Nằm cách trung tâm thủ đô Kathmandu khoảng mười chín kilômét về phía nam, nơi dòng sông thiêng Bagmati chảy thoát qua hẻm núi Chobhar để rời khỏi lòng chảo thung lũng Kathmandu tiến về vùng đồi núi Dakshinkali xanh thẳm, cổ trấn Pharping (trong kinh điển Tây Tạng gọi là thánh địa Yanglesho) hiện lên giữa những cánh rừng thông cổ thụ, những thửa ruộng bậc thang lúa chín vàng và hàng vạn lá cờ cầu nguyện Lungta giăng kín các sườn đồi. Đối với các hành giả Phật giáo Kim Cương thừa (Vajrayana) khắp Tây Tạng, Nepal, Bhutan và toàn thế giới, Pharping không chỉ là một thị trấn cổ của người Newar, mà được tôn sùng như một Bồ Đề Đạo Tràng thứ hai (Second Bodh Gaya).
Bởi lẽ, nếu Bồ Đề Đạo Tràng tại Ấn Độ là nơi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo dưới cội bồ đề, thì chính tại hai hang động đá vôi của Pharping là Động Yanglesho (Hạ Yanglesho) và Động Asura (Thượng Yanglesho) vào thế kỷ thứ 8, bậc Đạo sư Liên Hoa Sinh (Guru Rinpoche / Padmasambhava, vị Phật thứ hai trong tâm thức người Tây Tạng) đã nhập thất khổ luyện, kết hợp pháp môn Yangdak Heruka với pháp môn Phổ Ba Kim Cương (Vajrakilaya / Dorje Phurba) để hàng phục các thế lực gây hạn hán dịch bệnh khắp Nepal và Tây Tạng, từ đó chứng đắc quả vị Đại Thủ Ấn Trì Minh (Mahamudra Vidyadhara) tối thượng và để lại dấu bàn tay in sâu vào vách đá cứng ngay trước cửa động Asura.

ILiên Hoa Sinh Đại Sư, Pháp Môn Phổ Ba Kim Cương Hàng Phục Chướng Nạn Và Chư Bổn Tôn Hộ Trì Thánh Địa Yanglesho
Trong lịch sử truyền thừa Kim Cương thừa, trước khi nhận lời thỉnh cầu của Quốc vương Tây Tạng Trisong Detsen lên xứ tuyết xây dựng Tu viện Samye vào thế kỷ 8, Liên Hoa Sinh Đại Sư (Padmasambhava) cùng vị phối ngẫu tâm linh người Nepal là công chúa Shakyadevi đã dừng chân nhập thất dài ngày tại vùng núi Yanglesho (nay là Pharping). Ban đầu, ngài thực hành pháp thiền định Yangdak Heruka (một trong Tám Pháp Hành Kagyu / Kagye đại diện cho Tâm giác ngộ thanh tịnh của chư Phật) tại Động Yanglesho ở chân đồi và Động Asura trên đỉnh đồi. Tuy nhiên, vào thời điểm ấy, các thế lực tinh linh phi nhân và ma chướng hung dữ (Maras và Nagas) tại Nepal và Tây Tạng đã nổi lên quấy nhiễu, gây ra nạn đại hạn hán kéo dài suốt ba năm khiến mùa màng khô cháy, nạn đói và dịch bệnh hoành hành khắp vùng.
Để cứu độ chúng sinh và tháo gỡ chướng ngại cho công cuộc giác ngộ, Liên Hoa Sinh Đại Sư đã cử người về Ấn Độ thỉnh bộ mật điển Phổ Ba Kim Cương (Vajrakilaya Tantra, biểu trưng cho Hoạt dụng giác ngộ dũng mãnh phá trừ mọi vô minh và ác nghiệp). Ngay khi các bản kinh Phổ Ba Kim Cương vừa được mang tới ranh giới Pharping, những cơn mưa rào mát lành lập tức trút xuống giải tỏa cơn hạn hán, cỏ cây hồi sinh và dịch bệnh chấm dứt. Nhờ kết hợp song vận cả hai pháp môn Yangdak Heruka (tịnh hóa tâm thức) và Vajrakilaya (hàng phục ngoại chướng), Liên Hoa Sinh Đại Sư đã thành tựu cảnh giới Đại Thủ Ấn (Mahamudra) ngay trong Động Asura.
Bên cạnh thánh tích của Tổ sư Liên Hoa Sinh, sườn đồi Pharping còn là nơi hội tụ của hai linh tượng bổn tôn nữ thần tối linh trong Phật giáo Mật thừa. Thứ nhất là Đức Độ Mẫu Tara Xanh Tự Hiện (Self-Arisen Green Tara / Dolma Rangjung) nổi lên tự nhiên từ vách đá ngay sát chân cầu thang dẫn lên Động Asura. Thứ hai là Đền Kim Cương Du Già Nữ Pharping (Pharping Vajrayogini Temple, một trong bốn ngôi đền Vajrayogini cổ kính nhất thung lũng Kathmandu của truyền thống Phật giáo Newar) tọa lạc ở lưng chừng đồi, nơi tôn trí kim thân Đức Vajrayogini (Dorje Naljorma, vị Không Hành Nữ tối thượng của trí tuệ Bát Nhã) cầm dao cong Kartika và chén sọ Kapala từng được các dịch giả Tây Tạng lừng danh như Marpa Lotsawa đến đảnh lễ trước khi sang Ấn Độ cầu pháp.
Câu chuyện Liên Hoa Sinh Đại Sư phải kết hợp cả hai pháp môn Yangdak Heruka và Phổ Ba Kim Cương (Vajrakilaya) tại Pharping để lại một bài học giáo nghĩa sâu sắc cho mọi người tu học Phật pháp: trên con đường hướng tới giác ngộ, bên cạnh việc nuôi dưỡng tâm thanh tịnh và lòng từ bi êm dịu (như ngọn đèn Yangdak), hành giả còn cần đến sức mạnh quyết liệt của trí tuệ kim cương (như mũi chùy ba cạnh Phurba của Vajrakilaya) để đâm thủng ba độc tham, sân, si và chuyển hóa chính những nghịch cảnh, chướng ngại của cuộc đời thành đạo quả bồ đề.
Hình ảnh dấu bàn tay của Liên Hoa Sinh Đại Sư in sâu vào tảng đá cứng bên cửa Động Asura cũng không đơn thuần là một phép thần thông, mà là biểu chứng trực quan của giáo lý Tính Không (Shunyata): khi một bậc giác ngộ đã chứng ngộ bản chất rỗng lặng của vạn pháp, ranh giới cứng chắc giữa tâm thức và vật chất (đá tảng) hoàn toàn tan biến.
Sử liệu thung lũng Kathmandu ghi nhận Pharping (tên tiếng Newar cổ là Phamting, tên tiếng Phạn là ikharapuri) từng là một tiểu vương quốc đô thị độc lập phồn thịnh từ thời kỳ Licchavi và Thakuri cho tới thời kỳ Malla (thế kỷ 11 tới thế kỷ 15). Nằm ngay trên tuyến thương đạo huyết mạch cổ xưa nối liền thung lũng Kathmandu với vùng đồng bằng Ấn Độ qua đèo Kulekhani và Chitlang, Pharping là trạm dừng chân bắt buộc của tất cả các đại học giả Ấn Độ (như ngài Atisha Dipankara vào thế kỷ 11, ngài Shantarakshita thế kỷ 8) trên đường vào Tây Tạng, cũng như các dịch giả Tây Tạng sang Ấn Độ cầu pháp.
Đặc biệt, vào thế kỷ 11, Pharping là quê hương của Anh em nhà Phamtingpa (Phamtingpa Brothers, đứng đầu là đại thành tựu giả Jnanavajra / Abhayakirti), những vị đệ tử ruột người Newar của đại sư Ấn Độ Naropa đã đem truyền thừa mật pháp Chakrasamvara (Thắng Lạc Kim Cương) và Vajrayogini từ Ấn Độ về truyền dạy tại Pharping trước khi truyền sang Tây Tạng. Sang thế kỷ 20 và 21, các bậc đại đạo sư vĩ đại của Tây Tạng như Chatral Sangye Dorje Rinpoche (1913 tới 2015, bậc đại thành tựu giả Đại Viên Mãn Dzogchen sống thọ hơn một trăm tuổi tại chính Pharping), Tulku Urgyen Rinpoche và Namkhai Norbu Rinpoche đã kiến tạo hàng chục tu viện và trung tâm nhập thất ba năm quanh Động Asura và Động Yanglesho.
Do Pharping nằm ngay trên trục đường dẫn vào ngôi đền Dakshinkali (đền thờ nữ thần Kali của Ấn Độ giáo nằm dưới khe suối cách Pharping khoảng 1,5 km, nơi có tục hiến sinh động vật vào ngày thứ Ba và thứ Bảy), một số du khách lần đầu đến vùng này thường nhầm lẫn hai khu vực. Cần phân biệt rõ: toàn bộ sườn đồi Pharping (Yanglesho và Động Asura) là thánh địa Phật giáo thuần tịnh, nơi tuyệt đối giữ giới bất sát; chính Đại lão đạo sư Chatral Rinpoche khi còn tại thế tại Pharping đã dành cả cuộc đời để thuyết giảng từ bi và mua chuộc, phóng sinh hàng vạn con vật khỏi lò mổ mỗi năm.
IITừ Thời Kỳ Liên Hoa Sinh Thế Kỷ 8, Anh Em Nhà Phamtingpa Thế Kỷ 11 Đến Trung Tâm Nhập Thất Của Chatral Rinpoche
Trải qua hơn một nghìn hai trăm năm kể từ khi Liên Hoa Sinh Đại Sư nhập thất tại Động Yanglesho và Động Asura vào thế kỷ thứ 8, dòng mạch tu trì tại sườn núi Pharping chưa bao giờ bị đứt đoạn. Dưới triều đại các vị vua Malla từ thế kỷ 13 tới thế kỷ 17, ngôi đền ba tầng mái ngói truyền thống Newar thờ Đức Kim Cương Du Già Nữ (Pharping Vajrayogini) cùng các giếng nước đá cổ (Hiti) và ao nước thiêng gắn với thần rắn Naga tại Shesh Narayan đã được trùng tu lộng lẫy, biến Pharping thành nơi giao hòa giữa Phật giáo Kim Cương thừa và tín ngưỡng Vishnu cổ đại.
Bước sang nửa sau thế kỷ 20, khi nhiều bậc cao tăng Tây Tạng tìm về thung lũng Kathmandu, Pharping đã bước vào thời kỳ phục hưng rực rỡ. Bậc đại thành tựu giả phái Nyingma là Chatral Sangye Dorje Rinpoche đã chọn khu vực ngay dưới chân Động Yanglesho để lập tự viện và trung tâm nhập thất nghiêm mật; tiếp đó Tulku Urgyen Rinpoche lập Tu viện Pema Ösel Ling ngay bên trên Động Asura, cùng với các đại tự viện của dòng Kagyu, Sakya và Gelug mọc lên khắp các ngọn đồi xung quanh, biến Pharping thành thủ phủ nhập thất thiền định yên tĩnh nhất của Nepal.
- Thế kỷ 8 CNLiên Hoa Sinh Đại Sư (Guru Rinpoche) nhập thất tại Động Yanglesho và Động AsuraGuru Rinpoche cùng công chúa Shakyadevi tu tập pháp Yangdak Heruka và Phổ Ba Kim Cương (Vajrakilaya) tại hai hang động ở Pharping, hóa giải nạn hạn hán 3 năm và chứng đắc Đại Thủ Ấn (Mahamudra).
- Thế kỷ 11 CNAnh em đại dịch giả nhà Phamtingpa hoằng truyền mật điển Naropa tại PharpingCác vị đạo sư người Newar vùng Pharping (Phamting) trở về từ Ấn Độ sau khi thọ pháp với Tổ sư Naropa, biến Pharping thành trung tâm truyền bá pháp Thắng Lạc Kim Cương và Kim Cương Du Già Nữ cho các hành giả Tây Tạng.
- Thế kỷ 15 tới thế kỷ 17 (Thời Malla)Kiến tạo và trùng tu Đền Pharping Vajrayogini và khu hồ đá Shesh NarayanCác vị vua triều đại Malla xây dựng ngôi đền ba tầng mái đồng thờ Đức Kim Cương Du Già Nữ trên sườn đồi Pharping và hệ thống bậc đá, hồ nước cổ dưới chân Động Yanglesho.
- Thập niên 1960 tới 1990Đại sư Chatral Rinpoche và Tulku Urgyen Rinpoche chấn hưng thánh địa YangleshoĐức Chatral Sangye Dorje Rinpoche lập Tu viện Yanglesho và bảo hộ Động Yanglesho; Đức Tulku Urgyen Rinpoche lập Tu viện Pema Ösel Ling và trung tâm nhập thất bảo tồn Động Asura trên đỉnh đồi.
- Thế kỷ 21 tới nayQuần thể hàng chục tu viện và trung tâm nhập thất quốc tế quanh PharpingPharping phát triển thành trung tâm nhập thất 3 năm 3 tháng lớn nhất Nepal, đón tiếp hàng vạn hành giả Kim Cương thừa từ khắp thế giới về chiêm bái dấu tay Guru Rinpoche và bức tượng Tara tự hiện.
Nhà máy thủy điện cổ nhất Nepal (1911) bên dòng suối thiêng Pharping. Một chi tiết lịch sử thú vị gắn liền với nguồn mạch nước ngầm dồi dào chảy ra từ chân núi Pharping (khu vực hồ Shesh Narayan và Động Yanglesho) là vào năm 1911, nhà máy thủy điện đầu tiên của vương quốc Nepal (và là nhà máy thủy điện thứ hai của toàn châu Á) mang tên Chandra Jyoti Hydroelectric Power Station công suất 500 kW đã được xây dựng ngay tại Pharping, dẫn nước từ các mạch suối quanh thánh địa để thắp sáng thủ đô Kathmandu. Ngày nay, đường ống dẫn nước và trạm phát điện lịch sử hơn một thế kỷ tuổi ấy vẫn được bảo tồn như một di sản kỹ thuật bên cạnh không gian tâm linh cổ kính.
IIIĐộng Asura Trên Đỉnh Đồi, Động Hạ Yanglesho Bên Hồ Nước, Đền Tara Tự Hiện Và Cổ Tự Vajrayogini
Quần thể Thánh địa Pharping không phải là một tòa nhà đơn lẻ mà là một trục hành hương thẳng đứng men theo sườn núi đá vôi rừng thông, kết nối hai cụm di tích chính cách nhau khoảng một kilômét đường dốc bậc thang: cụm Hạ Yanglesho (gắn với hồ nước thiêng Shesh Narayan ở chân đồi phía nam) và cụm Thượng Yanglesho - Động Asura (nằm trên đỉnh đồi cao ở phía bắc, đi qua Đền Vajrayogini và Đền Độ Mẫu Tara Tự Hiện).
Dọc theo hàng trăm bậc thang đá dẫn lên các hang động, những tán thông già và vách đá được phủ kín bởi hàng triệu lá cờ cầu nguyện Lungta nhiều màu đan thành mái vòm rực rỡ, dẫn dắt người hành hương đi từ cõi trần gian bước dần lên không gian mật nghiêm tĩnh lặng.
Nằm trên đỉnh đồi cao rợp bóng rừng thông trong khuôn viên Tu viện Pema Ösel Ling, ngay bên trái cửa hang đá hẹp là dấu bàn tay trái của Liên Hoa Sinh Đại Sư in lõm sâu vào vách đá; bên trong lòng động tôn trí tôn tượng Guru Rinpoche, bổn tôn Yangdak Heruka, Phổ Ba Kim Cương và vết lồi trên trần đá nơi đỉnh đầu ngài chạm vào khi xuất định.
Nằm ở chân vách đá vôi ngay phía trên hệ thống bốn hồ nước trong vắt có cá bơi lội và đền Shesh Narayan, đây là hang động đầu tiên nơi Guru Rinpoche nhập thất, liền kề là tu viện và bảo tháp xá lợi của cố Đại lão đạo sư Chatral Sangye Dorje Rinpoche.
Nằm ngay dưới chân cầu thang dẫn lên Động Asura là ngôi điện thờ bao bọc quanh một vách đá tự nhiên, nơi hình tượng Đức Độ Mẫu Tara Xanh (Arya Tara) cùng các chủng tự mật chú nổi lên rõ nét từ lòng đá và lớn dần theo năm tháng dưới ánh đèn bơ.
Ngôi cổ tự ba tầng mái đồng mạ vàng mang kiến trúc Newar thời Malla nằm ở lưng chừng đồi giữa đường từ thị trấn Pharping lên Động Asura, tôn trí bức tượng Đức Vajrayogini màu đỏ thẫm cực kỳ linh ứng.
Bao quanh sườn núi và thung lũng Pharping là hàng loạt tự viện nguy nga như Tu viện Rigon Tashi Choeling (dòng Nyingma), Tu viện Neydo Tashi Choeling (dòng Karma Kagyu), cùng các thất nhập thất ba năm của chư tăng ni quốc tế.
| Hạng mục | Thông số lịch sử và kiến trúc | Nguồn kiểm chứng |
|---|---|---|
| Tên thánh địa | Thánh địa Pharping (Yanglesho) và Động Asura (Asura Cave / Upper Yanglesho) | Kinh điển Nyingma và Wikidata Q7180861 |
| Niên đại khởi nguyên | Thế kỷ 8 CN (gắn với cuộc nhập thất của Liên Hoa Sinh Đại Sư / Guru Rinpoche) | Tiểu sử Liên Hoa Sinh (Padma Kathang) và biên niên sử Phật giáo Tây Tạng |
| Các điểm chiêm bái cốt lõi | Động Asura (dấu tay Guru Rinpoche), Động Hạ Yanglesho, Đền Tara Tự Hiện và Đền Pharping Vajrayogini | Hồ sơ di sản Đô thị Dakshinkali và Tổng cục Du lịch Nepal |
| Pháp môn thành tựu gắn liền | Song vận pháp Yangdak Heruka và Phổ Ba Kim Cương (Vajrakilaya), chứng đắc Đại Thủ Ấn (Mahamudra) | Truyền thừa Cổ Mật Nyingma và Kagyu |
| Vị trí hành chính | Cổ trấn Pharping, đô thị Dakshinkali, huyện Kathmandu, tỉnh Bagmati (cách trung tâm Kathmandu 19 km về phía nam) | Chính quyền Đô thị Dakshinkali (dakshinkalimun.gov.np) |
IVThế Đất Và Hướng
Trong địa lý mật tông Tây Tạng (Sa-che), các bậc đạo sư luôn tìm kiếm những hang động nằm trên sườn núi đá vôi có rừng già bao bọc phía sau, suối nguồn chảy dưới chân và tầm nhìn mở rộng về phương nam ấm áp để làm nơi nhập thất đại định. Thánh địa Pharping hội tụ trọn vẹn mọi tiêu chuẩn khắt khe nhất của một Động thiên phúc địa. Phần dưới đây phân tích thế đất của Pharping theo phép xem hình thế cổ truyền của thư viện.
Xét về sơn mạch và thủy khẩu rìa nam thung lũng Kathmandu tại tọa độ 27,6083 độ vĩ bắc, 85,2636 độ kinh đông (cao độ khoảng 1.550 tới 1.700 mét), Pharping tọa lạc trên sườn núi phía nam của dãy Champadevi (cao 2.278 mét), ngay phía tây hẻm núi Chobhar và thung lũng sông Bagmati (nơi toàn bộ nguồn nước của thung lũng Kathmandu tụ hội trước khi chảy thoát về phương nam). Trong phép xem hình thế sơn thủy, dãy núi Champadevi hùng vĩ uốn lượn phía bắc và phía tây tạo thành bức bình phong Hậu Chẩm Huyền Vũ và cánh tay Bạch Hổ vững chãi che chắn hoàn toàn gió lạnh, trong khi mạch đá vôi ngầm của núi tiết ra những dòng suối nước ngọt trong vắt quanh năm tụ lại thành bốn hồ nước cổ tại chân Động Yanglesho (Shesh Narayan) trước khi đổ xuống thung lũng ruộng bậc thang phía dưới.
Xét về tọa hướng của Động Asura và Động Yanglesho, cả hai hang động thiêng của Liên Hoa Sinh Đại Sư đều nằm lưng chừng vách núi đá theo thế tọa Bắc (hoặc Tây Bắc) hướng Nam (hoặc Đông Nam). Việc cửa động mở về phương Nam và Đông Nam giúp lòng hang đá luôn khô ráo, đón nhận trọn vẹn ánh nắng mặt trời ấm áp và luồng sinh khí thanh lương từ thung lũng sông Bagmati đưa lên, đồng thời phóng tầm mắt nhìn bao quát toàn bộ vùng đồi núi trùng điệp đóng vai trò Minh Đường và Chu Tước ở phía trước. Thế đất thượng động tàng phong, hạ đầm tụ thủy, tọa Bắc triều Nam này chính là cục diện lý tưởng giúp hành giả giữ ấm khí huyết và an định tâm thần suốt nhiều năm nhập thất.
VNgày Vía Liên Hoa Sinh Mùng Mười Hàng Tháng, Pháp Hội Phổ Ba Kim Cương Và Mùa Nhập Thất Đông Xuân
Là thánh địa sống động của các dòng truyền thừa Phật giáo Tây Tạng và Phật giáo Newar, quanh năm tại Pharping đều vang lên tiếng tụng mật chú Om Ah Hum Vajra Guru Padma Siddhi Hum và tiếng trống Damaru từ các hang động và tự viện. Bảng dưới đây tổng hợp các kỳ lễ tiết quan trọng nhất tại thánh địa.
| Thời gian | Hệ lịch | Tên lễ tiết | Nghi thức và sinh hoạt tại Thánh địa Pharping (Yanglesho và Động Asura) |
|---|---|---|---|
| Ngày mùng 10 âm lịch hàng tháng (đặc biệt là mùng 10 tháng Sáu - Ngày Đản sinh Guru Rinpoche) | Lịch Tây Tạng | Ngày Vía Đức Liên Hoa Sinh Đại Sư (Guru Rinpoche Tsok Bum / Tsechu) | Vào ngày mùng 10 mỗi tháng âm lịch, hàng nghìn chư tăng ni và hành giả từ khu vực Bảo tháp Boudhanath, Swayambhunath và khắp thế giới đổ về Động Asura và Động Yanglesho để cử hành đại lễ cúng dường Ganachakra (Tsok), thắp hàng vạn ngọn đèn bơ và đảnh lễ dấu bàn tay trên đá của Tổ sư. |
| Tháng Chạp âm lịch Tây Tạng (cuối năm, kéo dài 7 tới 10 ngày) | Lịch Tây Tạng (tháng 1 hoặc tháng 2 dương lịch) | Đại Pháp hội Phổ Ba Kim Cương (Vajrakilaya Drupchen) trừ chướng cuối năm | Các tu viện lớn tại Pharping và Động Asura cử hành pháp hội tu tập liên tục ngày đêm bản kinh Phổ Ba Kim Cương (chính pháp môn Guru Rinpoche đã tu tại Pharping) cùng vũ điệu mặt nạ Cham để tiêu trừ mọi chướng nạn của năm cũ trước thềm năm mới Losar. |
| Ngày 25 âm lịch hàng tháng | Lịch Tây Tạng | Ngày Vía Không Hành Nữ (Dakini Day) tại Đền Pharping Vajrayogini và Đền Tara Tự Hiện | Các hành giả nữ và tín đồ Phật giáo Newar lẫn Tây Tạng vân tập về Đền Kim Cương Du Già Nữ (Vajrayogini) và Điện Độ Mẫu Tara Tự Hiện để dâng hoa, thực hành lễ cúng dường Tsok và cầu nguyện trí tuệ, bình an. |
| Mùng 1 tới ngày 15 tháng Giêng và Tháng Tư (Saga Dawa) | Lịch Tây Tạng | Lễ hội Năm mới Losar, Tháng Thánh Saga Dawa và Lễ Phóng sinh của truyền thống Chatral Rinpoche | Treo mới rừng cờ cầu nguyện Lungta nối liền các ngọn đồi quanh Động Asura, kết hợp thực hành phóng sinh cứu mạng cá và gia súc theo di huấn từ bi của cố Đại lão đạo sư Chatral Rinpoche. |
| Tháng 10 hoặc tháng 11 dương lịch (tháng Kartik) | Lịch Nepal (Haribodhini Ekadashi) | Lễ hội Hồ thiêng Shesh Narayan dưới chân Động Hạ Yanglesho | Tín đồ Phật giáo và Ấn Độ giáo địa phương cùng hành hương về cụm hồ đá và hang nhũ đá dưới chân Động Yanglesho để chiêm bái, thể hiện tinh thần hòa hợp tôn giáo lâu đời của vùng đất Nepal. |
Ánh đèn bơ ấm áp trong lòng Động Asura và rừng cờ Lungta bay giữa trời thu. Khi người hành hương cúi đầu bước qua cửa đá thấp hẹp để tiến vào bên trong lòng Động Asura trên đỉnh đồi Pharping, bầu không khí bên trong hang đá lập tức bao bọc lấy tâm thức bằng sự tĩnh lặng sâu thẳm đã tích tụ qua mười hai thế kỷ thiền định của các bậc đại thành tựu giả. Đặt nhẹ vầng trán chạm vào dấu bàn tay của Đức Liên Hoa Sinh trên vách đá ngoài cửa động rồi ngồi xếp bằng lắng nghe tiếng gió thổi qua hàng vạn lá cờ Lungta ngoài rừng thông, mỗi người đều cảm nhận được nguồn năng lượng bình an và vững chãi lạ thường.
Trong hành trình chiêm bái thung lũng Kathmandu, Thánh địa Pharping luôn kết nối thành một tam giác tâm linh hoàn chỉnh cùng với Bảo tháp Boudhanath (cùng Tu viện Shechen Tennyi Dargyeling, Boudhanath và Tu viện Kopan trên đồi Kapan, Kathmandu ở phía đông bắc) và Bảo tháp Swayambhunath ở trung tâm thung lũng.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Sườn núi cổ trấn Pharping, đô thị Dakshinkali, huyện Kathmandu, tỉnh Bagmati (cách trung tâm Kathmandu 19 km về phía nam)
- Đường tới
- Thánh địa Pharping thuộc đô thị Dakshinkali, nằm cách trung tâm thủ đô Kathmandu (khu Thamel hoặc Quảng trường Durbar) khoảng 19 km về phía nam (và cách khu vực Bảo tháp Boudhanath khoảng 24 km). Từ trung tâm Kathmandu hoặc từ trạm xe buýt Old Bus Park / Balkhu trên đường vành đai (Ring Road), du khách có thể đi taxi (mất khoảng 45 tới 60 phút tùy mật độ giao thông) hoặc đi xe buýt địa phương tuyến Kathmandu - Pharping / Dakshinkali chạy dọc theo bờ tây sông Bagmati qua hẻm núi Chobhar và thị trấn Kirtipur. Khi đến ngã ba thị trấn Pharping: rẽ trái xuống dốc khoảng 300 mét là tới cụm Động Hạ Yanglesho và hồ nước Shesh Narayan; còn đi thẳng lên đồi phía bắc thị trấn qua Đền Vajrayogini và Đền Độ Mẫu Tara Tự Hiện sẽ dẫn lên cầu thang đá của Động Asura (Thượng Yanglesho).
- Toạ độ
- 27.6083, 85.2636
Khi hành hương đến Thánh địa Pharping (Động Yanglesho, Động Asura, Đền Tara Tự Hiện và Đền Vajrayogini), quý vị cần chuẩn bị giày đi bộ êm chân vì sẽ phải leo hàng trăm bậc thang đá khá dốc lên đỉnh đồi Động Asura. Xin mặc trang phục kín đáo lịch sự, tháo giày dép trước khi bước vào các hang động thiêng và điện thờ. Bên trong Động Asura và Động Yanglesho không gian rất hẹp và thường có các vị Lạt ma, hành giả đang ngồi nhập định sâu; vì vậy quý vị cần giữ im lặng tuyệt đối, di chuyển nhẹ nhàng theo hàng, không dùng đèn flash chụp ảnh trong lòng động và đặc biệt lưu ý không cho đàn khỉ hoang dã dọc cầu thang ăn để tránh bị khỉ giật đồ.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Thánh địa Pharping và Động Asura của Liên Hoa Sinh Đại Sư
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao Thánh địa Pharping lại được tôn sùng như Bồ Đề Đạo Tràng thứ hai của Phật giáo Kim Cương thừa?
Pharping (tên cổ trong kinh điển Tây Tạng là Yanglesho) được tôn sùng ngang hàng với Bồ Đề Đạo Tràng vì vào thế kỷ thứ 8, trước khi vào Tây Tạng, Đại sư Liên Hoa Sinh (Guru Rinpoche / Padmasambhava) đã nhập thất tại hai hang động ở Pharping (Động Yanglesho và Động Asura), kết hợp pháp môn Yangdak Heruka và Phổ Ba Kim Cương (Vajrakilaya) để chứng đắc quả vị giác ngộ tối cao Đại Thủ Ấn (Mahamudra).
Động Asura và Động Yanglesho ở Pharping khác nhau như thế nào?
Cả hai đều là hang động nhập thất của Tổ sư Liên Hoa Sinh tại Pharping nhưng nằm ở hai cao độ khác nhau: Động Yanglesho (Hạ Yanglesho) nằm ở chân vách đá vôi ngay phía trên bốn hồ nước cổ Shesh Narayan và cạnh tu viện của cố Đại sư Chatral Rinpoche; còn Động Asura (Thượng Yanglesho) nằm cao trên đỉnh đồi rừng thông phía bắc thị trấn (trong khuôn viên Tu viện Pema Ösel Ling), nơi lưu giữ dấu bàn tay trái của Liên Hoa Sinh Đại Sư in sâu vào vách đá cửa động.
Ngoài hai hang động của Liên Hoa Sinh Đại Sư, ở Pharping còn có những điểm chiêm bái linh thiêng nào?
Ngay trên con đường bậc thang dẫn lên Động Asura, khách hành hương sẽ được chiêm bái Điện thờ Đức Độ Mẫu Tara Xanh Tự Hiện (Self-Arisen Green Tara) nổi lên tự nhiên từ vách đá núi, ngôi cổ tự ba tầng thời Malla thờ Đức Kim Cương Du Già Nữ (Pharping Vajrayogini Temple), cùng hàng chục đại tự viện và trung tâm nhập thất của các dòng Nyingma, Kagyu, Sakya và Gelug.
Dấu bàn tay trên đá tại cửa Động Asura có ý nghĩa gì đối với người hành hương?
Ngay bên trái lối vào Động Asura có một vết lõm hình bàn tay năm ngón rõ nét trên vách đá cứng, được truyền thống Kim Cương thừa tôn kính là dấu bàn tay do chính Liên Hoa Sinh Đại Sư ấn vào đá khi ngài hiển lộ thành tựu Đại Thủ Ấn. Người hành hương thường thành kính đặt tay hoặc chạm trán vào dấu tay này để xin nhận sự gia trì bình an và trí tuệ.
Thời điểm nào trong tháng hoặc trong năm là tốt nhất để hành hương về Pharping?
Du khách có thể đến chiêm bái Pharping vào bất kỳ ngày nào trong năm, nhưng những ngày đặc biệt linh thiêng nhất là ngày mùng 10 âm lịch hàng tháng theo lịch Tây Tạng (ngày vía Đức Liên Hoa Sinh - Guru Rinpoche Day) và ngày 25 âm lịch (ngày vía Không Hành Nữ - Dakini Day), khi hàng nghìn chư tăng ni và Phật tử vân tập về hai hang động để cử hành lễ cúng dường Tsok và thắp đèn bơ.