Khi lữ khách đi từ biên giới Hy Lạp hoặc Bulgaria tiến vào vùng đồng bằng Đông Thrace của Thổ Nhĩ Kỳ, nơi ba dòng sông Tunca, Meriç (Maritsa) và Arda hội tụ quanh cố đô Edirne (thành Adrianople cổ đại và từng là kinh đô thứ hai của Đế quốc Ottoman từ năm 1365 tới năm 1453), hình ảnh đầu tiên hiện lên từ khoảng cách hàng chục kilômét trên đường chân trời là một khối vòm vương giả được hộ vệ bởi bốn ngọn tháp giáo đường thanh mảnh như bốn mũi giáo bạc vươn thẳng lên mây xanh. Công trình làm chủ toàn bộ không gian đô thị ấy chính là Thánh đường Selimiye (Selimiye Camii), viên ngọc quý bậc nhất của nền kiến trúc Hồi giáo thế giới thế kỷ 16.
Được khởi công năm 1568 và hoàn thành năm 1574 dưới sự bảo trợ của Sultan Selim II (con trai của Sultan Süleyman Đại Đế và Hoàng hậu Hürrem), Thánh đường Selimiye là công trình tâm huyết cuối đời của Koca Mimar Sinan (1489 tới 1588), vị tổng công trình sư vĩ đại nhất lịch sử Đế quốc Ottoman. Khi bắt tay vào vẽ đồ án Selimiye ở tuổi ngoài tám mươi, Sinan đã đúc kết toàn bộ kinh nghiệm của hơn ba trăm công trình trước đó trong câu nói bất hủ ghi lại trong hồi ký Tezkiretü'l-Bünyan: Thánh đường Şehzade ở Istanbul là tác phẩm thời học việc của tôi, Thánh đường Süleymaniye là tác phẩm thời thợ lành nghề của tôi, còn Thánh đường Selimiye tại Edirne chính là kiệt tác bậc thầy của đời tôi. Năm 2011, UNESCO đã ghi danh Thánh đường Selimiye và Quần thể Xã hội (Külliye) là Di sản Thế giới (mã số 1366), tôn vinh đỉnh cao sáng tạo của trí tuệ kỹ thuật và mỹ học tâm linh nhân loại.

IThờ Phượng Thượng Đế Duy Nhất (Allah), Vũ Trụ Quan Ánh Sáng Dưới Mái Vòm Đơn Và Biểu Tượng Hoa Tulip Ngược
Theo đúng tinh thần độc thần tuyệt đối (Tawhid) của Hồi giáo Sunni thuộc trường phái luật học Hanafi (quốc giáo chính thống của vương triều Ottoman), Thánh đường Selimiye được kiến tạo như một không gian cầu nguyện thuần khiết dâng hiến cho Thượng Đế Duy Nhất (Allah). Khác với nhiều thánh đường thời kỳ đầu có hàng chục cây cột chia cắt không gian hoặc những nhà thờ chuyển đổi có các gian phụ khuất tối, Mimar Sinan đã thiết kế đại sảnh cầu nguyện của Selimiye dưới một mái vòm tròn duy nhất bao trùm toàn bộ không gian. Trong thần học kiến trúc của Sinan, một mái vòm tròn hoàn hảo không bị bất kỳ cây cột trung gian nào che khuất chính là biểu tượng vật chất trực quan nhất cho sự Duy Nhất của Đấng Tạo Hóa và sự bình đẳng tuyệt đối của mọi tín hữu khi đứng thành hàng ngang (saff) hướng về thánh địa Mecca.
Bước qua cánh cổng đại sảnh, ánh mắt người hành hương lập tức được dẫn dắt tới hai tâm điểm phụng vụ: ở bức tường phía nam đông nam là hốc cầu nguyện Mihrab được đẩy lùi sâu vào một không gian bán nguyệt ngập tràn ánh sáng và ốp kín gạch sứ men lam İznik, còn ngay ở chính giữa tâm điểm hình học dưới đỉnh mái vòm là Đài xướng kinh của các giáo sĩ trợ lễ (Müezzin Mahfili) bằng đá cẩm thạch đặt phía trên một vòi phun nước thanh tẩy róc rách, kết nối trục thẳng đứng giữa dòng nước sự sống dưới mặt đất và vòm trời thư pháp kinh Qur'an ở độ cao hơn bốn mươi hai mét.
Trung tâm của vòm đại sảnh Selimiye được trang hoàng bằng bức đại tự thư pháp tròn (levha) viết chương Surah Al-Ikhlas (Chương 112 của kinh Qur'an): Hãy nói: Ngài là Allah, Đấng Duy Nhất; Allah, Đấng Vĩnh Hằng Tuyệt Đối; Ngài không sinh ra ai và cũng không do ai sinh ra; và không một ai có thể sánh ngang cùng Ngài. Vây quanh dòng kinh văn ấy là 999 ô cửa sổ xếp thành nhiều tầng từ chân tường lên tới cổ vòm, biến ánh sáng tự nhiên thành chất liệu thiêng liêng đúng như tinh thần câu kinh Ánh Sáng (Ayat an-Nur, Qur'an 24:35): Allah là Ánh Sáng của các tầng trời và mặt đất.
Đặc biệt, ngay dưới chân cột đá cẩm thạch phía đông bắc của Đài xướng kinh Müezzin Mahfili ở giữa sảnh có một chi tiết chạm khắc nhỏ nhắn nhưng nổi tiếng khắp đất nước Thổ Nhĩ Kỳ: hình ảnh một bông hoa tulip mọc chúc ngược đầu xuống đất (Ters Lale). Trong văn hóa tâm linh Ottoman, hoa tulip vốn là biểu tượng của hồng danh Allah; còn bông hoa tulip ngược tại Selimiye vừa lưu giữ câu chuyện nhân sinh về bà lão chủ vườn hoa tulip đã nhường mảnh đất làm nền đền, vừa nhắc nhở người hành lễ về đức tính khiêm cung, cúi đầu trước Đấng Tối Cao.
Trong cuốn hồi ký kiến trúc Tezkiretü'l-Bünyan do nhà thơ kiêm họa sĩ Mustafa Sai Çelebi ghi chép trực tiếp từ lời kể của Mimar Sinan, vị đại kiến trúc sư đã thổ lộ nỗi trăn trở lớn nhất của giới xây dựng Hồi giáo suốt hơn một thế kỷ sau năm 1453: các kiến trúc sư châu Âu và Byzantine đương thời vẫn thường tự hào rằng người Hồi giáo chưa bao giờ dựng nổi một mái vòm đơn nào sánh ngang được với mái vòm của Đại thánh đường Hagia Sophia tại Istanbul (vốn được xây dựng từ thời Hoàng đế Justinianus I năm 537).
Sinan viết rằng chính lời thách thức ấy đã thôi thúc ông dồn toàn bộ trí lực ở tuổi tám mươi vào công trình Selimiye tại Edirne. Với sự bảo trợ tài chính từ chiến lợi phẩm cuộc chinh phục đảo Síp (Cyprus, năm 1570 tới 1571) dưới triều Sultan Selim II, Sinan đã thiết kế mái vòm Selimiye đạt đường kính 31,25 mét (tương đương 43,5 thước zira Ottoman), vượt qua đường kính trục ngắn của vòm Hagia Sophia (vốn bị biến dạng hình bầu dục qua các trận động đất) và tạo ra một không gian nội thất sáng sủa, vững chãi chưa từng có, tới mức trải qua hơn bốn thế kỷ rưỡi với nhiều trận động đất lớn và ba cuộc vây hãm quân sự tại vùng Balkan, mái vòm Selimiye vẫn đứng vững nguyên vẹn không một vết nứt kết cấu.
Một sự nhầm lẫn thường gặp là nhiều người thắc mắc vì sao Sultan Selim II không xây dựng ngôi đại thánh đường mang tên mình tại kinh đô Istanbul (như vua cha Süleyman Đại Đế đã làm) mà lại đặt tại thành phố biên viễn Edirne, hoặc lầm tưởng rằng Edirne lúc bấy giờ chỉ là một thị trấn tỉnh lẻ. Thực chất, vào thế kỷ 16, tại Istanbul đã có quá nhiều đại thánh đường hoàng gia trên các ngọn đồi chính; hơn nữa, Edirne chính là kinh đô hoàng gia thứ hai (Darü'l-Mülk), là cửa ngõ tập kết đại quân Ottoman tiến vào châu Âu và là nơi Sultan Selim II đặc biệt yêu mến từ thời còn làm hoàng tử tới khi lên ngôi. Việc dựng Selimiye trên ngọn đồi cao nhất Edirne mang ý nghĩa chiến lược: tạo nên biểu tượng uy quyền đầu tiên của Đế quốc Ottoman chào đón mọi phái đoàn ngoại giao và lữ khách từ phương Tây bước vào lãnh thổ đế chế.
IITừ Giấc Mơ Của Sultan Selim II Tới Công Trình Để Đời Của Mimar Sinan Và Sự Bảo Tồn Qua Khói Lửa Balkan
Lịch sử ra đời của Thánh đường Selimiye bắt đầu từ những năm đầu triều đại của Sultan Selim II (trị vì từ năm 1566 tới năm 1574). Theo sử biên niên Ottoman của học giả Evliya Çelebi trong bộ Seyahatname (Du ký), Sultan Selim II trong thời gian ngự tại cung điện Edirne đã nằm mộng thấy Đấng Tiên tri Muhammad hiện về chỉ định ngọn đồi trung tâm thành phố (khu đất cung điện cũ Sarıbayır hay Kavak Meydanı do Sultan Bayezid I từng xây dựng) làm nơi dựng một ngôi đại thánh đường để kỷ niệm cuộc chinh phục đảo Síp.
Mùa xuân năm 1568 (năm 976 theo lịch Hijri), Mimar Sinan dẫn đoàn kiến trúc sư hoàng gia tới Edirne khảo sát địa chất và khởi công đào móng; lễ đặt viên đá đầu tiên diễn ra ngày 12 tháng 4 năm 1569. Suốt sáu năm ròng rã, khoảng mười bốn nghìn người thợ thủ công lành nghề nhất từ khắp các tỉnh của Đế quốc Ottoman (thợ đá Hy Lạp và Armenia, thợ gốm sứ İznik, thợ mộc chạm khảm xà cừ Istanbul, các bậc thầy thư pháp như Hasan Karahisari) đã làm việc dưới sự chỉ huy trực tiếp của Sinan. Công trình hoàn thành phần xây dựng vào cuối năm 1574; tuy nhiên Sultan Selim II đã băng hà vào tháng 12 năm 1574 tại Istanbul chỉ ít tuần trước ngày lễ khánh thành chính thức diễn ra vào ngày 14 tháng 3 năm 1575 dưới triều vị tân hoàng đế Murad III.
- Năm 1568 tới ngày 12/4/1569Sultan Selim II phê duyệt đồ án của Mimar Sinan và khởi công tại đồi Kavak MeydanıSultan Selim II chọn cố đô Edirne làm nơi dựng đại thánh đường hoàng gia; đại kiến trúc sư Mimar Sinan (lúc này gần 80 tuổi) thiết kế hệ mái vòm bát giác và cho đào nền móng sâu để ổn định kết cấu đất đồi.
- Năm 1572 tới năm 1573Hoàn thành bốn ngọn tháp giáo đường 83 mét và hợp long mái vòm trung tâmBốn tháp minaret cao nhất thế giới Hồi giáo đương thời được dựng xong năm 1572; tiếp đó Sinan hoàn thành việc ghép vòm chính đường kính 31,25 mét và cho lò gốm İznik nung hàng nghìn viên gạch sứ men ngọc bích và đỏ san hô.
- Tháng 11 năm 1574 và 14/3/1575Hoàn tất công trình và cử hành đại lễ khánh thành Thánh đường SelimiyeNgôi thánh đường hoàn thiện vào mùa đông năm 1574 ngay trước khi Sultan Selim II qua đời (15/12/1574); đại lễ cầu nguyện khánh thành chính thức được cử hành vào ngày Thứ Sáu 14 tháng 3 năm 1575.
- Năm 1589Kiến trúc sư Davud Agha xây thêm dãy phố chợ mái vòm Arasta (Kavaflar Çarşısı)Sau khi Mimar Sinan qua đời năm 1588, người học trò kế nhiệm là tổng công trình sư Davud Agha xây dựng dãy phố thương mại 124 gian hàng có mái vòm đá dọc sườn tây nam để tạo nguồn thu vĩnh viễn (vakıf) nuôi dưỡng thánh đường.
- Tháng 3 năm 1913 (Chiến tranh Balkan lần thứ nhất)Cuộc vây hãm Edirne của Tướng Şükrü Pasha và việc bảo vệ nguyên vẹn SelimiyeTrong cuộc vây hãm Edirne kéo dài 155 ngày, bất chấp đạn pháo nã vào thành phố (một mảnh đạn pháo Bulgaria găm vào chân vòm vẫn được giữ làm chứng tích), Thánh đường Selimiye được tướng Mehmet Şükrü Pasha và sau đó là Vua Ferdinand I của Bulgaria ra lệnh bảo vệ nghiêm ngặt.
- Ngày 27 tháng 6 năm 2011 và giai đoạn 2021 tới 2025UNESCO công nhận Di sản Thế giới và cuộc đại trùng tu thế kỷ 21Năm 2011, Thánh đường Selimiye và Quần thể Xã hội được UNESCO ghi danh Di sản Thế giới (mã số 1366); từ năm 2021, Tổng cục Quỹ Tôn giáo Thổ Nhĩ Kỳ (Vakıflar) tiến hành đợt đại trùng tu khoa học quy mô lớn nhất trong lịch sử công trình.
Giai thoại về vườn hoa tulip của bà lão Edirne và nguyên tắc công lý của pháp luật Hồi giáo Ottoman. Theo truyền thuyết lịch sử gắn liền với hình khắc bông hoa tulip ngược (Ters Lale) dưới chân Đài xướng kinh Müezzin Mahfili, khi Mimar Sinan quy hoạch khu đất rộng lớn trên đồi Kavak Meydanı để dựng quần thể Selimiye, có một mảnh vườn trồng hoa tulip nhỏ nằm đúng vị trí trung tâm đại sảnh thuộc sở hữu của một bà lão góa bụa. Vì theo giáo luật Hồi giáo (Sharia), ngay cả Hoàng đế cũng không được phép cưỡng đoạt đất tư nhân để xây thánh đường nếu chủ đất không tự nguyện bán (bởi cầu nguyện trên đất cưỡng đoạt sẽ không được Thượng Đế chấp nhận), Mimar Sinan và đại diện triều đình đã phải nhiều lần kiên nhẫn thuyết phục bà lão. Cuối cùng, bà lão đồng ý bán mảnh vườn với điều kiện Sinan phải khắc một dấu ấn trên nền đất cũ của bà trong lòng đền. Sinan đã cho chạm khắc bông hoa tulip mọc chúc ngược đầu ngay trên trụ đá cẩm thạch của Đài xướng kinh: bông hoa tulip nhắc về khu vườn cũ của bà lão, còn dáng mọc ngược ghi dấu sự bướng bỉnh ban đầu cũng như tấm lòng hiến đất cuối cùng của người phụ nữ bình dân giữa công trình hoàng gia.
IIIHệ Kết Cấu Bát Giác Đỡ Mái Vòm 31,25 Mét, Bốn Tháp Ba Cầu Thang Xoắn Ốc Và Tinh Hoa Gốm Sứ İznik
Toàn bộ quần thể Selimiye Külliye được quy hoạch trên một mặt bằng hình chữ nhật cân xứng rộng khoảng 190 nhân 130 mét, bao bọc bởi tường đá ngoài. Khác với các thánh đường trước đó nơi các trường học và bệnh viện xếp rải rác quanh nhiều sân, tại Selimiye, Mimar Sinan đã đặt ngôi thánh đường chính ở vị trí trung tâm tuyệt đối, phía bắc là sân trong có hàng cột vòm đá cẩm thạch (avlu), còn ở hai góc đông nam và tây nam phía sau bức tường Qibla là hai tòa học viện đối xứng nhau hoàn hảo: Trường dạy đọc kinh Qur'an (Darülkurra) và Trường nghiên cứu Hadith (Darülhadis).
Đột phá vĩ đại nhất về mặt kỹ thuật kiến trúc của Mimar Sinan tại Selimiye nằm ở hệ thống kết cấu bát giác tám trụ đỡ mái vòm (Eight-Pier Octagonal Baldachin System). Thay vì đặt mái vòm lên bốn trụ vuông (như ở Hagia Sophia và Süleymaniye vốn để lại các góc chết nặng nề), Sinan đã dựng tám cột trụ đá khổng lồ thiết diện mười hai cạnh xếp thành một hình bát giác nằm sát vào tường bao, nối với nhau bằng tám vòm cuốn lớn và bốn vòm góc hình vỏ sò (squinch) có gân nổi muqarnas. Nhờ đó, toàn bộ tải trọng của mái vòm khổng lồ đường kính 31,25 mét được truyền thẳng xuống tám trụ đá và hệ thống vòm bay giấu khéo léo trong các tháp tường ngoài, giải phóng hoàn toàn không gian bên trong thành một đại sảnh thống nhất rộng mênh mông không có một cây cột chắn tầm nhìn nào.
Mái vòm bán cầu duy nhất lợp chì xám có đường kính 31,25 mét (43,5 thước zira Ottoman) và đỉnh vòm cao 42,30 mét tính từ mặt sàn. Xung quanh chân vòm và bốn bức tường bao được trổ tổng cộng 999 ô cửa sổ xếp thành năm tới sáu tầng liên tiếp, đưa ánh sáng mặt trời chiếu rọi đồng đều tới từng mét vuông thảm cầu nguyện.
Đứng ở bốn góc của khối thánh đường chính là bốn ngọn tháp giáo đường bằng đá vôi cắt khía rãnh dọc, cao tới 70,89 mét (và đạt 83 mét nếu tính cả phần chóp chì nhọn Alem), thuộc hàng những ngọn tháp cổ cao nhất thế giới Hồi giáo. Mỗi tháp chỉ có đường kính thân khoảng 3,8 mét nhưng có tới 3 ban công (şerefe); riêng hai tháp phía tây được Sinan thiết kế tới 3 cầu thang xoắn ốc hoàn toàn độc lập đan lồng vào nhau trong lõi tháp, cho phép ba người cùng leo lên ba ban công khác nhau mà không bao giờ chạm mặt nhau.
Trước khi vào đại sảnh là sân trong hình chữ nhật có diện tích tương đương sảnh cầu nguyện, bao quanh bởi 16 cột đá cẩm thạch và đá hoa cương đỡ 18 mái vòm (trong đó vòm ngay trước cổng chính được nâng cao thành vòm khía múi dưa). Chính giữa sân là đài phun nước thanh tẩy (Şadırvan) bằng đá cẩm thạch trắng chạm khắc mười sáu mặt nhưng cố ý không lợp mái che để không làm khuất tầm nhìn lên cổng chính và mái vòm lớn.
Để hốc Mihrab nhận được nhiều ánh sáng nhất, Sinan đã thiết kế khu vực Mihrab nhô hẳn ra phía nam như một hậu cung nhỏ có cửa sổ ba mặt. Hai bên tường Mihrab và khu vực Lầu Hoàng đế (Hünkâr Mahfili) được ốp kín những tấm gạch sứ İznik thời kỳ đỉnh cao nhất (năm 1572) với màu đỏ san hô nổi, xanh coban và ngọc bích khắc họa vườn hoa tulip, hoa cẩm chướng và cây táo đang trổ hoa trên Thiên Đàng.
Đặt bên phải Mihrab là bục giảng Minbar cao vút được đục nguyên khối từ đá cẩm thạch trắng đảo Marmara mỏng và tinh xảo tới mức ánh nắng có thể xuyên qua các hoa văn hình học bánh xe (chark-i felek). Còn ngay chính giữa sàn đền dưới đỉnh vòm là Đài xướng kinh Müezzin Mahfili rộng 6 nhân 6 mét đặt trên 12 cột đá cẩm thạch thấp có vòi nước uống ở dưới và hình chạm Hoa Tulip Ngược nổi tiếng.
Phía đông nam và tây nam thánh đường là hai tòa trường học cổ (nay là Bảo tàng Di sản Vakıf và Bảo tàng Nghệ thuật Thổ Nhĩ Kỳ - Hồi giáo Edirne), còn dọc theo toàn bộ sườn phía tây là dãy chợ vòm đá Arasta dài 255 mét với 73 vòm cuốn và 124 cửa hiệu bán xà phòng thơm hoa quả truyền thống (Meyveli Sabun) và bánh hạnh nhân Edirne để gây quỹ bảo tồn thánh đường.
| Hạng mục kiến trúc | Thông số kỹ thuật và vật liệu | Giá trị đột phá của Mimar Sinan tại Selimiye |
|---|---|---|
| Mái vòm trung tâm (Ana Kubbe) | Đường kính 31,25 m (43,5 zira), cao 42,30 m, xây gạch nhẹ phủ tấm chì | Mái vòm đơn lớn nhất lịch sử kiến trúc Ottoman, đặt trên 8 trụ đá bát giác không cột chắn |
| Bốn tháp giáo đường (Minaret) | Cao 70,89 m (83 m tính cả đỉnh chóp), đường kính 3,8 m, mỗi tháp 3 ban công | Bốn tháp đặt ở bốn góc sảnh cầu nguyện; hai tháp tây có hệ 3 cầu thang xoắn ốc độc lập |
| Hệ thống chiếu sáng tự nhiên | 999 ô cửa sổ kính xếp tầng từ tường bao lên cổ vòm | Biến không gian dưới mái vòm khổng lồ thành một biển ánh sáng đồng nhất không góc tối |
| Bục giảng Minbar và Đài Müezzin | Đá cẩm thạch trắng đảo Marmara chạm lộng hình học; Đài rộng 6 x 6 m ở tâm đền | Kiệt tác điêu khắc đá Ottoman thế kỷ 16; chân cột đông bắc khắc biểu tượng Hoa Tulip Ngược |
| Trang trí gốm sứ nội thất | Hàng nghìn viên gạch sứ men İznik nung năm 1572 (lam, ngọc bích, đỏ san hô) | Đỉnh cao nghệ thuật gốm sứ İznik tại hốc Mihrab và Lầu Hoàng đế (Hünkâr Mahfili) |
| Quần thể phúc lợi (Külliye) | Diện tích khuôn viên khoảng 24.700 mét vuông (190 m x 130 m) | Gồm Thánh đường, trường Darülkurra, trường Darülhadis, trường tiểu học Sıbyan và chợ Arasta |
IVThế Đất Và Hướng
Cần khẳng định rõ rằng kiến trúc Hồi giáo Ottoman hoàn toàn không áp dụng thuật phong thủy phương Đông. Nguyên tắc định hướng bắt buộc của Mimar Sinan khi quy hoạch Thánh đường Selimiye là trục thiên văn Qibla (hướng toàn bộ bức tường Mihrab và hàng lối cầu nguyện thẳng về phía đền thiêng Kaaba tại Mecca), kết hợp với nhãn quan quy hoạch đô thị bậc thầy nhằm biến đỉnh đồi trung tâm Edirne thành một đài vương miện kiến trúc thống lĩnh toàn bộ đồng bằng Thrace. Dưới đây là phần phân tích hình thế sông núi và bố cục không gian của công trình dưới góc nhìn đối chiếu sơn thủy cổ truyền của thư viện.
Xét trên đại cục sơn thủy của vùng Đông Thrace tại tọa độ 41,6781 độ vĩ bắc, 26,5594 độ kinh đông, cố đô Edirne và Thánh đường Selimiye tọa lạc tại một đại huyệt tam giang hội tụ (nơi ba dòng sông lớn giao nhau giữa bình nguyên). Toàn bộ đô thị cổ Edirne nằm ngay tại khúc uốn nơi dòng sông Tunca từ phía bắc chảy vòng qua phía tây thành phố, dòng sông Arda từ dãy núi Rhodope phía tây chảy tới, và cả hai cùng đổ vào dòng đại giang Meriç (sông Maritsa) ở phía nam trước khi xuôi ra biển Aegean. Giữa vùng đất trù phú được ba cánh tay nước ôm bọc ấy nổi lên một ngọn đồi trung tâm cao khoảng 75 mét so với mực nước biển (đồi Sarıbayır / Kavak Meydanı), chính là nơi Mimar Sinan đặt nền móng Thánh đường Selimiye. Trong phép xem hình thế cổ truyền, thế đất gò đồi độc tôn đứng giữa ngã ba sông lớn bao quanh chính là cách cục tam thủy triều nguyên, kim tinh kết huyệt, giúp công trình dù nhìn từ bất kỳ hướng nào trên vùng đồng bằng biên giới Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp và Bulgaria cũng hiện lên sừng sững như ngọn núi chủ của toàn vùng.
Xét về trục hướng và bố cục nội cục, toàn bộ quần thể Thánh đường Selimiye được định vị dọc theo trục Bắc Tây Bắc - Nam Đông Nam, với cổng chính sân trong mở về hướng Tây Bắc và bức tường Mihrab xoay chính xác về hướng Nam Đông Nam (khoảng 147 độ, hướng thẳng về Mecca). Để nâng tầm vóc công trình trên sườn đồi có độ dốc tự nhiên về phía tây nam, Mimar Sinan và sau đó là Davud Agha đã kiến tạo dãy chợ mái vòm Arasta chạy dọc suốt chiều dài 255 mét ở sườn tây nam như một bậc thềm đá kiên cố (hổ sa hộ vệ) vừa chống xói lở nền đồi, vừa nâng khối mái vòm chính và bốn ngọn tháp 83 mét vươn lên cao vút trên nền trời Edirne.
VĐại Lễ Tháng Chay Ramadan, Truyền Thống Treo Đèn Chữ Mahya Giữa Các Tháp Và Lễ Hội Văn Hóa Cố Đô Edirne
Là đại thánh đường trung tâm vùng biên viễn phía tây của Thổ Nhĩ Kỳ và là niềm tự hào của người dân vùng Thrace, Thánh đường Selimiye là nơi cử hành trọng thể các nghi lễ phụng vụ Hồi giáo theo lịch âm Hijri dưới sự điều hành của Văn phòng Đại Mufti tỉnh Edirne thuộc Tổng cục Tôn giáo Thổ Nhĩ Kỳ (Diyanet), kết hợp với những lễ hội di sản truyền thống có tuổi đời hơn sáu thế kỷ của cố đô Edirne.
| Thời gian | Hệ lịch | Tên lễ tiết (Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ / Ả Rập) | Nghi thức cử hành tại Thánh đường Selimiye, Edirne |
|---|---|---|---|
| Trọn tháng 9 lịch Hijri hằng năm | Lịch Hồi giáo (Hijri) | Tháng chay thiêng Ramadan (Ramazan Ayı) và Nghệ thuật đèn chữ Mahya | Giữa bốn ngọn tháp cao 83 mét của Selimiye được căng những dải đèn chữ sáng rực trên bầu trời đêm (nghệ thuật Mahya di sản UNESCO của Thổ Nhĩ Kỳ); mỗi tối sau bữa xả chay Iftar, hàng nghìn tín hữu từ khắp vùng Balkan tụ hội dưới mái vòm Sinan để cử hành lễ cầu nguyện đêm Teravih (Tarawih) và nghe xướng kinh Qur'an đối đáp (Mukabele). |
| Đêm 27 tháng Ramadan | Lịch Hồi giáo (Hijri) | Đêm Định Mệnh Thiêng Liêng Kadir Gecesi (Laylat al-Qadr) | Đêm linh thiêng nhất trong năm tại Edirne: toàn bộ đại sảnh cầu nguyện, sân trong đá cẩm thạch và quảng trường phía trước Thánh đường Selimiye chật kín hàng vạn người dân và du khách Hồi giáo từ Hy Lạp, Bulgaria, Bắc Macedonia sang cầu nguyện suốt đêm tới bình minh. |
| Ngày 1 tháng Shawwal và Ngày 10 tháng Dhu al-Hijjah | Lịch Hồi giáo (Hijri) | Đại lễ Ramazan Bayramı (Eid al-Fitr) và Kurban Bayramı (Eid al-Adha) | Cử hành đại lễ cầu nguyện Bayram Namazı vào sáng sớm với âm vang của ban xướng ca Enderun cổ truyền từ Đài Müezzin Mahfili ở chính giữa tâm vòm, sau đó người dân thực hiện nghi thức chúc lễ, thăm viếng và phát quà từ thiện. |
| Ngày 9 tháng 4 hằng năm | Dương lịch | Ngày Tưởng niệm Đại kiến trúc sư Mimar Sinan (Mimar Sinan'ı Anma Günü) | Cử hành lễ cầu nguyện tưởng nhớ Mimar Sinan (qua đời ngày 9 tháng 4 năm 1588), tổ chức hội thảo kiến trúc quốc tế, triển lãm bản vẽ cổ tại học viện Darülhadis và đặt hoa tại tượng đài Mimar Sinan ngay trước quảng trường Thánh đường Selimiye. |
| Cuối tháng 6 đầu tháng 7 hằng năm | Dương lịch | Đoàn rước cầu nguyện trước Đại hội Đấu vật Dầu Kırkpınar (Kırkpınar Yağlı Güreşleri) | Trước khi bước vào giải đấu vật truyền thống 660 năm tuổi tại thảo nguyên Sarayiçi (Di sản văn hóa phi vật thể UNESCO), các đô vật (Pehlivan) và ban tổ chức đều tập trung tại Thánh đường Selimiye để cử hành lễ cầu nguyện Thứ Sáu (Cuma Namazı) xin ơn bình an và tinh thần thượng võ. |
Âm thanh róc rách dưới đài đá cẩm thạch và trải nghiệm văn hóa tại cố đô Edirne. Khi bước chân vào đại sảnh cầu nguyện của Thánh đường Selimiye ngoài giờ hành lễ chính, du khách sẽ cảm nhận ngay sự tĩnh lặng kỳ diệu dưới vòm cao hơn bốn mươi hai mét, chỉ có tiếng nước chảy khẽ từ vòi phun bằng đá cẩm thạch bên dưới Đài xướng kinh Müezzin Mahfili. Các sử gia Ottoman cho biết Mimar Sinan đã thiết kế vòi nước này ở đúng tâm điểm mái vòm vừa để làm mát không khí mùa hè, tạo âm thanh thư giãn tâm trí, vừa để ngăn người ngoài nghe lén các cuộc đàm đạo quốc sự của Hoàng đế và các đại thần. Sau khi chiêm ngưỡng hình chạm Hoa Tulip Ngược và bước dạo qua dãy chợ đá Arasta thơm ngát hương xà phòng hoa quả thủ công, du khách có thể ghé thăm hai ngôi thánh đường cổ nổi tiếng khác ngay dưới chân đồi là Thánh đường Cũ (Eski Cami, xây năm 1414) với những nét thư pháp khổng lồ trên tường trắng và Thánh đường Ba Ban Công (Üç Şerefeli Cami, xây năm 1447) để thấy rõ trọn vẹn hành trình tiến hóa kỳ vĩ của kiến trúc Ottoman dẫn tới đỉnh cao Selimiye.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Meydan Mahallesi, Mimar Sinan Caddesi, 22020 Merkez, Edirne, Thổ Nhĩ Kỳ
- Đường tới
- Thành phố Edirne nằm ở cực tây bắc Thổ Nhĩ Kỳ, cách thành phố Istanbul khoảng 235 km về phía tây bắc theo tuyến đường cao tốc châu Âu O-3 / E80. Từ Bến xe buýt trung tâm Esenler (Büyük İstanbul Otogarı) ở Istanbul, các hãng xe khách chất lượng cao như Metro Turizm, Nilüfer và Pamukkale có chuyến khởi hành đi Edirne cứ mỗi 30 tới 60 phút, thời gian di chuyển khoảng 2 giờ 30 phút tới 3 giờ. Khi tới Bến xe Edirne (Edirne Otogarı), quý vị đi xe buýt trung chuyển miễn phí của hãng xe (Servis) hoặc xe buýt đô thị ETUS tuyến 1A, 3A vào thẳng trung tâm lịch sử thành phố; Thánh đường Selimiye tọa lạc ngay trên đỉnh đồi trung tâm nên có thể nhìn thấy bốn ngọn tháp cao 83 mét từ khắp mọi con phố và đi bộ tới nơi rất dễ dàng.
- Toạ độ
- 41.6781, 26.5594
Thánh đường Selimiye là nơi thờ phượng Hồi giáo đang hoạt động hằng ngày và mở cửa miễn phí cho mọi du khách ngoài các khung giờ cầu nguyện chính (đặc biệt là trưa Thứ Sáu khi diễn ra lễ cầu nguyện đại trào Cuma Namazı). Trước khi bước qua ranh giới thảm đại sảnh, tất cả du khách bắt buộc phải cởi giày dép (đặt lên các kệ gỗ ngay lối vào) và mặc trang phục lịch sự, kín đáo: nam giới mặc quần dài qua đầu gối, áo có tay; nữ giới mặc quần dài hoặc váy dài qua mắt cá chân, áo kín vai và bắt buộc phải quàng khăn trùm kín tóc (tại cửa vào có quầy cho mượn khăn choàng đầu và váy quấn miễn phí). Trong giai đoạn trùng tu bảo tồn một số hạng mục của mái vòm, chính quyền Edirne vẫn luôn duy trì khu vực cầu nguyện và lối tham quan an toàn cùng không gian trình chiếu kỹ thuật số giới thiệu chi tiết các bức thư pháp và gạch men İznik cho du khách. Hai bảo tàng nằm trong khu học viện cổ phía sau thánh đường (Bảo tàng Nghệ thuật Thổ Nhĩ Kỳ - Hồi giáo và Bảo tàng Di sản Vakıf) có bán vé tham quan riêng và rất đáng ghé thăm.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Thánh đường Selimiye của kiến trúc sư Mimar Sinan (Di sản UNESCO), Edirne
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao đại kiến trúc sư Mimar Sinan lại gọi Thánh đường Selimiye tại Edirne là kiệt tác bậc thầy của cuộc đời ông?
Trong suốt sự nghiệp kéo dài nửa thế kỷ phục vụ ba đời hoàng đế Ottoman, Mimar Sinan đã thiết kế hơn 300 công trình nhưng ông đánh giá sự phát triển nghệ thuật của mình qua ba mốc: Thánh đường Şehzade (Istanbul) là tác phẩm thời học việc, Thánh đường Süleymaniye (Istanbul) là tác phẩm thời thợ lành nghề, và Thánh đường Selimiye (Edirne, xây khi ông ngoài 80 tuổi) là kiệt tác bậc thầy (ustalık eserim) vì tại đây ông đã giải quyết trọn vẹn bài toán đặt một mái vòm đơn khổng lồ đường kính 31,25 mét lên tám trụ bát giác để tạo ra không gian nội thất thống nhất hoàn hảo.
Mái vòm của Thánh đường Selimiye có điểm gì đặc biệt so với Đại thánh đường Hagia Sophia tại Istanbul?
Trong khi mái vòm của Hagia Sophia (xây năm 537) tựa trên bốn trụ lớn kèm hai bán vòm ở hai đầu tạo thành không gian kéo dài theo trục dọc, mái vòm của Thánh đường Selimiye có đường kính 31,25 mét (nhỉnh hơn trục ngắn của vòm Hagia Sophia) và được đặt trên một hệ thống bát giác gồm tám trụ đá sát tường bao. Nhờ cấu trúc bát giác này, bên trong Selimiye hoàn toàn không có các hàng cột phụ chia cắt không gian và được chiếu sáng rực rỡ bởi 999 ô cửa sổ.
Bốn ngọn tháp giáo đường (minaret) của Thánh đường Selimiye có cấu trúc cầu thang kỳ diệu như thế nào?
Bốn ngọn tháp của Selimiye cao tới 70,89 mét (và 83 mét nếu tính cả phần chóp nhọn Alem), thuộc hàng những ngọn tháp cổ cao và thanh mảnh nhất thế giới Hồi giáo với đường kính thân chỉ 3,8 mét. Mỗi tháp có 3 ban công (şerefe); đặc biệt bên trong hai ngọn tháp ở phía tây, Mimar Sinan đã thiết kế 3 cầu thang xoắn ốc bằng đá hoàn toàn tách biệt đan lồng vào nhau như chuỗi xoắn kép, giúp ba vị giáo sĩ có thể leo lên ba tầng ban công cùng lúc mà không hề nhìn thấy nhau.
Hình chạm Hoa Tulip Ngược (Ters Lale) bên trong Thánh đường Selimiye nằm ở đâu và có ý nghĩa gì?
Hình chạm bông hoa tulip mọc chúc ngược đầu xuống đất nằm ở phần chân của cây cột đá cẩm thạch góc đông bắc nâng đỡ Đài xướng kinh Müezzin Mahfili ngay chính giữa đại sảnh cầu nguyện. Theo truyền thuyết lịch sử Edirne, chi tiết này do Mimar Sinan khắc lên để tưởng nhớ bà lão chủ vườn hoa tulip đã bán mảnh đất tâm đền cho nhà vua sau nhiều lần thương thuyết, đồng thời biểu trưng cho lòng khiêm nhường và nguyên tắc tôn trọng quyền tư hữu của giáo luật Hồi giáo.
Ngoài tòa đại thánh đường chính, quần thể Di sản Thế giới UNESCO Selimiye còn bao gồm những công trình nào?
Quần thể Selimiye Külliye được UNESCO công nhận năm 2011 là một tổ hợp văn hóa, giáo dục và thương mại hoàn chỉnh gồm: tòa đại thánh đường và sân trong đá cẩm thạch ở trung tâm, hai học viện cao cấp đối xứng phía sau là Trường dạy đọc kinh Qur'an (Darülkurra) và Trường nghiên cứu Hadith (Darülhadis, nay là bảo tàng), trường tiểu học (Sıbyan Mektebi), thư viện cổ và dãy phố chợ mái vòm đá Arasta gồm 124 cửa hiệu chạy dọc sườn tây nam.