Từ quảng trường hành hương nhộn nhịp quanh Bảo tháp Boudhanath ở phía đông bắc thủ đô Kathmandu, nếu phóng tầm mắt lên phía bắc về hướng dãy núi Shivapuri, du khách sẽ nhìn thấy một ngọn đồi tròn xanh mướt bóng cây bồ đề và thông tùng nổi bật giữa thung lũng: trên đỉnh cao nhất của ngọn đồi ấy là những mái điện vàng óng và hàng bảo tháp trắng tinh khôi của Tu viện Kopan (tên pháp hiệu tiếng Tây Tạng là Ogmin Jangchub Choling, nghĩa là Thánh địa Giác ngộ Cõi Trời Sắc Cứu Cánh). Nằm trên địa bàn phường Kapan thuộc đô thị Budhanilkantha, ngọn đồi Kopan từ hơn nửa thế kỷ qua đã trở thành một địa danh huyền thoại đối với hàng trăm nghìn người tìm hiểu Phật giáo Tây Tạng từ khắp phương Đông lẫn phương Tây.
Được hai bậc cao tăng lỗi lạc của thế kỷ 20 là Lama Thubten Yeshe (1935 tới 1984) và đệ tử tâm truyền Lama Thubten Zopa Rinpoche (1946 tới 2023) mua đất và sáng lập vào năm 1969 với tâm nguyện ban đầu là mở một trường học nội trú cho trẻ em vùng núi Solukhumbu (quê hương người Sherpa dưới chân Everest), Tu viện Kopan đã nhanh chóng vươn mình thành chiếc nôi khai sinh ra Tổ chức Bảo tồn Truyền thống Đại thừa (Foundation for the Preservation of the Mahayana Tradition - FPMT), một trong những mạng lưới hoằng pháp và từ thiện Phật giáo lớn nhất toàn cầu với hơn 150 trung tâm tại 35 quốc gia. Bước qua cổng tu viện vào những khu vườn đầy hoa và những bức tượng Phật an nhiên nhìn xuống toàn cảnh lòng chảo Kathmandu, du khách lập tức cảm nhận được sự kết hợp kỳ diệu giữa giới luật học viện Sera Je cổ kính và tinh thần cởi mở, từ ái dành cho mọi người con tìm cầu chân lý.

ITruyền Thống Cách Lỗ Của Đại Sư Tông Khách Ba, Giáo Lý Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Lamrim Và Tâm Nguyện Của Hai Vị Đạo Sư Khai Sơn
Tu viện Kopan là một đại tùng lâm thuộc phái Cách Lỗ (Gelug, còn gọi là phái Mũ Vàng), truyền thống Phật giáo Tây Tạng do bậc đại học giả và nhà cải cách vĩ đại Đại sư Tông Khách Ba (Je Tsongkhapa Lobsang Drakpa, 1357 tới 1419) sáng lập trên nền tảng truyền thừa Kadam của Tôn giả Atisha Dipankara (982 tới 1054). Dòng truyền thừa tại Kopan nối trực tiếp với học viện Sera Je (một trong ba đại tự viện trụ cột của phái Gelug tại Lhasa, nơi cả Lama Thubten Yeshe và Lama Zopa Rinpoche từng tu học). Tên hiệu Ogmin Jangchub Choling của tu viện biểu trưng cho chí nguyện đưa hành giả đi trọn vẹn con đường từ phát khởi Bồ đề tâm (Jangchub Sem / Bodhicitta) cho tới quả vị Phật toàn giác nơi cõi Tịnh độ Ogmin (Akanistha).
Bước vào bên trong tòa chánh điện trung tâm (Lama Tsongkhapa Gompa) của Tu viện Kopan, tâm điểm thờ tự trên bảo tòa cao rộng là pho đại tượng Đại sư Tông Khách Ba (Je Rinpoche) cao hơn sáu mét mạ vàng rực rỡ ngồi trên tòa sư tử, hai bên ngực nở ra hai đóa hoa sen nâng thanh kiếm trí tuệ Văn Thù và bộ kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa, đi kèm hai vị thượng thủ đệ tử là Gyaltsab Je và Khedrup Je (hợp thành bộ Ba Cha Con Tông Khách Ba / Je Yabrasum). Xung quanh và tại các bảo điện khác trong khuôn viên chùa tôn trí kim thân Đức Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đức Phật Tương Lai Di Lặc (Maitreya), Đức Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn (Chenrezig), Đức Độ Mẫu Tara, tôn tượng Tôn giả Atisha và đặc biệt là các bảo tháp xá lợi thếp vàng lưu giữ nhục thân và xá lợi của cố Đại sư Lama Thubten Yeshe, Geshe Lama Konchog và Lama Zopa Rinpoche.
Tại sao giữa hàng trăm tự viện ở Kathmandu, Kopan lại có sức hút tâm linh mạnh mẽ đến vậy đối với người học Phật quốc tế? Câu trả lời nằm ở hệ thống giáo lý Lamrim (Bồ Đề Đạo Thứ Đệ, tức Các bước trên con đường dẫn tới Giác ngộ) được giảng dạy một cách mạch lạc, khoa học và thực tiễn tại đây. Thay vì giữ kín giáo pháp trong phạm vi tu sĩ bản địa, ngay từ năm 1971, Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche đã nhận thấy mọi con người dù sinh ra ở phương Đông hay phương Tây đều có chung nỗi khổ của tâm bất an và đều có chung khả năng phát triển lòng từ bi và trí tuệ.
Cốt tủy giáo nghĩa được truyền trao tại Tu viện Kopan suốt hơn năm thập kỷ qua được gói gọn trong ba nguyên lý căn bản của Lamrim do Đại sư Tông Khách Ba tổng hợp từ toàn bộ kinh điển của Đức Phật: một là Tâm xuất ly (Renunciation, nhận chân bản chất vô thường và bất toại nguyện của sự bám chấp thế gian để hướng tâm về giải thoát); hai là Bồ đề tâm (Bodhicitta, nuôi dưỡng tình thương yêu vô điều kiện và lòng trắc ẩn muốn giải thoát mọi chúng sinh khỏi khổ đau); và ba là Chánh kiến về Tính Không (Emptiness / Shunyata, thấu suốt sự duyên khởi tương tức của vạn pháp theo Trung Quán tông của Bồ Tát Long Thọ).
Lama Thubten Yeshe thường căn dặn các học trò tại Kopan bằng một ngôn ngữ vô cùng bình dị mà sâu sắc: Phật pháp không phải là một nhãn hiệu văn hóa Tây Tạng hay phương Đông để khoác lên người, mà là tấm gương tâm lý học giúp bạn hiểu rõ chính tâm thức của mình ngay trong từng hơi thở và từng hành động đối xử tử tế với người khác.
Sử liệu về sự ra đời của Tu viện Kopan ghi nhận một nhân duyên lịch sử đặc biệt: mảnh đất trên đỉnh đồi Kapan vốn là dinh thự mùa hè của chiêm tinh gia hoàng gia Nepal (Royal Astrologer của vương triều Rana và Shah). Trước đó nhiều thế kỷ, ngọn đồi Kapan này cũng được truyền tụng là nơi bậc đại dịch giả và triết gia Phật giáo Ấn Độ thế kỷ thứ 8 là Tịch Hộ (Shantarakshita, vị viện trưởng Đại học Nalanda) từng dừng chân lưu trú khi đi qua thung lũng Kathmandu trên đường vào Tây Tạng.
Vào năm 1969, sau khi gặp gỡ những học trò phương Tây đầu tiên (mà người mở đầu là nữ hành giả Zina Rachevsky năm 1967 tại Darjeeling), Lama Thubten Yeshe và vị đệ tử trẻ người Sherpa sinh tại vùng Thame (Khumbu) là Lama Thubten Zopa Rinpoche đã cùng đến Kathmandu và dùng số tiền quyên góp của các học trò để mua lại ngọn đồi Kapan từ gia đình vị chiêm tinh gia hoàng gia. Ban đầu, Lama Zopa Rinpoche thành lập tại đây Trường Tự viện Núi Everest (Mount Everest Centre for Buddhist Studies) với 25 chú tiểu người Sherpa từ vùng Solukhumbu xuống học chữ và kinh điển. Tháng 11 năm 1971, khóa tu thiền Lamrim một tháng đầu tiên (First November Course) được tổ chức tại Kopan với 12 học viên quốc tế; chỉ vài năm sau, số lượng người tham dự mỗi khóa tháng Mười Một đã lên tới hàng trăm người, đặt nền móng cho sự ra đời chính thức của tổ chức FPMT vào năm 1975.
Nhiều khách du lịch khi nghe tiếng tăm của các khóa tu thiền cho người nước ngoài tại Kopan thường lầm tưởng đây chỉ là một trung tâm thiền ngắn hạn dành cho khách phương Tây. Thực tế, cốt lõi của Kopan là một Đại chủng viện Tăng đoàn và Ni đoàn chính thống của Phật giáo Tây Tạng: hiện nay Tu viện Kopan trên đỉnh đồi là nơi tu học nội trú suốt 15 tới 20 năm của khoảng 380 tới 400 chư tăng từ khắp các vùng núi Nepal và Tây Tạng (đào tạo lên tới học vị Tiến sĩ Phật học Geshe ngang tầm với Sera Je), đồng thời ngay dưới chân đồi phía tây nam là Ni viện Khachoe Ghakyil Ling (Kopan Nunnery) nuôi dạy thêm gần 400 chư ni.
IIHơn Nửa Thế Kỷ Từ Ngôi Trường Nhỏ 25 Chú Tiểu Sherpa Năm 1969 Đến Đại Học Viện Phật Học Và Ni Viện Hàng Đầu Nepal
Từ những ngày đầu tiên vào năm 1969 khi Lama Yeshe, Lama Zopa Rinpoche và hai mươi lăm chú tiểu người Sherpa còn phải sống trong ngôi nhà gạch nhỏ thiếu thốn điện nước trên đỉnh đồi Kapan, lịch sử phát triển của Tu viện Kopan gắn liền với tầm nhìn giáo dục song hành giữa bảo tồn truyền thống kinh viện Tây Tạng và mở rộng cánh cửa đối thoại với thế giới hiện đại. Năm 1979, Lama Yeshe đã đi một bước tiên phong mang tính lịch sử trong Phật giáo Tây Tạng khi thành lập riêng một cộng đồng cho các ni cô tại Kopan và khuyến khích chư ni học tập triết học, tranh biện giáo lý (Debate) bình đẳng hoàn toàn với chư tăng; cộng đồng ấy đã phát triển thành Ni viện Khachoe Ghakyil Ling khánh thành cơ sở lớn vào năm 1994, nơi những nữ tiến sĩ Phật học (Geshema) đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Tây Tạng được đào tạo.
Sau khi Đại sư Lama Thubten Yeshe viên tịch vào tháng 3 năm 1984 ở tuổi 49 (và tái sinh thành Lama Ösel Hita Torres năm 1985), đức Lama Zopa Rinpoche cùng vị trụ trì lỗi lạc là Khensur Rinpoche Lama Lhundrup Rigsel (1941 tới 2011) và hiện nay là trụ trì Khen Rinpoche Geshe Thubten Chonyi đã tiếp tục mở rộng Tu viện Kopan thành một quần thể kiến trúc và học thuật đồ sộ: hoàn thành ngôi Đại Hùng Bảo Điện mới vào năm 2002, thành lập Phân viện Triết học Tantric College và bảo tồn di sản trọn vẹn của cố đại thành tựu giả Geshe Lama Konchog (1917 tới 2001, vị thiền sư từng nhập thất 26 năm trong hang đá vùng Tsum Valley trước khi về cư trú tại Kopan).
- Năm 1969Lama Thubten Yeshe và Lama Zopa Rinpoche mua đất trên đồi Kapan sáng lập Tu viện KopanHai vị đạo sư mua lại khu dinh thự mùa hè của chiêm tinh gia hoàng gia Nepal trên đỉnh đồi Kapan, thành lập trường nội trú Phật học đầu tiên cho 25 chú tiểu người Sherpa vùng Solukhumbu.
- Tháng 11 năm 1971 và năm 1975Tổ chức Khóa tu Thiền Lamrim Tháng Mười Một đầu tiên và thành lập mạng lưới FPMTTháng 11/1971 mở khóa tu thiền một tháng đầu tiên bằng tiếng Anh cho học viên quốc tế; năm 1975 từ đồi Kopan, hai vị đạo sư chính thức sáng lập Tổ chức Bảo tồn Truyền thống Đại thừa (FPMT).
- Năm 1979 và năm 1994Sáng lập Ni đoàn Kopan và xây dựng Ni viện Khachoe Ghakyil Ling (Kopan Nunnery)Khởi đầu từ nhóm ni cô nhỏ năm 1979, Ni viện Khachoe Ghakyil Ling được xây dựng khang trang dưới chân đồi Kapan vào năm 1994, trở thành một trong những học viện đào tạo Ni giới lớn nhất vùng Himalaya.
- Năm 1984 và năm 2001Lễ trà tỳ và kiến tạo Bảo tháp Xá lợi Lama Thubten Yeshe và Geshe Lama KonchogTôn trí xá lợi của đạo sư khai sơn Lama Yeshe (viên tịch năm 1984) trong ngôi bảo tháp trắng trước chánh điện và nhục thân xá lợi của đại thiền sư Geshe Lama Konchog (viên tịch năm 2001).
- Năm 2002 và năm 2023Khánh thành Đại Hùng Bảo Điện Lama Tsongkhapa và tưởng niệm đức Lama Zopa RinpocheNăm 2002 hoàn thành ngôi chánh điện trung tâm đồ sộ thờ tượng Đại sư Tông Khách Ba cao 6 mét; tháng 4 năm 2023 đức Pháp chủ Lama Zopa Rinpoche viên tịch, nhục thân xá lợi của ngài được tôn thờ trang nghiêm tại chính tổ đình Kopan.
Cuộc đời phi thường của đại hành giả Geshe Lama Konchog (1917 tới 2001) tại Tu viện Kopan. Một trong những câu chuyện truyền cảm hứng nhất trong lịch sử hiện đại của Tu viện Kopan là cuộc đời của Geshe Lama Konchog. Sau khi hoàn thành chương trình học vị Geshe tại Tu viện Sera Je ở Tây Tạng, ngài đã một mình ẩn tu suốt 26 năm ròng rã trong các hang đá hẻo lánh thuộc thung lũng Tsum (biên giới Nepal - Tây Tạng) theo đúng gương hạnh của Tổ sư Milarepa, trước khi nhận lời thỉnh cầu của Lama Zopa Rinpoche về an cư và truyền dạy thiền định tại Tu viện Kopan từ năm 1985 cho tới khi viên tịch năm 2001. Khi lễ trà tỳ của ngài cử hành tại Kopan, vô số viên xá lợi ngũ sắc đã kết tinh, và bộ phim tài liệu nổi tiếng thế giới Unmistaken Child (2008) đã ghi lại hành trình đệ tử Tenzin Zopa đi tìm hóa thân tái sinh của ngài về lại mái chùa Kopan.
IIIĐại Điện Lama Tsongkhapa, Tám Bảo Tháp Giác Ngộ, Khu Vườn Thiền Quán Và Ni Viện Khachoe Ghakyil Ling
Khác với những tự viện nằm san sát trong ngõ phố đô thị, Tu viện Kopan sở hữu một khuôn viên sinh thái rộng lớn chiếm trọn cả một đỉnh đồi xanh mát, nơi các công trình kiến trúc Tây Tạng truyền thống được bao bọc bởi những khu vườn hoa giấy, cúc vạn thọ, rừng thông, cây bồ đề cổ thụ và những lối đi lát đá yên bình nhìn thẳng xuống thung lũng Kathmandu.
Trải qua đợt gia cố và tu bổ kỹ lưỡng sau trận động đất năm 2015, toàn bộ các tòa bảo điện, giảng đường, thư viện và khu nhà khách tại Kopan đều mang vẻ đẹp thanh tịnh, gọn gàng và tràn ngập ánh sáng tự nhiên.
Hoàn thành năm 2002 ở trung tâm đỉnh đồi, tòa đại điện cao rộng có mặt tiền chạm khắc gỗ rực rỡ sắc màu Tây Tạng; bên trong tôn trí đại tượng Đại sư Tông Khách Ba cao 20 feet (hơn 6 mét) mạ vàng cùng hàng nghìn bức tiểu tượng Phật và bích họa truyền thừa dòng Gelug.
Ngay trên sân cỏ tiền đường nhìn xuống thung lũng Kathmandu là ngôi bảo tháp trắng uy nghiêm tôn trí xá lợi của đạo sư khai sơn Lama Thubten Yeshe (cùng các bảo tháp của Geshe Lama Konchog và Khensur Lama Lhundrup), kết hợp cùng hàng Tám Bảo Tháp Như Lai (Eight Great Stupas) chạy dọc lối đi nhiễu.
Trong khuôn viên vườn chùa có ngôi bảo điện kính tôn trí tượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát nghìn mắt nghìn tay, tháp Kinh luân khổng lồ chứa hàng triệu biến chân ngôn Om Mani Padme Hum, cùng pho tượng Đức Phật Thích Ca và Đức Phật Di Lặc lộ thiên giữa vườn hoa.
Khu vực học viện dành cho gần 400 chư tăng gồm các giảng đường triết học, sân đá dưới tán cây nơi các nhà sư vỗ tay tranh biện giáo lý mỗi buổi chiều, và thư viện lưu giữ hàng nghìn đầu sách Phật học bằng tiếng Tây Tạng và tiếng Anh.
Nằm cách đồi chính Kopan khoảng 15 phút đi bộ dưới chân đồi là quần thể Ni viện lớn của gần 400 chư ni với ngôi chánh điện lộng lẫy, xưởng thêu tranh Thangka nghệ thuật và lò làm nhang thảo dược Tây Tạng truyền thống.
| Hạng mục | Thông số lịch sử và kiến trúc | Nguồn kiểm chứng |
|---|---|---|
| Tên gọi chính thức | Tu viện Kopan / Ogmin Jangchub Choling (Kopan Monastery) | Hồ sơ Tu viện Kopan (kopanmonastery.com), Wikidata Q1783882 |
| Năm sáng lập và người khai sơn | Năm 1969, do Đại sư Lama Thubten Yeshe (1935-1984) và Đại sư Lama Zopa Rinpoche (1946-2023) sáng lập | Tổ chức Bảo tồn Truyền thống Đại thừa (FPMT - fpmt.org) |
| Hệ phái và truyền thừa | Phật giáo Tây Tạng phái Cách Lỗ (Gelug), truyền thừa trực tiếp từ Học viện Sera Je và Đại sư Tông Khách Ba | Ban Quản trị Tu viện Ogmin Jangchub Choling Kopan |
| Quy mô tăng ni đoàn | Khoảng 380 tới 400 chư tăng tại đồi Kopan và gần 400 chư ni tại Ni viện Khachoe Ghakyil Ling | Thống kê Học viện Phật học Kopan và Kopan Nunnery |
| Vị trí hành chính | Đỉnh đồi Kapan (phía bắc Bảo tháp Boudhanath), phường Kapan, đô thị Budhanilkantha, huyện Kathmandu, tỉnh Bagmati | Tổng cục Du lịch Nepal (Nepal Tourism Board) |
IVThế Đất Và Hướng
Không phải ngẫu nhiên mà từ hàng trăm năm trước, cả bậc đại học giả Ấn Độ Tịch Hộ (Shantarakshita) lẫn vị chiêm tinh gia hoàng gia của vương triều Nepal đều chọn đỉnh đồi Kapan làm nơi an cư và quan sát tinh tú. Phần dưới đây phân tích thế đất độc đáo của Tu viện Kopan theo phép xem hình thế sơn thủy cổ truyền của thư viện.
Xét về long mạch sơn văn rìa bắc thung lũng Kathmandu tại tọa độ 27,7425 độ vĩ bắc, 85,3644 độ kinh đông (cao độ khoảng 1.490 mét, cao hơn mặt bằng thung lũng xung quanh hơn 150 mét), đồi Kapan là một ngọn đồi tròn độc lập (Độc Tú Phong / Tinh Đỉnh) nhô lên ở phía đông bắc lòng chảo Kathmandu. Phía bắc của đồi Kapan có dãy núi cao Shivapuri (đỉnh cao 2.732 mét, nơi phát nguyên của dòng sông thiêng Bagmati và suối Bishnumati) giăng ngang hùng vĩ như bức Đại Huyền Vũ Hậu Chẩm che chắn toàn bộ gió bấc từ Himalaya thổi xuống. Dọc theo chân đồi phía đông và phía tây là các nhánh suối phụ lưu (như dòng Dhobi Khola / Rudramati) chảy vòng xuống phía nam để hội lưu vào sông Bagmati, tạo nên thế thủy nhiễu thanh đồi (nước ôm quanh gò đồi xanh).
Xét về tọa hướng và trục kết nối tâm linh với Đại Bảo Tháp Boudhanath, quần thể Tu viện Kopan và tòa Đại Hùng Bảo Điện được bố cục theo thế tọa Bắc hướng Nam. Khi đứng tại sân cỏ trước bảo tháp xá lợi Lama Yeshe và hiên chánh điện nhìn thẳng về phương Nam (Minh Đường Chu Tước), toàn bộ thung lũng Kathmandu trải rộng dưới chân như một lòng chảo tụ khí khổng lồ, và nằm ngay trên trục chính Nam cách đỉnh đồi Kopan đúng 2,2 kilômét theo đường chim bay chính là vòm tháp trắng vĩ đại của Bảo tháp Boudhanath! Sự đối vọng trực diện theo trục Bắc - Nam giữa Tu viện Kopan trên đỉnh đồi cao và Đại Bảo Tháp Boudhanath dưới bình nguyên tạo nên cục diện thượng sơn hạ tháp, nhật nguyệt đồng minh (trên đồi có chùa tuệ giác, dưới đồng có bảo tháp từ bi chiếu ứng), giúp trường khí của Kopan luôn thanh tịnh, sáng sủa và vươn xa khắp năm châu.
VKhóa Tu Thiền Lamrim Tháng Mười Một Huyền Thoại, Đại Lễ Đèn Bơ Tông Khách Ba Và Pháp Hội Cầu Nguyện Mùa Xuân
Tại Tu viện Kopan, nhịp sống tâm linh là sự đan xen giữa lịch lễ hội cổ truyền của phái Cách Lỗ (Gelug) Tây Tạng và lịch các khóa tu thiền, nhập thất bằng tiếng Anh dành cho học viên quốc tế. Bảng dưới đây tổng hợp các kỳ lễ tiết và khóa tu tiêu biểu nhất trong năm trên đồi Kapan.
| Thời gian | Hệ lịch | Tên lễ tiết / Khóa tu | Nghi thức và sinh hoạt tại Tu viện Kopan (Kathmandu) |
|---|---|---|---|
| Tháng 11 tới tháng 12 dương lịch hằng năm (kéo dài trọn 30 ngày) | Dương lịch (truyền thống liên tục từ năm 1971) | Khóa Tu Thiền Lamrim Tháng Mười Một (The Annual November Course) | Sự kiện nổi tiếng toàn cầu của Tu viện Kopan: hàng trăm hành giả từ hàng chục quốc gia (trong đó có nhiều Phật tử Việt Nam) cùng lưu trú trên đồi Kapan suốt một tháng để học giáo lý Bồ Đề Đạo Thứ Đệ (Lamrim), thực hành thiền chỉ - thiền quán, giữ giới tịnh khẩu và thọ giới Bồ Tát. |
| Ngày 25 tháng Mười âm lịch Tây Tạng | Lịch Tây Tạng (tháng 11 hoặc tháng 12 dương lịch) | Đại lễ Hoa Đăng Tưởng niệm Đại sư Tông Khách Ba (Lama Tsongkhapa Day / Gaden Ngamchoe) | Đêm lễ rực rỡ nhất trong năm của phái Gelug kỷ niệm ngày viên tịch và thành đạo của Tổ sư Tông Khách Ba: toàn bộ mái chùa, các bậc thang, bảo tháp và sân vườn đồi Kopan được thắp sáng bởi hàng vạn ngọn đèn bơ và nến lung linh trong tiếng đồng tụng bài cầu nguyện Migtsema. |
| Từ mùng 1 tới ngày 15 tháng Giêng âm lịch Tây Tạng | Lịch Tây Tạng (tháng 2 hoặc tháng 3 dương lịch) | Tết Cổ truyền Losar và Đại Pháp hội Cầu nguyện Mười Lăm Ngày Thần Biến (Monlam Chenmo) | Kế thừa truyền thống Đại pháp hội Monlam do Đại sư Tông Khách Ba khởi xướng tại Lhasa năm 1409, gần 800 chư tăng và chư ni Kopan vân tập tụng kinh cầu nguyện hòa bình thế giới, thi tranh biện học vị Geshe và rước Phật Di Lặc. |
| Rằm tháng Tư âm lịch Tây Tạng (Saga Dawa Düchen) | Lịch Tây Tạng (tháng 5 hoặc tháng 6 dương lịch) | Đại lễ Tam Hợp Kỷ niệm Đức Phật Đản Sinh, Thành Đạo và Niết Bàn | Chư tăng ni và cư sĩ thọ Bát Quan Trai Giới từ lúc rạng đông, tụng đọc Đại Tạng Kinh, lễ lạy ba mươi lăm vị Phật sám hối và thực hành phóng sinh, bố thí. |
| Hàng ngày vào buổi chiều (khoảng 17 giờ tới 19 giờ) | Chu kỳ tu học hàng ngày | Phiên Tranh biện Triết học (Philosophical Debate) của chư tăng trên sân đá | Mỗi buổi chiều sau giờ học, hàng trăm học tăng trong y áo đỏ sẫm tụ tập trên sân vườn dưới bóng cây để thực hành tranh biện Nhân minh học (Logic học Phật giáo) với những cú vỗ tay dứt khoát biểu trưng cho sự hợp nhất giữa phương tiện và trí tuệ. |
Đêm vạn ánh đèn bơ Gaden Ngamchoe trên đỉnh đồi nhìn xuống thung lũng Kathmandu. Vào đêm 25 tháng Mười âm lịch Tây Tạng (lễ Gaden Ngamchoe tưởng niệm Đại sư Tông Khách Ba), khi màn đêm buông xuống thung lũng Kathmandu, toàn bộ đỉnh đồi Kopan bừng sáng như một cung điện trên mây với hàng vạn ngọn đèn bơ được các chú tiểu và học viên quốc tế xếp thành những dòng chữ chân ngôn và hoa sen quanh Đại Hùng Bảo Điện. Tiếng tụng bài kệ Migtsema (ca ngợi Đại sư Tông Khách Ba là hiện thân hợp nhất của Quán Thế Âm từ bi, Văn Thù trí tuệ và Kim Cương Thủ dũng lực) vang vọng trong gió đêm làm ấm lòng mọi người lữ khách.
Khi đến chiêm bái khu vực phía đông bắc Kathmandu, du khách thường kết hợp hành trình giữa ba điểm linh thiêng nằm rất gần nhau: đi nhiễu quanh Bảo tháp Boudhanath vào buổi sáng sớm, ghé thăm không gian nghệ thuật Cổ Mật tại Tu viện Shechen Tennyi Dargyeling, Boudhanath, rồi lên đỉnh đồi Tu viện Kopan trên đồi Kapan, Kathmandu vào buổi chiều để ngắm toàn cảnh thung lũng và lắng nghe nhịp sống thiền môn.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đỉnh đồi Kapan (phía bắc Bảo tháp Boudhanath), phường Kapan, đô thị Budhanilkantha, huyện Kathmandu, tỉnh Bagmati
- Đường tới
- Tu viện Kopan tọa lạc trên đỉnh đồi Kapan thuộc đô thị Budhanilkantha, chỉ cách Đại Bảo Tháp Boudhanath khoảng 2,5 tới 3,5 km về phía bắc và cách khu phố du lịch Thamel (trung tâm Kathmandu) khoảng 7 tới 8 km về phía đông bắc. Từ Bảo tháp Boudhanath, phương tiện thuận tiện nhất là đi taxi lên thẳng cổng Tu viện Kopan mất khoảng 15 tới 20 phút, hoặc đi bộ leo đồi xuyên qua khu dân cư Kapan mất khoảng 45 phút (trên đường đi bộ lên đồi sẽ đi ngang qua Ni viện Khachoe Ghakyil Ling / Kopan Nunnery nằm ở chân đồi). Từ trung tâm Kathmandu (Ratna Park / Old Bus Park), cũng có các tuyến xe buýt nhỏ (microbus) chạy tuyến Kapan đến chân đồi, sau đó đi bộ khoảng 15 tới 20 phút lên đỉnh đồi.
- Toạ độ
- 27.7425, 85.3644
Tu viện Kopan mở cửa đón khách tham quan và chiêm bái hàng ngày trong khung giờ quy định (ngoại trừ những tuần lễ vào tháng 11 - tháng 12 khi tu viện đang diễn ra Khóa tu Lamrim một tháng cần sự yên tĩnh tuyệt đối cho hàng trăm thiền sinh, khi đó khu vực nội viện có thể hạn chế khách vãng lai). Khi đến thăm chùa, xin quý vị mặc trang phục kín đáo lịch sự (áo có tay, quần hoặc váy dài qua gối), tháo giày dép trước khi bước vào bên trong Đại Hùng Bảo Điện, đi vòng quanh các bảo tháp và kinh luân theo chiều kim đồng hồ. Khu vực nhà ở của chư tăng (monks' quarters) và khu vực thiền đường nhập thất có biển báo riêng tư, xin du khách không tự ý đi vào và luôn giữ giọng nói nhỏ nhẹ nơi vườn thiền.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tu viện Kopan trên đồi Kapan, Kathmandu
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tu viện Kopan được thành lập vào năm nào và do những vị đạo sư nào sáng lập?
Tu viện Kopan (tên pháp hiệu là Ogmin Jangchub Choling) được sáng lập vào năm 1969 bởi hai bậc đại sư lỗi lạc của Phật giáo Tây Tạng thế kỷ 20 là Lama Thubten Yeshe (1935 tới 1984) và đệ tử tâm truyền là Lama Thubten Zopa Rinpoche (1946 tới 2023) trên khu đất đỉnh đồi Kapan từng thuộc về vị chiêm tinh gia hoàng gia Nepal.
Vì sao Tu viện Kopan lại nổi tiếng khắp thế giới đối với những người học Phật quốc tế?
Ngay từ năm 1971, Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche đã mở các khóa tu thiền Bồ Đề Đạo Thứ Đệ (Lamrim) bằng tiếng Anh tại Kopan cho các học viên phương Tây và quốc tế. Từ chiếc nôi Kopan này, vào năm 1975, hai ngài đã sáng lập Tổ chức Bảo tồn Truyền thống Đại thừa (FPMT), hiện là một trong những mạng lưới trung tâm Phật học và từ thiện lớn nhất thế giới.
Khóa tu Tháng Mười Một (November Course) tại Tu viện Kopan là gì?
Khóa tu Tháng Mười Một là khóa tu thiền nội trú kéo dài trọn một tháng (diễn ra vào khoảng tháng 11 đến tháng 12 dương lịch hằng năm liên tục từ năm 1971 tới nay) tại Tu viện Kopan. Hàng trăm học viên từ khắp các châu lục cùng sống đời phạm hạnh trên đồi Kapan để học giáo lý Lamrim, thực hành thiền định về tâm từ bi, Bồ đề tâm và Tính không dưới sự hướng dẫn của các vị Lạt ma.
Bên cạnh các khóa học cho người nước ngoài, quy mô Tăng đoàn và Ni đoàn tại Kopan hiện nay như thế nào?
Cốt lõi của Kopan là một đại học viện Phật giáo Tây Tạng thuộc phái Cách Lỗ (Gelug): trên đỉnh đồi Kopan hiện có gần 400 chư tăng từ các vùng núi Nepal và Tây Tạng đang tu học chương trình triết học dài hạn lên tới học vị Tiến sĩ (Geshe), và ngay dưới chân đồi là Ni viện Khachoe Ghakyil Ling (Kopan Nunnery) nơi có thêm gần 400 chư ni tu học và đào tạo các nữ tiến sĩ Phật học (Geshema).
Du khách đến thăm Tu viện Kopan trong ngày cần lưu ý những quy định gì?
Du khách đến viếng chùa trong ngày không cần đăng ký trước (trừ thời điểm tháng 11 khi tu viện đóng cổng phục vụ khóa tu lớn), cần mặc quần áo lịch sự kín vai và đầu gối, cởi giày trước khi vào bảo điện, đi nhiễu quanh bảo tháp theo chiều kim đồng hồ và giữ yên lặng khi đi qua các khu vườn thiền.