Nằm ở điểm tận cùng sâu thẳm nhất của Vịnh Kotor (Boka Kotorska, vùng vịnh hẹp ăn sâu vào đất liền đẹp tựa một vịnh hẹp Bắc Âu giữa lòng biển Địa Trung Hải), khu phố cổ trung cổ Kotor (Stari Grad) được bao bọc bởi hơn bốn cây số tường thành đá chạy ngoằn ngoèo lên vách núi đá vôi dựng đứng của đỉnh Sveti Ivan (Thánh Gioan). Khi bước qua Cổng Biển lịch sử và đi dọc theo những con hẻm lát đá cẩm thạch nhẵn bóng bởi dấu chân của bao thế hệ thủy thủ, lữ khách sẽ tiến ra quảng trường rộng lớn nhất của đô thị cổ, nơi Nhà thờ chính tòa Thánh Tryphon (tiếng Montenegro và Croatia là Katedrala Svetog Tripuna, tiếng Ý là Cattedrale di San Trifone) vươn cao hai ngọn tháp chuông đá vàng ấm áp sát ngay dưới chân vách núi hùng vĩ.
Được thánh hiến trọng thể vào ngày 19 tháng 6 năm 1166 (sớm hơn cả Nhà thờ Đức Bà Paris và nhiều đại thánh đường Gothic của Tây Âu), Nhà thờ chính tòa Thánh Tryphon không chỉ là tòa giám mục ngàn năm của Công giáo tại vùng duyên hải Montenegro mà còn là một trong những di tích kiến trúc Romanesque nguyên vẹn và quý giá nhất bên bờ đông biển Adriatic. Cùng với đền thánh hải đảo Nhà thờ Đức Mẹ trên Đá, Perast ngoài khơi vịnh, thánh đường Thánh Tryphon làm nên linh hồn văn hóa hàng hải của Vịnh Kotor (Di sản Thế giới UNESCO từ năm 1979), đồng thời là nơi người dân cả Công giáo lẫn Chính Thống giáo tại Kotor cùng tôn kính vị thánh tử đạo bảo hộ thành phố suốt hơn một thiên niên kỷ.

IThánh Tử Đạo Tryphon Thành Campsada, Biến Cố Rước Thánh Cốt Ngày 13 Tháng 1 Năm 809 Và Hội Huynh Đệ Hải Đoàn Boka
Vị thánh bổn mạng của cả ngôi đại thánh đường lẫn toàn bộ thành phố Kotor là Thánh Tử đạo Tryphon (tiếng địa phương gọi là Sveti Tripun, tiếng Hy Lạp là Tryphon, tiếng Latinh là Trypho). Theo Hạnh các Thánh Kitô giáo sơ kỳ, Thánh Tryphon sinh vào khoảng đầu thế kỷ 3 tại làng Campsada (gần thành phố Apamea thuộc vùng Phrygia, Tiểu Á, tức Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) trong một gia đình nông dân đạo đức. Từ thuở thiếu niên, khi còn làm nghề chăn ngỗng trên cánh đồng làng, ngài đã được Thiên Chúa ban cho đặc sủng chữa lành bệnh tật, xua trừ tà thần và bảo vệ mùa màng. Trong cuộc bách hại Kitô hữu dữ dội dưới triều Hoàng đế La Mã Decius vào khoảng năm 250 Công nguyên (khi ngài mới mười tám tuổi), chàng thanh niên Tryphon đã bị bắt đưa về thành Nicaea, chịu đựng mọi cực hình tra tấn bằng sắt nung trong mùa đông giá lạnh mà không hề chối bỏ đức tin, trước khi chịu chém đầu tử đạo vào ngày 1 tháng 2 (hoặc ngày 3 tháng 2 theo lịch phụng vụ Kotor).
Sau khi chịu tử đạo, thi hài của Thánh Tryphon được các tín hữu đưa về an táng tại quê hương Campsada, sau đó được rước về kinh đô Constantinopolis (Byzantium). Vậy làm thế nào mà thánh cốt của một vị thánh trẻ tuổi vùng Tiểu Á lại vượt biển về ngự trị tại thành phố Kotor bên bờ biển Adriatic suốt hơn mười hai thế kỷ qua?
Trong truyền thống thần học và phụng vụ của cả Công giáo lẫn Chính Thống giáo (bởi Thánh Tryphon chịu tử đạo vào thế kỷ 3, tám trăm năm trước cuộc Đại Ly Giáo Đông Tây năm 1054), các vị Thánh Tử đạo (Martyres, nghĩa gốc tiếng Hy Lạp là Những Chứng Nhân) được tôn kính như những hạt giống đức tin đã hiến dâng mạng sống mình theo gương Chúa Kitô. Việc xây dựng bàn thờ và nhà thờ chính tòa ngay bên trên thánh cốt của vị tử đạo bắt nguồn từ truyền thống cổ xưa của Giáo hội thời các hang toại đạo Rôma và sách Khải Huyền (chương 6, câu 9).
Tại thành phố cảng Kotor, hình ảnh Thánh Tryphon trên các bức phù điêu đá, tranh thờ và lá cờ của thành phố luôn xuất hiện trong dáng vẻ một vị thiếu niên mảnh mai: một tay ngài cầm nhành lá cọ tử đạo (biểu tượng của chiến thắng tâm linh trước cái chết), đôi khi đi kèm hình ảnh cây nho vì ngài cũng được tôn kính là vị bảo trợ của những người trồng nho và các thủy thủ vượt trùng khơi.
Sự kiện lịch sử đưa Thánh Tryphon trở thành vị bảo hộ vĩnh cửu của Kotor diễn ra vào ngày 13 tháng 1 năm 809 và được ghi chép đầy đủ trong các văn kiện lưu trữ cổ nhất của thành phố (với tên gọi cổ là Instrumentum corporis nostri gloriosi confessoris Christi Tryphonis). Vào mùa đông năm 809, một chiếc thuyền buôn của các thương nhân xứ Venezia trên hải trình chở hài cốt Thánh Tryphon từ kinh đô Constantinopolis về Venezia đã gặp một trận bão biển dữ dội ngoài khơi biển Adriatic, buộc phải chạy vào ẩn náu bên trong vùng nước kín gió của Vịnh Kotor. Mỗi lần đoàn thuyền định nhổ neo rời vịnh để đi tiếp về phương bắc, sóng to gió lớn lại nổi lên ngăn cản, khiến các thủy thủ hiểu rằng chính vị thánh muốn dừng chân tại thành phố dưới chân núi đá này.
Lúc bấy giờ, một vị quý tộc giàu có và mộ đạo của thành Kotor là Andrea Saracenis (Andrija Saracenis) cùng phu nhân là bà Maria đã đứng ra thương lượng với các thương nhân Venezia, bỏ ra một khoản tiền chuộc lớn bằng bạc ròng và lễ vật quý giá để rước toàn bộ thánh cốt Thánh Tryphon ở lại Kotor vào ngày 13 tháng 1 năm 809. Để đón đoàn rước thánh cốt từ bến cảng vào thành, các thủy thủ địa phương đã lập thành đội hộ tống danh dự, sự kiện đánh dấu ngày ra đời của Hải đoàn Boka (Bokeljska Mornarica), một trong những hội huynh đệ hàng hải lâu đời nhất thế giới vẫn còn hoạt động liên tục suốt hơn 1.200 năm qua (được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa Phi vật thể của Nhân loại năm 2021). Ngay sau đó, quý tộc Andrea Saracenis đã bỏ tiền xây dựng ngôi nhà thờ tiền Romanesque đầu tiên có bình đồ hình tròn (Rotunda) để tôn trí thánh cốt; ngôi nhà thờ thế kỷ 9 này từng được chính Hoàng đế Đông La Mã Constantinus VII Porphyrogenitus (trị vì 913 tới 959) miêu tả trong trước tác lịch sử nổi tiếng De Administrando Imperio.
Một nhầm lẫn mà nhiều du khách thường gặp khi đứng trước mặt tiền Nhà thờ chính tòa Thánh Tryphon và thấy hai ngọn tháp chuông có chiều cao và chi tiết trang trí hơi khác nhau (tháp phía bắc cao 33 mét, tháp phía nam cao 35 mét) là họ nghĩ rằng nhà thờ bị xây dở dang từ thời Trung cổ. Thực tế lịch sử lại gắn liền với sức tàn phá của các trận động đất lớn dọc đứt gãy địa chất Adriatic: ngôi đại thánh đường Romanesque thánh hiến năm 1166 nguyên thủy có hai tháp chuông và mặt tiền kiểu Romanesque trung cổ. Tuy nhiên, vào sáng ngày 6 tháng 4 năm 1667 (Thứ Tư Tuần Thánh), một trận đại địa chấn khủng khiếp làm rung chuyển toàn bộ vùng Dubrovnik và Vịnh Kotor đã đánh sập hoàn toàn mặt tiền phía tây và hai tháp chuông cổ của nhà thờ. Trong những thập niên cuối thế kỷ 17, người dân Kotor đã kiên cường xây dựng lại mặt tiền mới theo phong cách Baroque với vòm hiên lớn, cửa sổ hoa hồng và hai tháp chuông đôi như chúng ta thấy ngày nay; việc tháp phía bắc thấp hơn tháp phía nam hai mét và thiếu phần trán tường tam giác ở tầng trên cùng là do nguồn ngân khố của thành phố bị cạn kiệt vào cuối thế kỷ 17.
IIHơn Mười Hai Thế Kỷ Từ Ngôi Đền Tròn Năm 809, Lễ Thánh Hiến Năm 1166 Tới Kỳ Tích Phục Hồi Sau Động Đất Năm 1979
Lịch sử của Nhà thờ chính tòa Thánh Tryphon là biên niên sử bằng đá của thành phố Kotor qua các thời kỳ thuộc Đế chế Đông La Mã (Byzantium), vương triều Nemanjić thời Trung cổ, gần bốn trăm năm thuộc Cộng hòa Hàng hải Venezia (1420 tới 1797), Đế chế Áo và nhà nước Montenegro hiện đại.
- 13 tháng 1 năm 809Quý tộc Andrea Saracenis rước thánh cốt Thánh Tryphon và dựng đền thờ tròn đầu tiênThánh cốt Thánh Tử đạo Tryphon được rước từ thuyền buôn Venezia về Kotor; Andrea Saracenis xây dựng ngôi nhà thờ tròn tiền Romanesque đầu tiên, đồng thời khai sinh truyền thống Hải đoàn Boka (Bokeljska Mornarica).
- 1124 tới 19 tháng 6 năm 1166Xây dựng và thánh hiến trọng thể Đại thánh đường Romanesque ba nhịp gianDo ngôi đền tròn thế kỷ 9 trở nên chật hẹp, công cuộc xây dựng đại thánh đường mới kéo dài hơn bốn thập kỷ và được Giám mục Maio của Kotor cùng năm vị giám mục, tám vị viện phụ cử hành lễ thánh hiến ngày 19 tháng 6 năm 1166.
- 1331 và 1362Các họa sư Hy Lạp vẽ bích họa nội thất và hoàn thành Mái lọng đá Ciborium ba tầngNăm 1331, các họa sư trường phái Hy Lạp Byzantine (pictores graeci) vẽ bích họa phủ kín vòm và tường nhà thờ; năm 1362, kiệt tác mái lọng đá Ciborium phong cách Romanesque chuyển tiếp sang Gothic được dựng trên bàn thờ chính.
- Khoảng năm 1440Các nghệ nhân kim hoàn Kotor chế tác bức phù điêu bạc mạ vàng Pala d'OroDưới thời bảo hộ của Cộng hòa Venezia, các bậc thầy kim hoàn bản địa gồm Johann của Basel, Marin Adamov, Franjo và Nikola tạo tác bức hậu bàn thờ bằng bạc thếp vàng khắc họa Chúa Kitô, Đức Mẹ và 16 vị thánh.
- 6 tháng 4 năm 1667 tới năm 1683Đại địa chấn đánh sập mặt tiền cổ và công cuộc xây dựng lại hai tháp chuông BaroqueTrận động đất lịch sử năm 1667 phá hủy hai tháp chuông Romanesque và vòm phía tây; người dân Kotor xây dựng lại mặt tiền hai tháp chuông mới theo phong cách Baroque nối liền bằng vòm cuốn và xây mới Phòng Thánh Tích (Relikvijar).
- 1892 tới 1908Đợt trùng tu thế kỷ 19 và sắc phong Tiểu Vương cung thánh đườngNhà thờ được gia cố kết cấu, thay thế một số hệ vòm trần giữa và tiếp tục được Tòa Thánh tôn vinh phẩm trật Tiểu Vương cung thánh đường lịch sử của vùng vịnh.
- 15 tháng 4 năm 1979 tới năm 2001Động đất 7,0 độ Richter năm 1979, ghi danh Di sản Thế giới UNESCO và đại trùng tu khoa họcTrận động đất ngày 15 tháng 4 năm 1979 gây hư hại nghiêm trọng cho Kotor; tháng 10 năm 1979 UNESCO công nhận Kotor là Di sản Thế giới; sau hơn hai thập kỷ khảo cổ và trùng tu chuẩn mực (hoàn thành năm 2001), nhà thờ nhận Giải thưởng Di sản Châu Âu Europa Nostra năm 2002.
Phát hiện khảo cổ học dưới nền nhà thờ sau trận động đất năm 1979 và quan tài đá của Andrea Saracenis. Khi trận động đất mạnh 7,0 độ Richter ngày 15 tháng 4 năm 1979 làm nứt vỡ các bức tường của Nhà thờ chính tòa Thánh Tryphon, một dự án nghiên cứu khảo cổ và trùng tu liên ngành kéo dài suốt hai mươi hai năm (1979 tới 2001) đã được triển khai bên dưới nền đá của thánh đường. Trong quá trình đào khảo cổ ngay sát tường phía bắc giữa Nhà thờ chính tòa thế kỷ 12 và Tòa Giám mục, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nền móng nguyên thủy của ngôi nhà thờ tròn (Rotunda) năm 809 cùng một hiện vật vô giá xác nhận tính chân xác tuyệt đối của truyền thống ngàn năm: đó là chiếc quan tài bằng đá vôi thế kỷ 9 của chính vị quý tộc sáng lập Andrea Saracenis có khắc dòng chữ Latinh cổ ghi rõ tên ông là người đã xây dựng ngôi đền đầu tiên cho Thánh Tryphon.
Hơn thế nữa, quá trình bóc tách các lớp vữa trát muộn trên các vòm cuốn và hậu cung đã làm lộ ra những mảng bích họa Byzantine năm 1331 cùng hệ thống dầm gỗ sồi kháng chấn cổ truyền được các kiến trúc sư thế kỷ 12 ngầm đặt bên trong các bức tường đá. Nhờ sự phục hồi tỉ mỉ kết hợp kỹ thuật gia cố kháng chấn hiện đại mà không làm mất đi vẻ cổ kính nguyên bản, công trình trùng tu Nhà thờ chính tòa Thánh Tryphon đã được Liên minh Châu Âu và tổ chức Europa Nostra trao giải thưởng cao quý nhất về bảo tồn di sản vào năm 2002.
IIIVương Cung Thánh Đường Romanesque Ba Nhịp Gian, Mái Lọng Đá Ciborium Năm 1362, Bức Bạc Pala D'Oro Và Phòng Thánh Tích Bằng Đá Cẩm Thạch
Nhà thờ chính tòa Thánh Tryphon có chiều dài tổng thể khoảng 35 mét, chiều rộng 17,4 mét, được xây dựng theo kiểu vương cung thánh đường Romanesque ba nhịp gian (Three-Aisled Romanesque Basilica) kết hợp ảnh hưởng kiến trúc vùng Apulia (nam Ý), nghệ thuật Byzantine và mặt tiền Baroque thế kỷ 17. Sự tương phản giữa những khối đá vôi mộc mạc, uy nghiêm của thế kỷ 12 với những tuyệt tác điêu khắc đá và kim hoàn vàng bạc bên trong tạo nên sức cuốn hút đặc biệt của ngôi thánh đường.
Mặt tiền phía tây nhìn ra Quảng trường Thánh Tryphon được dựng lại sau trận động đất năm 1667 với hai ngọn tháp chuông hình vuông đứng hai bên (tháp bắc cao 33 mét, tháp nam cao 35 mét), nối liền với nhau ở tầng trệt bằng một vòm cuốn tiền sảnh lớn kiểu Baroque chạm đá nhám (rustication) và lan can con tiện phía trên. Ngay bên trên vòm tiền sảnh là ô cửa sổ hoa hồng (rose window) kết hợp các mô-típ Gothic và Phục hưng dẫn ánh sáng chiều chiếu dọc theo gian giữa.
Không gian nội thất bên trong chia làm ba nhịp gian (một gian giữa rộng gấp đôi hai gian bên) kết thúc ở phía đông bằng ba hậu cung hình bán nguyệt. Điểm đặc sắc của kỹ thuật Romanesque năm 1166 là hệ thống nâng đỡ xen kẽ (alternating support system): cứ giữa các trụ đá chữ thập vững chãi lại đặt các cột đá tròn nguyên khối (monolithic columns) bằng đá cẩm thạch và đá granit hồng có nguồn gốc từ các đền đài La Mã cổ đại được tái sử dụng (spolia), trên đỉnh chạm các đầu cột thức Corinth điêu khắc hình lá cây và đầu người.
Đứng sừng sững trên bàn thờ chính ở hậu cung trung tâm là một trong những kiệt tác điêu khắc đá thời Trung cổ đẹp nhất vùng Balkan: chiếc Ciborium (mái lọng bàn thờ) bằng đá vôi địa phương Korčula được chế tác năm 1362 bởi một học trò xuất sắc của bậc thầy Fra Vita từ Kotor (người đã xây Tu viện Visoki Dečani). Mái lọng vươn cao trên bốn cột đá bát giác thanh mảnh, phía trên là ba tầng tháp bát giác thu nhỏ dần đỡ tượng thiên thần ở đỉnh; dọc theo ba mặt dầm đá ngang chạm nổi liên hoàn 19 cảnh sinh động kể lại trọn vẹn cuộc đời và cuộc tử đạo của Thánh Tryphon.
Đặt ngay phía dưới mái lọng Ciborium trên bàn thờ chính là bức Pala d'Oro (Tấm Bàn Thờ Vàng), kiệt tác đỉnh cao của trường phái kim hoàn Kotor thế kỷ 15. Bức phù điêu dài hơn 2,4 mét được gò nổi từ những tấm bạc nguyên chất mạ vàng ròng bởi bốn nghệ nhân kim hoàn (Johann của Basel, Marin Adamov, Franjo và Nikola), khắc họa ở chính giữa là Chúa Kitô Ngự Trị, Đức Trinh Nữ Maria, Thánh Gioan Tẩy Giả và Thánh Tryphon nâng mô hình thành phố Kotor trên tay, hai bên là hai tầng gòm 16 ô vòm nhọn Gothic chạm hình các Thánh Tông đồ và các vị thánh bảo trợ.
Từ gian bên phía bắc, một cầu thang đá cẩm thạch có lan can điêu khắc năm 1680 của nghệ nhân Venezia là Francesco Cabianca dẫn lên Phòng Thánh Tích (Relikvijar) hình bán nguyệt trên lầu. Tại chính giữa phòng là bàn thờ cẩm thạch nâng đỡ chiếc quách bằng bạc chạm nổi dài gần hai mét chứa hài cốt Thánh Tryphon, cùng bầu đựng hộp sọ của ngài (Slavna Glava, tức Thủ Cấp Vinh Hiển) được bọc trong đài vàng nạm đá quý chế tác từ thế kỷ 13 tới thế kỷ 17. Xung quanh phòng trưng bày hàng chục cánh tay bạc, chân bạc đúc chứa thánh cốt các thánh và hơn 1.000 tấm biển bạc tạ ơn (ex-voto) của các thủy thủ Kotor.
Trên vòm hậu cung và các vòm cuốn gian giữa vẫn còn lưu giữ những mảng bích họa nguyên bản năm 1331 do các họa sư Hy Lạp (pictores graeci) vẽ theo phong cách Phục hưng Palaeologan thời Đông La Mã (khắc họa cảnh Hạ Xác Chúa xuống khỏi Thánh Giá và các Giáo phụ). Tại tầng lầu phía trên tiền đường và hai gian bên hiện là Bảo tàng Giáo phận lưu giữ quan tài đá thế kỷ 9 của Andrea Saracenis, các bức tranh gỗ thế kỷ 14 tới 18 (trong đó có tác phẩm của Lovro Dobričević và Jacopo Bassano), các sắc chỉ giáo hoàng và bộ sưu tập vũ khí cổ của Hải đoàn Boka.
| Hạng mục kiến trúc và Bảo vật | Niên đại và Tác giả thực hiện | Đặc điểm kỹ thuật và Giá trị di sản |
|---|---|---|
| Thân vương cung thánh đường Romanesque | 1124 tới 19 tháng 6 năm 1166 (thời Giám mục Maio) | Dài 35 m, rộng 17,4 m, ba nhịp gian với cột đá nguyên khối cổ đại xen kẽ trụ đá và ba hậu cung bán nguyệt |
| Mặt tiền hai tháp chuông Baroque | 1667 tới cuối thế kỷ 17 (xây lại sau động đất) | Tháp bắc cao 33 m, tháp nam cao 35 m, nối bằng vòm cuốn Baroque và cửa sổ hoa hồng Gothic - Phục hưng |
| Mái lọng đá Ciborium ba tầng | Năm 1362 (trường phái điêu khắc của Fra Vita thành Kotor) | Cấu trúc bốn cột đá nâng ba tầng tháp bát giác, chạm nổi liên hoàn cuộc đời và cuộc tử đạo của Thánh Tryphon |
| Phù điêu bạc mạ vàng Pala d'Oro | Khoảng năm 1440 (Johann của Basel, Marin Adamov và cộng sự) | Kiệt tác kim hoàn bạc thếp vàng dài hơn 2,4 m khắc họa Chúa Kitô, Thánh Tryphon cầm mô hình Kotor và 16 vị thánh |
| Phòng Thánh Tích (Relikvijar) và Quách bạc | Kiến trúc 1680 tới 1704 (điêu khắc Francesco Cabianca) | Tôn trí quách bạc chứa hài cốt Thánh Tryphon, bầu vàng đựng Thủ Cấp Vinh Hiển (Slavna Glava) và hơn 1.000 lễ vật bạc |
IVThế Đất Và Hướng
Cần nêu rõ rằng Giáo hội Công giáo tại Kotor và các bậc thầy xây dựng thời Trung cổ không sử dụng thuật phong thủy phương Đông trong việc chọn đất và kiến tạo Nhà thờ chính tòa Thánh Tryphon. Vị trí của thánh đường kế thừa trực tiếp khu đất nơi quý tộc Andrea Saracenis dựng đền thờ tròn năm 809 sát chân núi để tránh ngập nước biển và dễ bề phòng thủ, còn trục nhà thờ tuân thủ quy tắc định hướng phụng vụ Kitô giáo cổ truyền với ba hậu cung quay về hướng Đông và mặt tiền quay về hướng Tây. Những nhận định dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép xem hình thế sơn thủy cổ truyền của thư viện Vạn Đạo Đường.
Xét trên đại cuộc địa hình của Vịnh Kotor (Boka Kotorska) và khối núi Lovćen tại tọa độ 42,4242 độ vĩ bắc, 18,7717 độ kinh đông, hiếm có ngôi thánh đường nào ở châu Âu sở hữu một thế đất chẩm sơn diện hải, tam thủy triều đường (tựa lưng vào vách núi dựng đứng, nhìn ra vịnh biển kín và có ba dòng nước hội tụ) kỳ vĩ đến như vậy. Toàn bộ khu phố cổ hình tam giác của Kotor nằm trên dải đất bằng hẹp dưới chân ngọn núi đá vôi Sveti Ivan (cao 260 mét, vươn tiếp lên đỉnh Lovćen cao 1.749 mét ở phía sau). Vách đá dựng đứng gần như thẳng góc ngay phía sau lưng ba hậu cung phía đông và đông nam của Nhà thờ chính tòa Thánh Tryphon tạo thành một bức hậu huyền vũ và khôi tinh sơn bằng đá nguyên khối vững chắc tuyệt đối, che chở hoàn toàn cho ngôi thánh đường khỏi những cơn gió bão thổi từ vùng núi cao xuống vịnh.
Về thủy pháp và minh đường, bao bọc quanh ba mặt của thành cổ Kotor là ba dòng nước: ở phía bắc là dòng sông Škurda chảy ra từ hẻm núi; ở phía nam là suối nước ngầm Gurdić; và ở phía tây là mặt nước tĩnh lặng như gương của Vịnh Kotor được bao bọc bởi hai dãy núi bán đảo Vrmac và Dobrota như hai cánh tay thanh long, bạch hổ khóa chặt cửa biển, biến cả vùng vịnh thành một đại tụ thủy minh đường không bao giờ có sóng dữ. Ngay phía trước mặt tiền hai tháp chuông của nhà thờ theo trục tọa Đông Đông Nam hướng Tây Tây Bắc là Quảng trường Thánh Tryphon (Trg Svetog Tripuna) lát đá rộng thoáng đóng vai trò nội minh đường tụ khí, nơi hội tụ tất cả các mạch đường phố cổ trước khi bước lên bậc thềm đại thánh đường.
VĐại Lễ Thánh Tryphon Ngày 3 Tháng 2, Điệu Múa Cổ Kolo Của Hải Đoàn Boka Và Tinh Thần Đại Kết Tại Vịnh Kotor
Đời sống phụng vụ tại Nhà thờ chính tòa Thánh Tryphon được cử hành theo lịch phụng vụ Công giáo Rôma (lịch Gregory dương lịch), trong đó đỉnh cao văn hóa và tâm linh của cả vùng Vịnh Boka Kotorska là chuỗi lễ hội mùa đông kính Thánh Tryphon (Tripundanske svečanosti) kéo dài từ ngày 13 tháng 1 đến đầu tháng 2 hằng năm.
| Thời điểm trong năm | Hệ lịch | Tên đại lễ phụng vụ và sự kiện | Nghi thức cử hành đặc trưng tại Nhà thờ chính tòa Thánh Tryphon |
|---|---|---|---|
| Ngày 13 tháng 1 | Dương lịch | Lễ Kỷ niệm Rước Thánh Cốt Thánh Tryphon về Kotor năm 809 (Karike) | Khai mạc mùa lễ hội Thánh Tryphon hằng năm, kỷ niệm ngày quý tộc Andrea Saracenis rước thánh cốt từ thuyền buôn Venezia vào thành phố Kotor ngày 13 tháng 1 năm 809. |
| Ngày 27 tháng 1 | Dương lịch | Nghi thức Chào Cờ Lode của Thiếu Nhi (Mali Admiral / Lode) | Đúng 12 giờ trưa, từ ban công giữa hai tháp chuông trên mặt tiền Nhà thờ chính tòa, vị Đô đốc nhỏ tuổi (Mali Admiral, một cậu bé được Hải đoàn Boka bầu chọn hằng năm) đọc bài diễn văn cổ xưa bằng tiếng Latinh và tiếng bản địa ca ngợi Thánh Tryphon (Lode) trong tiếng chuông ngân và nghi thức kéo cờ thánh. |
| Chiều ngày 2 tháng 2 | Dương lịch | Kinh Chiều Trọng Thể và Nghi thức Xông Hương Thánh Cốt Của Cả Hai Giáo Hội (Kandilora) | Nét đẹp đại kết độc nhất vô nhị tại Kotor: trong giờ Kinh Chiều trọng thể trước thánh cốt Thánh Tryphon, bên cạnh sáu linh mục Công giáo còn có sáu tín hữu hoặc giáo sĩ Chính Thống giáo cùng đứng cầm nến và xông hương kính vị thánh bảo hộ chung của thành phố. |
| Ngày 3 tháng 2 và Chúa Nhật kế tiếp | Dương lịch (Đại lễ Bổn mạng Chính) | Đại lễ Thánh Tử đạo Tryphon (Tripundan), Múa Kolo Hải đoàn Boka và Rước Thánh Cốt | Trước mặt tiền nhà thờ, các thành viên Hải đoàn Boka (Bokeljska Mornarica) trong bộ lễ phục thủy thủ cổ truyền múa vòng tròn Kolo của Thánh Tryphon gồm 12 hình thái biểu tượng hàng hải; tiếp đó là Thánh lễ Đại trào của các Giám mục và cuộc đại rước bầu vàng Thủ Cấp Vinh Hiển (Slavna Glava) đi khắp các con phố cổ Kotor. |
| Ngày 19 tháng 6 và ngày 10 tháng 11 | Dương lịch | Lễ Kỷ niệm Thánh hiến Đại thánh đường (19/6/1166) và Lễ Thánh Tryphon Nhỏ (Mali Tripundan) | Kỷ niệm ngày Giám mục Maio cung hiến nhà thờ Romanesque năm 1166 vào mùa hè và lễ tưởng niệm mùa thu kính Thánh Tryphon của các giáo xứ quanh vịnh. |
Biểu tượng chung sống hòa bình giữa Công giáo và Chính Thống giáo bên bờ biển Adriatic. Một trong những giá trị nhân văn sâu sắc nhất mà du khách cảm nhận được tại Nhà thờ chính tòa Thánh Tryphon là tinh thần tôn trọng và gắn kết lâu đời giữa người Công giáo và người Chính Thống giáo tại thành phố Kotor (nơi Nhà thờ chính tòa Công giáo Thánh Tryphon chỉ cách Nhà thờ Chính Thống giáo Thánh Nicôla và Nhà thờ Thánh Luca vài trăm mét). Suốt nhiều thế kỷ, cả hai cộng đồng đều coi Thánh Tryphon là đấng che chở cho những con tàu và gia đình của mình, cùng tham gia vào đội ngũ Hải đoàn Boka và cùng hiện diện trong nghi thức xông hương ngày lễ Thánh Tryphon như một tấm gương sáng về tình huynh đệ Kitô giáo tại vùng Balkan.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Quảng trường Thánh Tryphon (Trg Svetog Tripuna 336), Khu phố cổ Kotor (Stari Grad), 85330 Kotor, Montenegro
- Đường tới
- Nhà thờ chính tòa Thánh Tryphon tọa lạc tại Quảng trường Thánh Tryphon (Trg Svetog Tripuna 336) ngay trong lòng Khu phố cổ Kotor (Stari Grad, khu vực dành riêng cho người đi bộ không có xe cơ giới). Từ Cổng Biển chính (Morska vrata / Glavna gradska vrata) đối diện bến cảng Kotor và bến xe buýt trung tâm, quý vị bước qua cổng thành vào Quảng trường Vũ Khí (Trg od Oružja), rẽ phải đi bộ theo con phố cổ lát đá khoảng 3 phút (200 mét) là mở ra Quảng trường Thánh Tryphon. Từ Sân bay Quốc tế Tivat, quý vị chỉ mất khoảng 15 phút đi taxi hoặc xe buýt qua hầm Vrmac (khoảng 8 km) là tới thẳng cổng phố cổ Kotor.
- Toạ độ
- 42.4242, 18.7717
Nhà thờ chính tòa Thánh Tryphon mở cửa hằng ngày từ sáng đến chiều tối để đón tín hữu và du khách tham quan. Tín hữu vào cầu nguyện hoặc tham dự thánh lễ được vào cửa tự do; đối với du khách tham quan kiến trúc, Phòng Thánh Tích (Relikvijar), Bảo tàng Nghệ thuật Thánh trên lầu và ban công ngắm cảnh giữa hai tháp chuông, nhà thờ có thu một khoản vé nhỏ dùng để bảo tồn di tích. Khi bước vào bên trong nhà thờ và đặc biệt là khi vào Phòng Thánh Tích nơi lưu giữ thánh cốt Thánh Tryphon, quý vị bắt buộc phải mặc trang phục kín đáo (che kín vai và đầu gối, không mặc đồ tắm biển hay quần ngắn đi dạo phố cảng), giữ yên lặng và không chạm tay vào các hiện vật bạc cổ hay bức bích họa thế kỷ 14.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Nhà thờ chính tòa Thánh Tryphon, Kotor
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao thánh cốt của Thánh Tryphon (một vị thánh tử đạo vùng Tiểu Á thế kỷ 3) lại được lưu giữ tại thành phố Kotor?
Vào tháng 1 năm 809, một chiếc thuyền của thương nhân Venezia chở hài cốt Thánh Tryphon từ kinh đô Constantinopolis về Venezia đã phải ghé vào Vịnh Kotor để tránh bão biển. Do nhiều lần định nhổ neo ra khơi đều gặp gió bão ngăn lại, vị quý tộc giàu có của Kotor là Andrea Saracenis đã đứng ra mua lại thánh cốt vào ngày 13 tháng 1 năm 809 và xây dựng ngôi nhà thờ đầu tiên để tôn kính ngài làm thánh bảo hộ thành phố.
Nhà thờ chính tòa Thánh Tryphon hiện nay được xây dựng và thánh hiến vào năm nào?
Sau ngôi đền hình tròn đầu tiên xây năm 809, ngôi đại thánh đường phong cách Romanesque ba nhịp gian hiện nay được khởi công từ năm 1124 và được Giám mục Maio của Kotor cử hành lễ thánh hiến trọng thể vào ngày 19 tháng 6 năm 1166, trở thành một trong những nhà thờ chính tòa cổ nhất vùng Balkan và bờ đông biển Adriatic.
Vì sao hai ngọn tháp chuông ở mặt tiền nhà thờ lại mang phong cách Baroque thế kỷ 17 và có chiều cao không bằng nhau?
Ngày 6 tháng 4 năm 1667, một trận đại địa chấn khủng khiếp đã đánh sập mặt tiền và hai tháp chuông Romanesque nguyên thủy của nhà thờ. Người dân Kotor đã xây dựng lại mặt tiền mới theo phong cách Baroque vào cuối thế kỷ 17; do nguồn kinh phí của thành phố cạn kiệt vào giai đoạn cuối thi công, ngọn tháp phía bắc dừng ở độ cao 33 mét trong khi tháp phía nam hoàn thiện ở độ cao 35 mét.
Mái lọng đá Ciborium và bức Pala d'Oro trên bàn thờ chính của nhà thờ có giá trị nghệ thuật như thế nào?
Mái lọng đá Ciborium dựng năm 1362 là kiệt tác điêu khắc Romanesque chuyển sang Gothic với bốn cột đá nâng ba tầng tháp bát giác và ba dải phù điêu chạm 19 cảnh cuộc đời Thánh Tryphon. Ngay bên dưới là bức Pala d'Oro chế tác khoảng năm 1440 bằng bạc nguyên chất mạ vàng ròng bởi bốn bậc thầy kim hoàn Kotor, khắc họa Chúa Kitô, Thánh Tryphon cầm mô hình thành phố Kotor và 16 vị thánh.
Hải đoàn Boka (Bokeljska Mornarica) có mối liên hệ gì với Nhà thờ chính tòa Thánh Tryphon?
Hải đoàn Boka là hội huynh đệ của các thủy thủ vùng Vịnh Kotor được thành lập từ ngày 13 tháng 1 năm 809 khi các thủy thủ rước thánh cốt Thánh Tryphon từ bến cảng vào thành. Hằng năm vào đại lễ Thánh Tryphon ngày 3 tháng 2 (di sản văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2021), các thành viên Hải đoàn mặc lễ phục truyền thống múa vũ điệu Kolo cổ truyền ngay trên quảng trường trước cửa Nhà thờ chính tòa.
Phát hiện khảo cổ học quan trọng nào đã được tìm thấy tại nhà thờ sau trận động đất năm 1979?
Trong đợt khai quật khảo cổ và đại trùng tu kéo dài từ năm 1979 tới 2001 (đoạt giải thưởng Europa Nostra năm 2002), các nhà khảo cổ đã tìm thấy nền móng ngôi nhà thờ tròn năm 809 cùng chính chiếc quan tài bằng đá thế kỷ 9 có khắc tên quý tộc Andrea Saracenis, người đã rước thánh cốt Thánh Tryphon về Kotor hơn 1.200 năm trước.