Kanakamuni tại Nigali Sagar và trụ đá vua Phật Krakuchhanda tại Gotihawa, từ đó kết luận rằng gò thành cổ Tilaurakot chính là kinh thành Ca Tỳ La Vệ lịch sử. Từ năm 2011 tới thập niên 2020, phái đoàn khảo cổ quốc tế chung giữa Cục Khảo cổ Nepal, Quỹ Phát triển Lâm Tỳ Ni (LDT) và Đại học Durham (Vương quốc Anh) do Giáo sư Robin Coningham dẫn đầu (dưới sự bảo trợ của UNESCO và Quỹ Tín thác Nhật Bản) đã sử dụng công nghệ quét địa vật lý xuyên đất (GPR), LiDAR và định tuổi carbon phóng xạ để chứng minh Tilaurakot là một đô thị quy hoạch bàn cờ có tường rào cọc gỗ và hào nước ngay từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 6 TCN.
Trong lịch sử khảo cổ học Phật giáo, từng có sự tranh luận giữa địa điểm Tilaurakot (Nepal) và khu di tích bảo tháp Piprahwa (bang Uttar Pradesh, Ấn Độ, cách biên giới khoảng 15 km về phía nam). Các nghiên cứu khảo cổ học hiện đại của UNESCO và Đại học Durham đã làm sáng tỏ mối quan hệ bổ sung giữa hai nơi: Tilaurakot là một đô thị kinh thành quy mô lớn có hào nước, tường thành phòng thủ, cổng thành, khu luyện kim, tiền xu đúc cổ và nền hoàng cung thế tục đúng như mô tả của Pháp Hiển và Huyền Trang về kinh đô Ca Tỳ La Vệ nơi Thái tử sinh sống; trong khi Piprahwa là một quần thể tu viện và bảo tháp tôn giáo quan trọng nằm ở vùng ngoại vi phía nam lãnh thổ bộ tộc Thích Ca.
IITừ Đô Thị Cổ Thời Đồ Sắt Thế Kỷ 8 TCN, Triều Đại Ashoka Đến Các Cuộc Khai Quật Khảo Cổ Quốc Tế Thế Kỷ 21
Kết quả khai quật địa tầng và phân tích niên đại carbon phóng xạ tại Tilaurakot cho thấy sự định cư của con người tại khúc quanh sông Banganga đã bắt đầu từ khoảng thế kỷ thứ 8 trước Công nguyên, gắn liền với nền văn hóa Đồ gốm xám vẽ (Painted Grey Ware - PGW). Đến thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên (thời đại của Vua Tịnh Phạn và Thái tử Tất Đạt Đa), Tilaurakot đã phát triển thành một đô thị sầm uất của thời kỳ Đô thị hóa lần thứ hai tại lưu vực sông Hằng, đặc trưng bởi dòng Đồ gốm đen bóng phương Bắc (Northern Black Polished Ware - NBPW) cao cấp, hệ thống đường phố lát gạch cắt nhau vuông góc, hồ nước nghi lễ trung tâm và vòng hào sâu bao quanh lũy đất gỗ.
Vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, hoàng đế Ashoka Đại Đế (A Dục Vương) của đế chế Maurya đã thực hiện cuộc hành hương vĩ đại về vùng đất tổ của chư Phật: ngài không chỉ dựng trụ đá tại Lâm Tỳ Ni cách đó 27 km, mà còn dựng hai trụ đá sa thạch khắc chữ Brahmi tại Gotihawa (nơi đản sinh của Đức Phật quá khứ Câu Lưu Tôn / Krakuchhanda, cách Tilaurakot 5 km về phía tây nam) và tại Nigali Sagar (nơi có bảo tháp của Đức Phật quá khứ Câu Na Hàm Mâu Ni / Kanakamuni, cách Tilaurakot 6 km về phía đông bắc). Dưới thời Maurya và Sunga, tường thành Tilaurakot được gia cố bằng gạch nung kiên cố dày hơn ba mét. Sau khi vương quốc Thích Ca suy tàn và trải qua thời kỳ đế chế Kushan (thế kỷ 1 tới thế kỷ 3 CN), kinh thành dần bị rừng rậm Terai bao phủ và trở thành thánh địa chiêm bái của các tăng đoàn cho tới khi được ngành khảo cổ học hiện đại đánh thức vào cuối thế kỷ 19.
- Thế kỷ 8 tới thế kỷ 6 TCNHình thành đô thị cổ Ca Tỳ La Vệ và 29 năm niên thiếu của Thái tử Tất Đạt ĐaKinh thành của bộ tộc Thích Ca phát triển bên bờ sông Banganga với quy hoạch đô thị có hào nước, lũy thành và hoàng cung nơi Thái tử Tất Đạt Đa sinh sống 29 năm trước khi vượt Cổng Đông xuất gia.
- Thế kỷ 3 TCN (khoảng năm 249 TCN)Hoàng đế Ashoka chiêm bái vùng Kapilavastu và dựng trụ đá tại Nigali Sagar, GotihawaVua Ashoka hành hương về quê hương Đức Phật, mở rộng bảo tháp Phật Kanakamuni tại Nigali Sagar và dựng các trụ đá sa thạch xung quanh kinh thành Tilaurakot.
- Thế kỷ 5 và năm 636 CNPháp sư Pháp Hiển và Pháp sư Huyền Trang hành hương ghi chép thực địa Ca Tỳ La VệHai bậc cao tăng chiêm bái đến thăm thành cổ, ghi lại chi tiết vị trí nền cung điện Vua Tịnh Phạn, Cổng Đông xuất gia, tháp Dhamnihawa và tịnh xá Nigrodharama (Kudan).
- Năm 1899 và giai đoạn 1962 tới 1972P. C. Mukherji xác định di tích Tilaurakot và các đợt khai quật của Nepal và Nhật BảnNăm 1899 nhà khảo cổ P. C. Mukherji khảo sát và định danh Tilaurakot là Kapilavastu; thập niên 1960 - 1970 nhà khảo cổ Debala Mitra, Babu Krishna Rijal và Đại học Rissho (Nhật Bản) khai quật Cổng Tây, Cổng Đông và gò cung điện.
- Năm 1996 và giai đoạn 2011 tới thập niên 2020Đưa vào Danh sách Dự kiến UNESCO và dự án khảo cổ công nghệ cao của Đại học DurhamNăm 1996 Tilaurakot được đưa vào Danh sách Dự kiến Di sản Thế giới UNESCO; từ năm 2011 phái đoàn UNESCO - Đại học Durham (Giáo sư Robin Coningham) phát hiện quy hoạch đô thị cổ, hồ nước trung tâm, đền thờ cổ và hàng nghìn đồng xu đúc Punch-marked coins.
Kho báu hàng nghìn đồng tiền cổ đúc dấu (Punch-marked coins) và con dấu chữ Brahmi tại Tilaurakot. Trong các đợt khai quật tại khu vực trung tâm thành Tilaurakot, các nhà khảo cổ Nepal, Nhật Bản và Anh quốc đã tìm thấy những hũ gốm lưu giữ hơn hai nghìn đồng tiền bạc và đồng đúc dấu cổ đại (Punch-marked coins và Cast coins có niên đại từ thế kỷ 5 TCN đến thế kỷ 1 CN), cùng nhiều tượng đất nung hình thiếu nữ, trang sức đá mã não, hạt chuỗi thủy tinh và các con dấu đất nung khắc chữ Brahmi cổ. Những hiện vật đang trưng bày tại Bảo tàng Khảo cổ Kapilavastu ngay cạnh di tích là bằng chứng vật chất không thể chối cãi về một trung tâm hành chính và thương mại hoàng gia từng phồn thịnh suốt nhiều thế kỷ.
IIIQuy Hoạch Thành Quách Hình Chữ Nhật, Cổng Đông Xuất Gia, Nền Hoàng Cung Trung Tâm Và Cặp Tháp Dhamnihawa
Khu thành cổ Tilaurakot có bình đồ quy hoạch hình chữ nhật gần vuông chạy theo trục Bắc - Nam, chiều dài khoảng 500 mét (khoảng 1.600 feet theo chiều Bắc - Nam) và chiều rộng khoảng 400 mét (khoảng 1.300 feet theo chiều Đông - Tây), được bao bọc bởi bức tường thành gạch nung kiên cố dày từ 3 tới 4 mét có tháp canh ở các góc và hệ thống hào nước sâu rộng từ 12 tới 20 mét ở cả bốn phía.
Ngày nay, toàn bộ khu khảo cổ được bảo tồn như một công viên di sản sinh thái yên bình với những lối đi lát gỗ nâng cao trên mặt đất (raised wooden walkways) để khách hành hương có thể đi bộ chiêm bái từng khu vực mà không giẫm lên các tầng gạch cổ hai nghìn năm trăm năm tuổi.
Nằm ở chính giữa thành nội là khu nền móng cung điện của Vua Tịnh Phạn rộng khoảng 100 x 100 mét có tường bao riêng, liền kề về phía đông là một hồ nước nghi lễ lớn xây bậc gạch nung từ thời kỳ Maurya được phát hiện qua khảo sát địa vật lý.
Di tích xúc động nhất tại Tilaurakot: cấu trúc cổng thành phía đông rộng gần 6 mét với hai pháo đài canh gác hai bên và mặt đường lát gạch còn in hằn vết bánh xe ngựa cổ, nơi các đoàn hành hương dừng lại tụng kinh tưởng niệm đêm Thái tử Tất Đạt Đa rời hoàng cung.
Khu vực cổng thành phía tây nhìn về phía sông Banganga bảo tồn rõ nét nhất các lớp tường gạch thời Maurya - Sunga chồng lên lớp lũy đất và hàng rào gỗ thời kỳ tiền Phật giáo, bên cạnh khu lò rèn luyện sắt cổ đại ở góc tây nam.
Nằm cách cổng bắc thành Tilaurakot khoảng 600 mét là hai ngôi bảo tháp tròn bằng gạch nung (một tháp lớn đường kính 16 mét và một tháp nhỏ đường kính 8 mét) được truyền thống Phật giáo tôn kính là tháp tưởng niệm phụ vương Suddhodana và mẫu hậu Mahamaya.
Nằm cách Tilaurakot 4,5 km về phía nam là cụm ba gò bảo tháp gạch khổng lồ và giếng cổ tại Kudan (nơi Đức Phật trở về thuyết pháp cho phụ vương và hoàng tộc); ngay lối vào Tilaurakot là Bảo tàng Kapilavastu trưng bày tiền cổ, gốm NBPW và tượng đất nung.
| Hạng mục | Thông số khảo cổ và lịch sử | Nguồn kiểm chứng |
|---|---|---|
| Tên di tích | Khu khảo cổ Tilaurakot - Kapilavastu (Thành cổ Ca Tỳ La Vệ) | Hồ sơ UNESCO Tentative List (mã 839), Wikidata Q7802077 |
| Kích thước thành nội | Hình chữ nhật dài khoảng 500 mét (Bắc - Nam) x rộng 400 mét (Đông - Tây), có tường gạch và hào nước 4 phía | Báo cáo Khảo cổ Cục Khảo cổ Nepal (DoA) và Đại học Durham |
| Niên đại các tầng văn hóa | Thế kỷ 8 TCN tới thế kỷ 3 CN (trải qua các thời kỳ PGW, NBPW / Thời Đức Phật, Maurya, Sunga và Kushan) | Kết quả định tuổi Carbon phóng xạ dự án UNESCO / Durham University |
| Các di tích vệ tinh liên kết | Tháp đôi Dhamnihawa, Đền Samai Mai, Tịnh xá Kudan (Nigrodharama), Trụ đá Gotihawa và Nigali Sagar | Quỹ Phát triển Lâm Tỳ Ni (Lumbini Development Trust) |
| Vị trí hành chính | Làng Tilaurakot (cách Taulihawa 3 km về phía bắc), đô thị Kapilvastu, huyện Kapilvastu, tỉnh Lumbini | Tổng cục Du lịch Nepal (Nepal Tourism Board) |
IVThế Đất Và Hướng
Việc vương tộc Thích Ca lựa chọn gò đất Tilaurakot bên bờ sông Banganga để kiến thiết kinh đô cách đây gần hai nghìn tám trăm năm cho thấy trình độ quy hoạch đô thị và cảm thụ địa lý sơn thủy xuất sắc của cư dân cổ đại vùng chân núi Himalaya. Phần dưới đây phân tích địa thế của kinh thành Ca Tỳ La Vệ theo phép xem hình thế cổ truyền của thư viện.
Xét về long mạch sơn thủy vùng đồng bằng chân núi Terai tại tọa độ 27,5744 độ vĩ bắc, 83,0528 độ kinh đông, thành cổ Tilaurakot tọa lạc trên một gò đất cao tự nhiên chống ngập lụt, phía bắc có dãy núi Churia / Siwalik (tiền sơn của đại ngàn Himalaya) trải dài làm Hậu Chẩm Huyền Vũ che chắn gió bấc và cung cấp nguồn nước ngầm dồi dào. Ngay sát rìa phía tây của thành cổ là dòng sông Banganga (sông Bhagirathi cổ) chảy từ hẻm núi phía bắc uốn khúc ôm lấy sườn tây kinh thành rồi xuôi về đồng bằng phía nam để hội lưu vào hệ thống sông Hằng. Trong phép xem thủy pháp định đô cổ đại, thế đất có núi phía bắc làm hậu thuẫn, sông lớn uốn vòng bên sườn tây làm hào thiên nhiên và đồng bằng lúa nước phì nhiêu mở rộng về phía nam và phía đông chính là cục diện bối sơn lâm thủy, bình dương tàng châu (tựa núi nhìn sông, đất lành nuôi dưỡng bậc thánh nhân).
Xét về tọa hướng quy hoạch thành quách và trục tứ phương, toàn bộ kinh thành Tilaurakot được định vị chuẩn xác theo bốn phương chính Đông, Tây, Nam, Bắc với hệ thống bốn cổng thành mở ra bốn hướng và hào nước dẫn thủy từ sông Banganga bao bọc quanh bốn mặt tường thành để tụ khí. Đáng chú ý nhất về mặt biểu tượng không gian là Cổng Đông (Mahabhinishkramana Dwar): phương Đông thuộc quẻ Chấn, là phương mặt trời mọc và sự khởi sinh của ánh sáng trí tuệ. Việc Thái tử Tất Đạt Đa bước qua Cổng Đông để từ bỏ cung thành đi về phía đông nam (hướng về vùng Magadha và Bồ Đề Đạo Tràng) mang ý nghĩa thiên thời và địa lợi sâu sắc: rời khỏi sự bảo bọc khép kín của hoàng thành để đón nhận ánh bình minh giác ngộ chiếu rọi khắp muôn phương.
VĐại Lễ Phật Đản, Pháp Hội Tưởng Niệm Đêm Thái Tử Xuất Gia Và Hành Trình Chiêm Bái Từ Lâm Tỳ Ni Về Ca Tỳ La Vệ
Ngày nay, dưới sự quản lý và bảo tồn của Quỹ Phát triển Lâm Tỳ Ni (Lumbini Development Trust), Khu khảo cổ Tilaurakot - Kapilavastu không chỉ là một địa điểm nghiên cứu khoa học mà còn là một thánh địa hành hương sống động, gắn kết chặt chẽ với Lâm Tỳ Ni (Đền Maya Devi) và Việt Nam Phật Quốc Tự tại Lâm Tỳ Ni (Lumbini). Bảng dưới đây tổng hợp các kỳ lễ tiết và nghi thức chiêm bái chính tại di tích.
| Thời gian | Hệ lịch | Tên lễ tiết | Nghi thức và sinh hoạt tại Khu khảo cổ Kapilavastu (Tilaurakot) |
|---|---|---|---|
| Ngày Trăng tròn tháng Tư âm lịch (tháng Vaisakha) | Lịch Phật giáo Nepal (tháng 5 dương lịch) | Đại lễ Phật Đản Vesak (Buddha Jayanti) và Lễ rước Thái tử từ Lâm Tỳ Ni về Ca Tỳ La Vệ | Ngay sau đại lễ kỷ niệm Đức Phật đản sinh tại Vườn Thánh Lâm Tỳ Ni, một đoàn rước trang nghiêm rước kiệu tôn tượng Đức Phật sơ sinh dọc theo con đường lịch sử 27 km từ Lâm Tỳ Ni trở về hoàng cung cổ Tilaurakot để tái hiện sự kiện Vua Tịnh Phạn đón Thái tử về thành Ca Tỳ La Vệ. |
| Ngày Trăng tròn tháng Sáu âm lịch Ấn Độ (Asadha Purnima) | Lịch Phật giáo (tháng 7 dương lịch) | Lễ kỷ niệm Đêm Thái tử Tất Đạt Đa Vượt Thành Xuất Gia và Chuyển Pháp Luân | Chư tăng các truyền thống Nam truyền, Bắc truyền, Kim Cương thừa cùng Phật tử tụ hội trước di tích Cổng Đông (Mahabhinishkramana Dwar) thắp đèn hoa đăng, tụng kinh tưởng niệm ý chí xuất trần của Thái tử ở tuổi 29. |
| Ngày Trăng tròn tháng Ba âm lịch (Phalguna Purnima) | Lịch Nepal (tháng 3 dương lịch) | Lễ kỷ niệm Ngày Đức Phật Trở Về Thăm Quê Hương Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu Day) | Khóa lễ tụng kinh và hành hương bộ hành từ thành cổ Tilaurakot xuống khu bảo tháp Kudan (tịnh xá Nigrodharama) để tưởng niệm cuộc hội ngộ giữa Đức Phật với Vua Tịnh Phạn, Hoàng hậu Kiều Đàm Di, Da Du Đà La và La Hầu La. |
| Mùa đông từ tháng 11 tới tháng 3 hằng năm | Chu kỳ hàng năm | Mùa Hành hương Quốc tế và Khóa tu Thiền hành quanh Cổng Đông và Hoàng cung cổ | Hàng nghìn tăng ni, Phật tử từ Việt Nam, Sri Lanka, Thái Lan, Myanmar, Nhật Bản, Hàn Quốc và phương Tây đến đi thiền hành trên lối gỗ quanh nền cung điện cổ, đắp y vàng lên nền gạch Cổng Đông và ngồi thiền dưới bóng cây cổ thụ. |
| Các ngày thứ Bảy và dịp lễ hội mùa xuân | Lịch dân gian địa phương | Lễ cầu an tại Đền Samai Mai trên gò thành Tilaurakot | Người dân địa phương vùng Taulihawa và Kapilvastu đến dâng hoa quả và đất nung hình voi ngựa tại ngôi đền nữ thần bản địa Samai Mai nằm trên gò trung tâm, tạo nên sự giao hòa văn hóa lâu đời. |
Những bước chân thiền hành lặng lẽ trước nền gạch Cổng Đông hai nghìn năm trăm năm tuổi. Khoảnh khắc gây xúc động sâu sắc nhất đối với bất kỳ người hành hương nào khi đến thăm Tilaurakot là lúc dừng chân trước di tích Cổng Đông vào buổi chiều tà, khi ánh nắng vàng dịu chiếu qua rặng cây rừng in bóng xuống những viên gạch nung cổ xưa. Nhiều đoàn tăng ni và Phật tử Việt Nam sau khi chiêm bái tại Lâm Tỳ Ni đã về đây quỳ xuống bên lối gỗ, chạm nhẹ tay vào lớp đất thành Ca Tỳ La Vệ và tụng vang bài kệ tán thán công hạnh xuất gia của Thái tử Tất Đạt Đa.
Giữa sự tĩnh lặng tuyệt đối của vùng đồng bằng bên dòng sông Banganga, thành cổ Tilaurakot không còn tiếng ngựa xe của vương triều Thích Ca xưa, nhưng lại mở ra một không gian thiền quán vô giá giúp mỗi người tự soi chiếu lại hành trình tìm kiếm hạnh phúc chân thật của chính mình.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Làng Tilaurakot (cách thị trấn Taulihawa 3 km về phía bắc, bên bờ sông Banganga), đô thị Kapilvastu, huyện Kapilvastu, tỉnh Lumbini
- Đường tới
- Khu khảo cổ Tilaurakot nằm tại làng Tilaurakot, cách thị trấn Taulihawa (thủ phủ huyện Kapilvastu) khoảng 3 km về phía bắc và cách Vườn Thánh Lâm Tỳ Ni (Lumbini Sacred Garden) khoảng 27 tới 29 km về phía tây theo đường bộ. Từ Lâm Tỳ Ni hoặc từ Sân bay Quốc tế Gautam Buddha tại Bhairahawa (Siddharthanagar, cách Tilaurakot khoảng 45 km), du khách có thể thuê xe taxi, xe jeep hoặc xe buýt hành hương đi theo tuyến đường nhựa Lumbini - Taulihawa (mất khoảng 45 tới 50 phút từ Lâm Tỳ Ni) qua thị trấn Taulihawa rồi đi thẳng về phía bắc 3 km là tới cổng chính Khu khảo cổ Tilaurakot và Bảo tàng Kapilavastu. Khi đi lễ Tilaurakot, quý vị nên kết hợp ghé thăm cụm tháp Kudan (tịnh xá Nigrodharama, cách Tilaurakot 4,5 km về phía nam) và hai trụ đá Ashoka tại Gotihawa và Nigali Sagar nằm ngay trên cùng cung đường.
- Toạ độ
- 27.5744, 83.0528
Khu khảo cổ Tilaurakot (Kapilavastu) là một di tích khảo cổ học quốc gia đặc biệt đang trong quá trình hoàn thiện hồ sơ Di sản Thế giới UNESCO, đồng thời là thánh địa tâm linh tôn nghiêm. Khi tham quan và chiêm bái, xin quý vị đi đúng trên hệ thống cầu đường gỗ nâng cao (raised walkways) đã được thiết kế sẵn, tuyệt đối không bước chân trực tiếp lên các bức tường gạch cổ, không nhặt hoặc mang bất kỳ mảnh gốm, viên gạch cổ nào ra khỏi di tích. Quý vị cần tháo giày dép khi bước lên thềm gỗ hành lễ tại khu vực Cổng Đông (Mahabhinishkramana Dwar) và đền Samai Mai, ăn mặc lịch sự kín đáo, giữ sự tĩnh lặng cho các đoàn đang ngồi thiền và nhớ mang theo mũ rộng vành cùng nước uống vì khuôn viên thảo nguyên thành cổ rất rộng.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Khu khảo cổ Kapilavastu (Thành Ca Tỳ La Vệ tại Tilaurakot)
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Khu khảo cổ Tilaurakot có vai trò như thế nào trong lịch sử cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni?
Tilaurakot được giới khảo cổ học quốc tế và Chính phủ Nepal xác định là kinh thành cổ Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) của vương quốc Thích Ca (Shakya) dưới triều đại Vua Tịnh Phạn (Suddhodana). Đây chính là nơi Thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm đã sinh sống và trưởng thành suốt 29 năm đầu đời trước khi vượt qua Cổng Đông xuất gia tìm đạo, và cũng là nơi ngài trở về thuyết pháp độ cho phụ vương và hoàng tộc sau khi thành Phật.
Những công trình khảo cổ tiêu biểu nào đã được phát lộ tại thành cổ Tilaurakot?
Qua hơn một thế kỷ khai quật, đặc biệt là dự án hợp tác giữa Nepal, UNESCO và Đại học Durham (Anh quốc) từ năm 2011, các nhà khảo cổ đã làm lộ diện hệ thống tường thành gạch nung và hào nước bao quanh đô thị rộng 500 x 400 mét, khu phức hợp Hoàng cung trung tâm có tường bao riêng, hồ nước nghi lễ lớn, Cổng Tây, khu xưởng luyện kim cổ, và nổi bật nhất là Cổng Đông (Mahabhinishkramana Dwar) nơi Thái tử xuất gia.
Các di tích Kudan, Dhamnihawa, Gotihawa và Nigali Sagar quanh Tilaurakot có ý nghĩa gì?
Đây là hệ thống di tích vệ tinh hợp thành cảnh quan văn hóa Đại Ca Tỳ La Vệ (Greater Kapilavastu): cặp tháp đôi Dhamnihawa ở phía bắc thành tưởng niệm Vua Tịnh Phạn và Hoàng hậu Ma Da; khu tháp Kudan ở phía nam là tịnh xá Nigrodharama nơi Đức Phật lưu trú khi về thăm quê hương; còn Gotihawa và Nigali Sagar là hai nơi còn lưu giữ trụ đá của Hoàng đế Ashoka đánh dấu nơi đản sinh của hai vị Phật quá khứ là Phật Câu Lưu Tôn và Phật Câu Na Hàm Mâu Ni.
Niên đại của thành cổ Tilaurakot đã được khoa học hiện đại xác định ra sao?
Các kết quả định tuổi bằng phương pháp carbon phóng xạ và phát quang kích thích quang học (OSL) của phái đoàn Đại học Durham đã chứng minh Tilaurakot có người định cư và quy hoạch từ thế kỷ thứ 8 trước Công nguyên (thời kỳ đồ gốm xám vẽ PGW), phát triển thành đô thị có lũy thành và hào nước vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên (thời kỳ Đức Phật và đồ gốm đen bóng NBPW), và được xây tường gạch kiên cố dưới thời Maurya - Sunga.
Khu khảo cổ Tilaurakot cách Vườn Thánh Lâm Tỳ Ni bao xa và đi lại như thế nào?
Tilaurakot nằm cách Vườn Thánh Lâm Tỳ Ni khoảng 27 km về phía tây (thuộc huyện Kapilvastu, tỉnh Lumbini). Du khách từ Lâm Tỳ Ni có thể đi ô tô hoặc taxi theo tuyến đường thẳng Lumbini - Taulihawa chỉ mất khoảng 45 phút là tới cổng khu khảo cổ và Bảo tàng Kapilavastu.