Rời xa bờ biển Địa Trung Hải lộng gió của thành phố cảng Alexandria để đi sâu khoảng bốn mươi lăm kilômét về phía tây nam qua vùng bình nguyên khô cằn của sa mạc Mariout (Mareotis cổ đại, nay thuộc huyện Borg El Arab), du khách sẽ bắt gặp một không gian tĩnh lặng nơi những hàng cột đá cẩm thạch trắng ngà vươn lên giữa nền đất vàng rực nắng mặt trời Bắc Phi. Cách đây hơn một nghìn năm trăm năm, mảnh đất sa mạc tưởng chừng hoang vắng này từng là một trong những đại đô thị hành hương nhộn nhịp, giàu có và lộng lẫy bậc nhất của toàn bộ thế giới Kitô giáo cổ đại, sánh ngang với Jerusalem và Roma.
Quần thể khảo cổ rộng hơn một trăm tám mươi hai héc-ta ấy chính là Abu Mena (còn viết là Abu Mina hay Karm Abu Mina), thánh địa gắn liền với mộ phần của Thánh Tử đạo Menas xứ Ai Cập (Saint Menas / Mar Mina) và là một trong những di tích đầu tiên của Ai Cập được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản Thế giới ngay từ năm 1979 (mã số 90). Không chỉ lưu giữ nền móng của một thành phố cẩm thạch thời hậu kỳ cổ đại với Đại Vương cung thánh đường ba gian, Nhà thờ Hầm mộ, Nhà Rửa tội tám cạnh, các dãy nhà trọ khách hành hương và những nhà tắm La Mã có hệ thống sưởi ngầm, Abu Mena còn là minh chứng cho sức sống trường tồn của truyền thống Chính thống giáo Coptic khi ngay sát rìa phía bắc khu phế tích cổ, Đan viện Thánh Mina hiện đại với những tháp chuông trắng vươn cao vẫn ngày đêm vang vọng tiếng kinh cầu từ năm 1959 đến nay.

IThánh Chiến Binh Tử Đạo Menas Xứ Ai Cập, Huyền Tích Hai Con Lạc Đà Quỳ Giữa Sa Mạc Và Những Chiếc Bình Gốm Thánh Ampullae
Linh hồn của toàn bộ đô thị cổ Abu Mena là Thánh Tử đạo Menas xứ Ai Cập (Saint Menas of Egypt), người được Giáo hội Chính thống giáo Coptic trìu mến tôn gọi là Mar Mina al-Ajaibi (Thánh Mina Đấng Làm Phép Lạ) và được Giáo hội Hy Lạp gọi là Hagios Menas. Theo các bộ Hạnh Các Thánh Coptic (Synaxarium) và Thương Khó Thánh Menas bằng tiếng Hy Lạp và tiếng Coptic cổ, Menas sinh vào khoảng năm 285 Công nguyên tại thành phố Nicea (hoặc vùng Mariout gần Memphis) trong một gia đình quý tộc Kitô giáo đạo hạnh; cha ngài là Eudoxius làm tổng trấn hành chính và mẹ ngài là bà Euphemia, người đã cầu nguyện trước bức thánh ảnh Đức Trinh Nữ Maria để xin ơn sinh con và đặt tên con là Mena theo tiếng đáp trả Amen phát ra từ bức ảnh.
Mồ côi cha mẹ từ năm mười lăm tuổi, chàng thanh niên Menas gia nhập quân đội La Mã và phục vụ trong đạo quân đóng tại thành phố Cotyaeum thuộc vùng Phrygia (Tiểu Á, nay là Kütahya ở Thổ Nhĩ Kỳ). Khi Hoàng đế Diocletianus và đồng hoàng đế Maximianus ban hành các sắc chỉ bức hại người Kitô giáo tàn khốc vào cuối thế kỷ 3, Menas đã từ bỏ chức tước quân ngũ để rút vào vùng núi hoang sống đời chay tịnh cầu nguyện suốt năm năm. Đến khoảng năm 295 hoặc 296 Công nguyên, giữa lúc dân thành Cotyaeum đang tổ chức lễ hội đấu trường kỷ niệm ngày sinh của hoàng đế, Menas đã dũng cảm bước thẳng vào giữa sân vận động, công khai tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu Kitô trước mặt quan tổng trấn Pyrrhus. Dù bị tra tấn khốc liệt bằng roi da, bàn chải sắt và lửa đốt, ngài vẫn kiên trung không chối đạo và chịu án chém đầu tử đạo vào ngày 15 tháng Hathor theo lịch Coptic (tức ngày 11 tháng 11 theo lịch chung, hoặc ngày 24 tháng 11 hiện nay) khi mới ngoài hai mươi tuổi.
Sự ra đời của thánh địa Abu Mena giữa sa mạc Mariout bắt nguồn từ một huyền tích di dời thánh cốt vô cùng cảm động. Vào đầu thế kỷ 4, khi một đạo quân La Mã được điều động từ vùng Phrygia sang dẹp loạn tại vùng Cyrenaica và Bắc Phi, vị chỉ huy có lòng mộ đạo là Athanasius đã bí mật mang theo hài cốt của Thánh Menas để xin ngài phù hộ. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ và chuẩn bị từ thành Alexandria xuống tàu quay về Tiểu Á, khi họ đặt hòm hài cốt Thánh Menas lên lưng một con lạc đà thì con vật nhất quyết quỳ rạp xuống đất không chịu bước tiếp; người ta đổi hài cốt sang lưng con lạc đà thứ hai nhưng con vật này cũng đứng bất động dù bị đánh đập.
Hiểu rằng vị Thánh Tử đạo muốn yên nghỉ lại trên quê hương Ai Cập của mình, viên tướng đã trao lại thánh cốt và thả cho đôi lạc đà tự bước đi vào vùng sa mạc hồ Mariout (Mareotis). Đi đến một ốc đảo nhỏ cách Alexandria khoảng bốn mươi lăm kilômét về phía tây nam, hai con lạc đà đồng loạt dừng chân và quỳ xuống không đi nữa; dân bản địa bèn an táng hài cốt Thánh Menas ngay tại điểm đó. Ít lâu sau, một người chăn cừu địa phương thấy một con cừu bị bệnh ghẻ lở nặng sau khi lăn mình vào vũng bùn bên cạnh ngôi mộ vô danh ấy đã lập tức lành sạch da thịt; tin tức truyền tới tận kinh thành Constantinople khi công chúa con gái của Hoàng đế Constantinus I được chữa khỏi bệnh phong cùi tại đây và đào tìm lại được hài cốt Thánh Menas dưới lòng đất. Từ biến cố ấy, hình tượng Thánh Menas mặc áo chiến binh đứng giơ cao hai tay cầu nguyện trong tư thế Orans, hai bên chân là hai con lạc đà quỳ đầu hướng vào ngài đã trở thành một trong những biểu tượng mỹ thuật Kitô giáo sơ kỳ nổi tiếng nhất thế giới.
Bằng chứng khảo cổ học hùng hồn nhất về tầm ảnh hưởng xuyên lục địa của thánh địa Abu Mena chính là hàng chục nghìn chiếc Bình gốm thánh của Thánh Menas (Ampullae of Saint Menas / Menas Flasks) được tìm thấy khắp châu Âu, Bắc Phi và Tây Á. Trong suốt giai đoạn từ cuối thế kỷ 4 tới giữa thế kỷ 7 Công nguyên, các xưởng gốm tại Abu Mena đã sản xuất hàng loạt những chiếc bình đất nung nhỏ hình tròn dẹt (đường kính từ sáu tới mười xăngtimét) có cổ hẹp và hai quai nhỏ để khách hành hương luồn dây đeo trước ngực. Bên trong bình chứa nước suối thiêng từ giếng gần mộ Thánh nhân hoặc dầu ô-liu lấy từ ngọn đèn chầu treo ngay phía trên quan tài đá của Thánh Menas trong hầm mộ.
Hai mặt phẳng của chiếc bình Ampullae được ép khuôn chạm nổi hình Thánh Menas đứng giữa hai con lạc đà quỳ, bao quanh bởi dòng chữ Hy Lạp cổ: Eulogia tou Hagiou Mena (nghĩa là Phước lành của Thánh Menas). Các nhà khảo cổ học hiện đại đã khai quật được những chiếc bình Ampullae có nguồn gốc từ đất sét vùng hồ Mariout này tại những địa điểm cách xa nhau hàng nghìn dặm: từ Meols (hạt Cheshire, vương quốc Anh), Paris và Arles (Pháp), Cologne và Heidelberg (Đức), Milan và Roma (Ý), Dalmatia (Croatia), Constantinople, Jerusalem cho tới tận vùng Nubia (Sudan) và Samarkand (Trung Á). Có thể nói, bình gốm Ampullae của Abu Mena chính là vật phẩm hành hương được sản xuất quy mô lớn đầu tiên trong lịch sử văn minh Kitô giáo, hiện diện trang trọng tại Bảo tàng Louvre, Bảo tàng Anh, Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan (New York) và Bảo tàng Coptic Cairo.
Nhiều người khi nghe tên gọi Abu Mena thường nhầm lẫn vị thánh Kitô giáo của đô thị hành hương này với Pharaoh Menes (Narmer), vị vua huyền thoại đã thống nhất Thượng và Hạ Ai Cập vào khoảng năm 3100 trước Công nguyên. Trên thực tế, hai nhân vật này cách nhau hơn ba thiên niên kỷ: chữ Abu Mena trong tiếng Ả Rập (dịch từ chữ Hy Lạp Abba Menas) có nghĩa là Cha Menas, tôn danh dành riêng cho vị Thánh Tử đạo Kitô giáo người Ai Cập chịu chém đầu năm 296 Công nguyên dưới thời Hoàng đế La Mã Diocletianus; hoàn toàn không liên quan tới vương triều Pharaoh cổ đại.
IITừ Ngôi Mộ Giữa Sa Mạc Tới Thành Phố Cẩm Thạch Thời Hoàng Đế Arcadius, Zeno Và Cuộc Khai Quật Của Carl Maria Kaufmann
Lịch sử phát triển kiến trúc của Abu Mena phản ánh rõ nét bước chuyển mình của Kitô giáo từ một cộng đoàn bị bách hại dưới lòng đất trở thành quốc giáo huy hoàng của Đế quốc Đông La Mã (Byzantine). Khởi đầu vào nửa đầu thế kỷ 4 dưới thời Hoàng đế Constantinus Đại đế và vị Thượng phụ vĩ đại Thánh Athanasius thành Alexandria (trị vì 328 tới 373), một nhà nguyện nhỏ bằng đá (Tetrapylon) đã được dựng lên ngay phía trên hầm mộ chứa hài cốt Thánh Menas, tiếp đó là một ngôi nhà thờ vương cung thánh đường nhỏ ba gian vào nửa sau thế kỷ 4.
Đến cuối thế kỷ 4, lượng khách hành hương đổ về ốc đảo Mariout đông tới mức ngôi nhà thờ cũ không còn đủ chỗ chứa. Thượng phụ Alexandria là Theophilos (trị vì 385 tới 412) đã gửi thư thỉnh cầu Hoàng đế Đông La Mã Arcadius (trị vì 395 tới 408) tài trợ mở rộng thánh địa. Hoàng đế Arcadius đã ra lệnh kiến thiết một Đại Vương cung thánh đường (Great Basilica) khổng lồ bằng đá vôi và đá cẩm thạch nhập khẩu nối liền vào phía đông nhà thờ hầm mộ. Bước sang cuối thế kỷ 5, dưới triều đại của Hoàng đế Zeno (trị vì 474 tới 491) và Thượng phụ Timothy II, Abu Mena bước vào thời kỳ hoàng kim rực rỡ nhất khi nhà vua cho xây dựng cung điện, doanh trại đồn trú bảo vệ khách hành hương trước các bộ lạc du mục Berber và biến toàn bộ khu vực quanh mộ thánh thành một thành phố hoàn chỉnh được gọi là Martyriopolis (Thành phố của Vị Tử Đạo).
- Năm 296 CN và đầu thế kỷ 4Thánh Menas tử đạo tại Phrygia và việc an táng thánh cốt tại sa mạc MarioutSau khi Thánh Menas chịu tử đạo năm 296 dưới thời Diocletianus, hài cốt ngài được đưa về Ai Cập và an táng tại điểm dừng chân của hai con lạc đà ở vùng Mariout; Thượng phụ Athanasius khởi dựng nhà thờ đầu tiên trên hầm mộ vào giữa thế kỷ 4.
- Thời Hoàng đế Arcadius (395 tới 408) và Hoàng đế Zeno (474 tới 491)Kiến thiết Đại Vương cung thánh đường, Nhà Rửa tội tám cạnh và Thành phố Cẩm thạchHoàng đế Arcadius đáp lời thỉnh cầu của Thượng phụ Theophilos cho xây dựng Đại Vương cung thánh đường ba gian dài 66,5 mét; sau đó Hoàng đế Zeno mở rộng toàn bộ khu đô thị hành hương gồm các quảng trường cột đá, nhà nghỉ Xenodochia và nhà tắm La Mã đôi.
- Năm 619, năm 641 và thế kỷ 9Biến cố chiến tranh Ba Tư, thời kỳ Ả Rập và sự suy tàn của đô thị cổ giữa sa mạcĐô thị bị tàn phá nặng nề khi quân Ba Tư Sassanid xâm lược Ai Cập năm 619; dù cộng đoàn Coptic dưới sự dẫn dắt của Thượng phụ Benjamin I và Michael I tiếp tục trùng tu nhà thờ vào thế kỷ 7 tới thế kỷ 9, các cuộc cướp bóc của dân du mục và việc cạn nguồn nước khiến thành phố cổ dần bị cát sa mạc vùi lấp.
- Năm 1905 tới năm 1907 và từ năm 1961Nhà khảo cổ Đức Carl Maria Kaufmann phát hiện lại Thành phố Cẩm thạch Abu MenaTừ năm 1905 tới 1907, nhà khảo cổ học người Đức Carl Maria Kaufmann cùng Ewald Falls đã khai quật dưới lớp cát sa mạc Mariout, đưa ra ánh sáng toàn bộ quần thể Đại Vương cung thánh đường, hầm mộ Thánh Menas và hàng nghìn bình gốm Ampullae; từ năm 1961, Viện Khảo cổ Đức tại Cairo (DAIK) do Peter Grossmann chủ trì tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu.
- Ngày 27 tháng 11 năm 1959Thánh Giáo hoàng Coptic Kyrillos VI đặt viên đá đầu tiên xây dựng Đan viện Thánh Mina mớiĐức Giáo hoàng Kyrillos VI (Vị Giáo hoàng thứ 116 của Alexandria, người có lòng sùng kính đặc biệt đối với Thánh Mina) mua khu đất rộng 100 mẫu ngay sát phía bắc khu di tích cổ để tái lập Đan viện Thánh Mina sống động với đại thánh đường 7 bàn thờ.
- Năm 1979, năm 2001 và tháng 7 năm 2025Ghi danh Di sản Thế giới UNESCO và kỳ tích giải cứu di tích khỏi mực nước ngầm năm 2025Được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới năm 1979 (mã số 90); năm 2001 di tích bị đưa vào Danh sách Di sản bị đe dọa do nước ngầm từ dự án tưới tiêu nông nghiệp làm tan rã lớp đất sét nền móng; đến tháng 7 năm 2025, sau khi Chính phủ Ai Cập hoàn tất hệ thống 170 giếng bơm hạ nước ngầm chạy bằng năng lượng mặt trời và gia cố hầm mộ, UNESCO chính thức đưa Abu Mena ra khỏi danh sách nguy cấp.
Ghi chép sống động của nhà địa lý học Ả Rập Al-Bakri thế kỷ 11 và cuộc khai quật năm 1905. Ngay cả sau khi đô thị hành hương Abu Mena đã qua thời kỳ đỉnh cao, vẻ tráng lệ của các công trình đá cẩm thạch giữa sa mạc vẫn khiến các học giả Hồi giáo thời Trung cổ kinh ngạc. Vào thế kỷ 11, nhà địa lý học lỗi lạc người Ả Rập xứ Andalusia là Abu Ubayd al-Bakri (1014 tới 1094) đã mô tả Abu Mena trong sách địa dư của mình như một quần thể cung điện và đền đài kỳ vĩ bằng đá cẩm thạch tốt nhất với những pho tượng điêu khắc tinh xảo và những ngọn đèn chầu bên trên mộ Thánh Menas cháy sáng cả ngày lẫn đêm không bao giờ tắt. Trước đó, vào thế kỷ 9, dưới triều Khalip nhà Abbasid là Al-Mu'tasim, khi xây dựng kinh đô mới Samarra ở Iraq vào năm 836, các kiến trúc sư triều đình từng cho tháo dỡ nhiều cột đá cẩm thạch quý giá và phiến đá lát nhiều màu từ phế tích Abu Mena để chở đi trang hoàng cung điện. Mãi đến mùa hè năm 1905, khi nhà khảo cổ học người Đức Monsignore Carl Maria Kaufmann lần theo những mảnh gốm vỡ và lời kể của người Bedouin du mục tại gò đất Karm Abu Mina, thế giới hiện đại mới sững sờ nhìn thấy toàn bộ mặt bằng đô thị hành hương cổ đại cùng bậc thang dẫn xuống hầm mộ Thánh Menas hiện ra nguyên vẹn dưới lòng cát.
IIIĐại Vương Cung Thánh Đường Chữ Thập, Nhà Thờ Hầm Mộ, Nhà Rửa Tội Tám Cạnh Và Đan Viện Thánh Mina Đương Đại
Mặt bằng quy hoạch đô thị của Abu Mena thời kỳ thế kỷ 5 và thế kỷ 6 thể hiện trình độ tổ chức không gian bậc thầy của kiến trúc Đông La Mã kết hợp truyền thống Coptic bản địa. Tâm điểm của toàn thành phố là một Tổ hợp Phụng vụ Liên hoàn dài hơn một trăm hai mươi mét chạy dọc theo trục Tây sang Đông, ghép nối ba công trình tôn giáo lớn lại thành một chỉnh thể duy nhất: ở phía tây là Nhà Rửa tội tám cạnh (Baptistery), ở giữa là Nhà thờ Hầm mộ (Crypt Church / Martyrion) xây ngay phía trên mộ Thánh Menas, và nối tiếp về phía đông là Đại Vương cung thánh đường (Great Basilica) của Hoàng đế Arcadius.
Bao quanh khu trung tâm thánh thiêng này ở phía bắc là Quảng trường Hành hương lớn (Pilgrims' Court) được viền bởi các hàng hiên cột đá (porticoes), dẫn ra các khu nhà trọ miễn phí cho người nghèo và bệnh nhân (Xenodochia), khu nhà tắm công cộng kép, các xưởng ép rượu nho, lò nung gốm Ampullae, còn ở phía nam là một bán nguyệt đường (Hemicyclium) gồm các phòng dành cho bệnh nhân ngủ lại qua đêm để cầu xin ơn chữa lành (nghi thức Incubation).
Nằm ở độ sâu khoảng 4 mét dưới nền Vương cung thánh đường trung tâm là Hầm mộ Thánh Menas: một phòng đá ngầm có mái vòm từng được ốp đá cẩm thạch trắng và trang trí khảm mosaic vàng trên trần. Khách hành hương thời cổ đại đi xuống hầm mộ bằng một cầu thang đá lớn ở phía đông sau khi kính viếng mộ Thánh nhân thì đi lên bằng một cầu thang riêng ở phía tây để tránh ùn tắc. Phía trên hầm mộ là Vương cung thánh đường Tử đạo (được xây lại dưới dạng nhà thờ 4 lá Tetraconch vào thế kỷ 6) với giếng lấy dầu thánh thông thẳng xuống hầm mộ.
Được kiến thiết vào đầu thế kỷ 5 và mở rộng thời Hoàng đế Zeno, đây là một trong những nhà thờ lớn nhất Ai Cập thời cổ đại với chiều dài 66,5 mét và chiều rộng tại cánh ngang 51 mét. Công trình có thiết kế hình chữ thập (cruciform basilica) gồm gian chính chia ba lòng và một cánh ngang (transept) cũng chia ba lòng nâng đỡ bởi 56 cây cột đá cẩm thạch có đầu cột chạm khắc kiểu Corinth tinh xảo, phía đông là cung thánh bán nguyệt có bậc ghế đồng tế (Synthronon) của hàng giáo phẩm và bàn thờ lớn.
Nằm nối liền với mặt tiền phía tây của Vương cung thánh đường Hầm mộ là Nhà Rửa tội có cấu trúc hình vuông bên ngoài nhưng tạo thành một không gian bát giác (tám cạnh) có các hốc tường bán nguyệt bên trong, lợp mái vòm gạch. Chính giữa sàn lát đá cẩm thạch nhiều màu (opus sectile) là một hồ nước rửa tội sâu bằng đá cẩm thạch có hai cầu thang bước xuống để cử hành bí tích Thanh Tẩy theo lối dìm mình cho hàng trăm người dự tòng trưởng thành vào đêm Vọng Phục Sinh.
Ngay phía nam Nhà thờ Hầm mộ là một sân hình bán nguyệt (Hemicyclium) bao quanh bởi một hàng cột đá và dãy phòng nhỏ nơi các bệnh nhân nằm nghỉ qua đêm gần mộ Thánh để cầu ơn bình phục. Ở phía bắc quảng trường là hai khu nhà trọ lớn (Xenodochia) có sân trong và 45 phòng nghỉ cho khách hành hương, đi kèm Nhà tắm La Mã Đôi (Double Baths) phân chia khu nam và khu nữ riêng biệt với đầy đủ phòng tắm nóng (Caldarium), phòng tắm ấm, hệ thống lò sưởi sàn ngầm (Hypocaust) và bể chứa nước lớn.
Ngoài cụm thánh đường trung tâm, khu khảo cổ Abu Mena còn có Vương cung thánh đường Phía Bắc (cung điện và nhà thờ của vị Thượng phụ mỗi khi viếng thăm), Tu viện Phía Đông (khu cư trú của hơn 300 đan sĩ coi sóc việc phụng vụ tại đền thánh), cùng hệ thống các bàn đạp nho xây vữa chống thấm và hầm ủ rượu vang Mariout trứ danh để phục vụ Thánh lễ và cung cấp cho hàng vạn khách hành hương.
Cách khu phế tích UNESCO chỉ vài trăm mét về phía bắc là Đan viện Thánh Mina hiện đại rộng hơn 100 mẫu do Thánh Giáo hoàng Coptic Kyrillos VI khởi dựng năm 1959. Đan viện nổi bật với Đại thánh đường Thánh Mina có hai tháp chuông cao vút và 7 mái vòm lớn (bên trong có 7 bàn thờ và giữ phần thánh cốt của Thánh Menas), cùng hầm mộ bằng đá cẩm thạch nơi an táng chính Thánh Giáo hoàng Kyrillos VI (qua đời năm 1971, được tuyên thánh năm 2013).
| Hạng mục công trình | Niên đại và vị trí | Đặc điểm kiến trúc và chức năng hành hương |
|---|---|---|
| Hầm mộ Thánh Menas (Hypogeum) & Nhà thờ Tử đạo | Đầu thế kỷ 4 tới thế kỷ 6 CN; tâm điểm tổ hợp phụng vụ | Phòng mộ ngầm sâu 4 m có cầu thang đôi lên xuống một chiều; bên trên là nhà thờ kiểu 4 lá (Tetraconch) |
| Đại Vương cung thánh đường (Great Basilica) | Đầu thế kỷ 5 (thời Hoàng đế Arcadius và Zeno); phía đông hầm mộ | Nhà thờ chữ thập ba gian dài 66,5 m, rộng 51 m, gồm 56 cột đá cẩm thạch Corinth và bậc ghế Synthronon |
| Nhà Rửa tội Tám cạnh (Octagonal Baptistery) | Thế kỷ 5 tới thế kỷ 6 CN; nối liền đầu phía tây nhà thờ | Không gian bát giác lợp mái vòm, sàn đá đa sắc opus sectile và hồ rửa tội đá cẩm thạch có bậc thang |
| Bán nguyệt đường (Hemicyclium) & Nhà trọ Xenodochia | Thế kỷ 5 tới thế kỷ 6 CN; phía nam và phía bắc quảng trường | Khu phòng nghỉ cầu ơn chữa lành sát mộ Thánh và hai khu nhà nghỉ miễn phí 45 phòng cho khách hành hương |
| Nhà tắm La Mã Đôi (Double Baths) & Xưởng gốm | Thế kỷ 5 tới thế kỷ 6 CN; khu đô thị phía bắc | Tổ hợp nhà tắm sưởi ngầm Hypocaust chia khu nam - nữ và lò nung hàng vạn bình gốm thánh Ampullae |
| Đan viện Thánh Mina mới (Modern Monastery) | Khởi công ngày 27/11/1959; ngay sát phía bắc khu khảo cổ UNESCO | Tu viện Coptic đương đại với Đại thánh đường 7 mái vòm, nơi lưu giữ thánh cốt Thánh Mina và mộ Giáo hoàng Kyrillos VI |
IVThế Đất Và Hướng
Cần khẳng định rõ rằng truyền thống Kitô giáo sơ kỳ tại Ai Cập và kiến trúc Đông La Mã không sử dụng thuật phong thủy phương Đông. Vị trí hình thành đô thị Abu Mena được xác định bởi niềm tin tôn giáo vào điểm dừng chân của hai con lạc đà chở hài cốt Thánh Menas bên mạch nước ngầm trên sa mạc Mariout, còn bố cục các vương cung thánh đường tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc hướng bàn thờ về phía Đông (Ad Orientem) của phụng vụ Kitô giáo. Dưới đây là phần đọc cảnh quan địa lý và trục hướng của Abu Mena theo góc nhìn đối chiếu hình thế cổ truyền của thư viện.
Xét trên đại cục địa lý vùng tây bắc Ai Cập tại tọa độ 30,8411 độ vĩ bắc, 29,6636 độ kinh đông, Quần thể hành hương Abu Mena tọa lạc trên một dải bình nguyên đá vôi và đất sét nâng cao nhẹ giữa vùng trũng sa mạc Mariout (Mareotis), nằm về phía nam của đầm phá Hồ Mariout (Lake Mariout) và dải đồi đá vôi ven biển Địa Trung Hải. Vào thời cổ đại từ thế kỷ 4 tới thế kỷ 6, vùng đất này không hề khô cằn như hiện nay mà là một ốc đảo nông nghiệp trù phú (thủy tụ sa trung) được nuôi dưỡng bởi các nhánh kênh dẫn nước ngọt từ sông Nile đổ vào hồ Mariout và các mạch nước ngầm tự nhiên, cho phép trồng những cánh đồng nho, ô-liu và lúa mì bạt ngàn. Khách hành hương từ khắp vùng Địa Trung Hải cập cảng Alexandria rồi đi thuyền dọc qua mặt nước hồ Mariout tới bến cảng phía bắc, sau đó đi bộ theo đại lộ hành hương tiến vào thành phố thánh. Trong phép xem hình thế cổ truyền, vị trí một gò đất bằng phẳng có mạch nước ngọt tự nhiên nổi lên ở điểm giao thoa giữa vùng hồ nước phía bắc và dải sa mạc rộng mở phía nam tạo nên thế bình dương tụ thủy, ốc đảo tàng châu, vừa đủ biệt lập để giữ sự thanh tịnh linh thiêng, vừa kết nối thuận lợi với tuyến giao thương hàng hải quốc tế.
Xét về trục hướng nội cục, toàn bộ tổ hợp ba công trình cốt lõi của Abu Mena (Nhà Rửa tội tám cạnh ở phía Tây, Nhà thờ Hầm mộ ở giữa và Đại Vương cung thánh đường của Hoàng đế Arcadius ở phía Đông) được quy hoạch thẳng tắp trên một trục Chính Tây sang Chính Đông dài hơn 120 mét. Người hành hương bắt đầu bước qua nghi thức thanh tẩy ở cực Tây, tiến qua hầm mộ vị Thánh Tử đạo ở trung tâm và hướng về cung thánh bán nguyệt ở cực Đông, nơi đón ánh bình minh mặt trời mọc trên sa mạc tượng trưng cho Đức Kitô Phục Sinh. Sự sắp đặt Quảng trường Hành hương rộng mở ở phía Bắc (hướng về phía hồ Mariout và biển Địa Trung Hải để đón gió mát tự nhiên) và Bán nguyệt đường Hemicyclium ôm vòng ở phía Nam tạo thành thế tả hữu hộ vệ, tiền hậu quán thông vô cùng hài hòa với khí hậu bán hoang mạc Bắc Phi.
VĐại Lễ Thánh Tử Đạo Menas Ngày 15 Tháng Hathor, Lễ Giỗ Thánh Giáo Hoàng Kyrillos VI Và Kỳ Tích Bảo Tồn Di Sản Năm 2025
Không giống như nhiều khu phế tích khảo cổ chỉ còn lại những viên đá câm lặng, Abu Mena ngày nay là một thánh địa sống động nơi quá khứ ngàn năm và đức tin đương đại hòa quyện làm một. Nhờ sự hiện diện của Đan viện Thánh Mina (Deir Mar Mina) ngay cạnh khu di tích UNESCO, truyền thống hành hương về sa mạc Mariout từng bị gián đoạn hàng thế kỷ đã được phục hồi mạnh mẽ, thu hút hàng trăm nghìn tín hữu Chính thống giáo Coptic và du khách quốc tế mỗi năm.
| Thời gian | Hệ lịch | Tên lễ tiết và Sự kiện | Nghi thức cử hành tại Abu Mena và Đan viện Thánh Mina |
|---|---|---|---|
| Ngày 15 tháng Hathor hằng năm (tức ngày 24 tháng 11 Dương lịch; năm nhuận là 25/11) | Lịch Tử đạo Coptic (Coptic Calendar) và Dương lịch | Đại lễ Kính Thánh Tử đạo Menas (Feast of the Martyrdom of Saint Mina the Wonderworker) | Kỳ đại lễ hành hương lớn nhất trong năm tại Mariout: hàng vạn tín hữu từ khắp Ai Cập đổ về Đan viện Thánh Mina và khu di tích cổ Abu Mena để tham dự đêm canh thức rước thánh ảnh, xông hương trước hòm thánh cốt của Thánh Mina và cử hành Phụng vụ Thánh lễ trọng thể vào sáng sớm. |
| Ngày 15 tháng Ba'unah hằng năm (tức ngày 22 tháng 6 Dương lịch) | Lịch Phụng vụ Coptic | Lễ Kỷ niệm Phát hiện Hài cốt và Thánh hiến Nhà thờ Thánh Menas tại Mariout | Tưởng niệm biến cố lịch sử tìm lại hài cốt Thánh Menas dưới lòng đất sa mạc Mariout nhờ phép lạ hai con lạc đà và việc thánh hiến ngôi nhà thờ đầu tiên trên hầm mộ vào thế kỷ 4. |
| Ngày 30 tháng Amshir hằng năm (tức ngày 9 tháng 3 Dương lịch) | Lịch Phụng vụ Coptic và Dương lịch | Đại lễ Tưởng niệm Thánh Giáo hoàng Kyrillos VI (Pope Cyril VI of Alexandria) | Hàng trăm nghìn người hành hương về Đan viện Thánh Mina tại Mariout để kính viếng lăng mộ của Thánh Giáo hoàng Kyrillos VI (1902 tới 1971), vị giáo hoàng đã có công tái thiết đan viện bên cạnh khu phế tích Abu Mena vào năm 1959. |
| Ngày 11 tháng 11 hằng năm | Lịch Chính thống giáo Đông phương (Hy Lạp) và Công giáo | Lễ kính Thánh Menas xứ Ai Cập trong truyền thống Kitô giáo toàn cầu | Các đoàn hành hương Chính thống giáo Hy Lạp và Công giáo quốc tế đến viếng thăm khu khảo cổ Đại Vương cung thánh đường Abu Mena để chiêm niệm tại hầm mộ vị thánh chung của Giáo hội sơ kỳ chưa phân chia. |
Kỳ tích kỹ thuật giải cứu Di sản Thế giới năm 2025. Một dấu mốc lịch sử đáng tự hào vừa diễn ra tại Abu Mena vào tháng 7 năm 2025 tại Kỳ họp lần thứ 47 của Ủy ban Di sản Thế giới UNESCO. Trước đó, từ năm 2001, Abu Mena từng bị xếp vào Danh sách Di sản Thế giới bị đe dọa do các chương trình cải tạo đất nông nghiệp quanh vùng Borg El Arab làm mực nước ngầm dâng cao đột ngột, khiến lớp đất sét cứng dưới nền di tích bị nhão thành bùn và đe dọa làm sụp đổ hầm mộ Thánh Menas. Trải qua hơn hai thập niên nỗ lực bền bỉ với kinh phí hàng triệu đô la, Bộ Du lịch và Cổ vật Ai Cập phối hợp cùng UNESCO và các tu sĩ Đan viện Thánh Mina đã xây dựng thành công một hệ thống kỹ thuật thủy lợi thông minh gồm 170 giếng bơm ngầm tự động vận hành hoàn toàn bằng năng lượng mặt trời bao quanh chu vi di tích để hạ thấp mực nước ngầm xuống độ sâu an toàn, đồng thời gia cố vòm Hầm mộ Thánh Menas và mở lối tham quan bảo tồn bền vững cho thế hệ mai sau.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Sa mạc Mariout, huyện Borg El Arab, cách thành phố Alexandria 45 km về phía tây nam, tỉnh Alexandria, Ai Cập
- Đường tới
- Quần thể hành hương Abu Mena nằm tại vùng sa mạc Mariout thuộc huyện Borg El Arab, cách trung tâm thành phố Alexandria khoảng 45 tới 50 km về phía tây nam (cách Sân bay Quốc tế Borg El Arab - HBE chỉ khoảng 20 km về phía nam, và cách thủ đô Cairo khoảng 195 km về phía tây bắc). Cách thuận tiện nhất để đi từ Alexandria (hoặc từ Cairo) là thuê xe ô tô riêng có tài xế hoặc đi taxi qua tuyến Đường cao tốc Sa mạc Cairo - Alexandria (Cairo-Alexandria Desert Road) hoặc đường ven biển hướng về Borg El Arab Mới (New Borg El Arab), sau đó rẽ theo biển chỉ dẫn có hình hai con lạc đà vào đại lộ dẫn thẳng tới cổng Đan viện Thánh Mina và khu khảo cổ Abu Mena trong khoảng 50 tới 60 phút từ trung tâm Alexandria.
- Toạ độ
- 30.8411, 29.6636
Quần thể khảo cổ Abu Mena và Đan viện Thánh Mina liền kề mở cửa đón khách hành hương và khách tham quan hàng ngày từ 8 giờ sáng tới 17 giờ chiều (miễn phí vé vào cửa cả ở khu đan viện hiện đại lẫn khu phế tích khảo cổ bên cạnh, trừ những tuần tĩnh tâm đặc biệt của Mùa Chay Coptic cần kiểm tra trước). Khi đến tham quan, du khách nên kết hợp ghé thăm cả hai khu vực: bắt đầu từ cổng Đan viện Thánh Mina hiện đại để chiêm ngưỡng Đại thánh đường 7 mái vòm, kính viếng thánh cốt Thánh Mina cùng lăng mộ Thánh Giáo hoàng Kyrillos VI và thưởng thức những sản phẩm nông nghiệp sạch (dầu ô-liu, mật ong, chà là) do chính các đan sĩ canh tác trên sa mạc; sau đó đi bộ hoặc lái xe khoảng 800 mét về phía nam để bước vào khu khảo cổ UNESCO Abu Mena ngắm nhìn các hàng cột đá cẩm thạch của Đại Vương cung thánh đường, Nhà Rửa tội tám cạnh và lối xuống Hầm mộ cổ. Khu vực khảo cổ nằm hoàn toàn ngoài trời giữa nắng gió sa mạc, không có bóng cây che mát nên quý vị cần mang theo mũ rộng vành, kính râm, nước uống đầy đủ, giày đế bằng đi bộ trên cát đá và mặc trang phục kín đáo lịch sự (che vai và đầu gối; phụ nữ nên mang theo khăn choàng đầu khi bước vào bên trong nhà thờ của Đan viện).
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Quần thể hành hương Abu Mena, Alexandria
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Thánh Menas được tôn kính tại Abu Mena là ai và vì sao biểu tượng của ngài luôn có hai con lạc đà?
Thánh Menas (khoảng 285 tới 296 CN) là một chiến binh Kitô giáo người Ai Cập phục vụ trong quân đội La Mã tại vùng Phrygia (Tiểu Á) và đã chịu chém đầu tử đạo dưới thời Hoàng đế Diocletianus vì kiên quyết tuyên xưng đức tin. Khi hài cốt của ngài được đưa về Ai Cập và đặt lên lưng hai con lạc đà đi qua vùng sa mạc Mariout, cả hai con lạc đà đều dừng lại quỳ xuống tại cùng một điểm và nhất quyết không đi tiếp; người dân đã an táng ngài tại đó, nơi phát xuất mạch nước chữa lành và hình thành nên đô thị hành hương Abu Mena.
Những chiếc bình gốm thánh Ampullae của Abu Mena là gì và vì sao chúng nổi tiếng trong giới khảo cổ học?
Ampullae của Thánh Menas là những chiếc bình đất nung nhỏ hình tròn dẹt có hai quai đeo cổ, được sản xuất hàng loạt tại các xưởng gốm của Abu Mena từ thế kỷ 4 tới thế kỷ 7 để khách hành hương đựng nước suối thiêng hoặc dầu từ đèn chầu trên mộ Thánh Menas mang về quê hương. Hai mặt bình đều dập nổi hình Thánh Menas đứng giơ hai tay cầu nguyện giữa hai con lạc đà quỳ; hàng vạn chiếc bình này đã được tìm thấy ở khắp Anh, Pháp, Đức, Ý, Croatia, Thổ Nhĩ Kỳ, Jerusalem và Sudan, chứng minh mạng lưới hành hương quốc tế rộng lớn của Abu Mena.
Quần thể kiến trúc cổ đại tại khu khảo cổ UNESCO Abu Mena bao gồm những công trình chính nào?
Tâm điểm của đô thị cổ Abu Mena là tổ hợp phụng vụ dài hơn 120 mét nối liền ba công trình theo trục Tây - Đông: Nhà Rửa tội Tám cạnh có hồ dìm mình bằng đá cẩm thạch ở phía Tây, Nhà thờ Hầm mộ (nơi đặt mộ Thánh Menas sâu 4 mét dưới lòng đất) ở giữa, và Đại Vương cung thánh đường hình chữ thập ba gian dài 66,5 mét do Hoàng đế Arcadius và Zeno xây dựng ở phía Đông. Xung quanh còn có Quảng trường Hành hương, Bán nguyệt đường Hemicyclium cho bệnh nhân, nhà trọ Xenodochia, Nhà tắm La Mã Đôi và các xưởng ép rượu nho.
Vì sao Abu Mena từng bị đưa vào Danh sách Di sản Thế giới bị đe dọa năm 2001 và đã được giải cứu như thế nào vào năm 2025?
Năm 2001, UNESCO đưa Abu Mena vào Danh sách Di sản bị đe dọa vì các kênh tưới tiêu nông nghiệp mới quanh vùng làm mực nước ngầm dâng cao, khiến nền đất sét cứng dưới chân di tích bị nhão và gây sụt lún hầm mộ cổ. Sau dự án kỹ thuật quy mô lớn của Chính phủ Ai Cập lắp đặt hệ thống 170 giếng bơm ngầm tự động chạy bằng năng lượng mặt trời để hạ thấp mực nước ngầm và gia cố nền móng thành công, vào tháng 7 năm 2025 UNESCO đã chính thức đưa Abu Mena ra khỏi Danh sách Di sản bị đe dọa.
Đan viện Thánh Mina nằm ngay cạnh khu khảo cổ Abu Mena được xây dựng khi nào?
Đan viện Thánh Mina đương đại (Deir Mar Mina) nằm ngay sát rìa phía bắc khu khảo cổ được Thánh Giáo hoàng Coptic Kyrillos VI (Giáo hoàng thứ 116 của Alexandria) đặt viên đá đầu tiên khởi dựng vào ngày 27 tháng 11 năm 1959 nhằm khôi phục đời sống đan tu và hành hương sau nhiều thế kỷ gián đoạn. Hiện nay đan viện là một trung tâm tâm linh sầm uất với Đại thánh đường 7 mái vòm lưu giữ thánh cốt Thánh Mina và lăng mộ của chính Thánh Giáo hoàng Kyrillos VI.