Nằm sâu trong lòng hoang địa Judea khô cằn ở phía đông thành phố Bethlehem, nơi dòng suối Kidron (tiếng Ả Rập địa phương gọi là Wadi al-Nar, tức Thung lũng Lửa) xẻ dọc những triền núi đá vôi vàng cháy nắng trên đường đổ xuống Biển Chết ở độ sâu dưới mực nước biển, khách lữ hành bất ngờ bắt gặp một cảnh tượng kiến trúc kỳ vĩ như mọc thẳng ra từ vách núi: hàng chục tòa tháp đá, mái vòm màu xanh cô-ban và những dãy phòng tu bám chồng lên nhau theo sườn vực dựng đứng. Đó chính là Tu viện Chính Thống giáo Thánh Sabbas, thường được gọi tắt theo tiếng Ả Rập và tiếng Syriac là Mar Saba (hay trong truyền thống phụng vụ Hy Lạp là Iera Lavra tou Osiou Savva tou Igiasmenou, tức Đại Tu Viện Lavra của Thánh Sabbas Hiến Thánh).
Trong lịch sử của Chính Thống giáo Đông phương và Kitô giáo hoàn vũ, Mar Saba giữ một vị trí độc nhất vô nhị. Cùng với Tu viện Thánh Catherine dưới chân núi Sinai ở Ai Cập, đây là một trong những tu viện có người tu hành liên tục cổ xưa nhất trên thế giới, nơi đời sống đan tu khổ hạnh vẫn vận hành không gián đoạn từ năm 483 Công nguyên cho tới tận hôm nay. Nếu như Vương cung thánh đường Giáng Sinh tại Bethlehem và Nhà thờ Mộ Thánh, Jerusalem là hai tâm điểm hành hương đô thị của Đất Thánh, còn Tu viện Cám Dỗ (Qarantal), núi Cám Dỗ, Jericho canh giữ vách núi phía bắc thung lũng sông Jordan, thì Đại Lavra của Thánh Sabbas chính là trái tim tinh thần của đan tu sa mạc Palestine: nơi đã định hình bộ quy tắc phụng vụ Typikon Jerusalem cho toàn bộ thế giới Chính Thống giáo từ Hy Lạp, Balkans tới Nga, và cũng là nơi đại giáo phụ Thánh Gioan thành Damascus đã viết nên những trang thần học bất hủ bảo vệ nghệ thuật Thánh Tượng vào thế kỷ thứ 8.

IThánh Sabbas Hiến Thánh, Mô Hình Đan Tu Lavra Sa Mạc Và Gia Sản Của Thánh Gioan Thành Damascus
Đấng sáng lập và là linh hồn của toàn bộ tu viện là Thánh Sabbas Hiến Thánh (Saint Sabbas the Sanctified, 439 tới 532 Công nguyên), một trong những vị tổ phụ vĩ đại nhất của phong trào đan tu Kitô giáo thời kỳ Đông La Mã. Sinh năm 439 tại làng Moutalaska thuộc vùng Cappadocia (nay thuộc miền trung Thổ Nhĩ Kỳ), Sabbas bước vào đời tu từ năm lên tám tuổi và đến năm mười tám tuổi (năm 456) đã tìm về vùng Đất Thánh Jerusalem để thọ giáo dưới chân hai bậc đại sư ẩn tu sa mạc là Thánh Euthymius Đại đế và Thánh Theoctistus.
Sau nhiều năm rèn luyện tâm tính trong đời sống cộng đoàn rồi lui vào sống đơn độc trong các hang đá hoang vu của sa mạc Judea, vào năm 478 (khi đã bước sang tuổi 39), theo một thị kiến thiên thần chỉ dẫn, Thánh Sabbas đã leo lên một hang đá tự nhiên nằm lưng chừng vách núi phía đông của hẻm vực Kidron. Suốt năm năm đầu tiên sống một mình trong hang đá ấy (ngày nay vẫn còn nhìn thấy trên vách đá phía đối diện tu viện, đánh dấu bằng chữ thập trắng), ngài chỉ ăn rễ cây hoang dã, đan giỏ lá cọ và cầu nguyện liên lỉ; truyền thống kể lại rằng ngài từng cảm hóa cả một con sư tử hoang sống chung trong hang và được các bộ lạc du mục Saracen trong vùng kính phục đem bánh mì cùng chà là đến cúng dường. Khi số môn đệ tìm đến xin theo học lên tới hơn bảy mươi người vào năm 483, Thánh Sabbas đã chính thức tổ chức nên Đại Lavra (Great Lavra) trên sườn vách đá phía tây của hẻm núi Kidron.
Để hiểu được bản chất tâm linh của Mar Saba, cần hiểu khái niệm Lavra (hay Laura, bắt nguồn từ chữ Hy Lạp cổ nghĩa là con hẻm hẹp hoặc lối đi có tường đá bao quanh) do các tổ phụ sa mạc Palestine như Thánh Chariton, Thánh Euthymius và Thánh Sabbas hoàn thiện. Khác với tu viện cộngab (Koinobion) nơi tất cả các tu sĩ cùng ăn ở, lao động và cầu nguyện chung mỗi ngày dưới một mái nhà, mô hình Lavra là sự kết hợp hài hòa giữa đời sống ẩn tu cô tịch (eremitic) và đời sống phụng vụ cộng đoàn (cenobitic): trong suốt năm ngày làm việc trong tuần (từ thứ Hai đến thứ Sáu), các đan sĩ trưởng thành sống hoàn toàn thinh lặng trong những hang đá riêng biệt đục dọc theo hai bờ vách vực thung lũng Kidron, tự tay đan lát hoặc chép kinh và đọc kinh cầu nguyện Giêsu; chỉ đến chiều thứ Bảy và ngày Chúa Nhật, tất cả mới rời hang đá tụ hội về nhà thờ trung tâm của Lavra để cùng cử hành Kinh Canh Thức Trọn Đêm (Agrypnia), hiệp dâng Thánh Lễ Tiệc Thánh (Divine Liturgy), dùng bữa cơm huynh đệ và nhận lương thực cùng nước uống cho tuần tiếp theo.
Chính từ nhịp sống phụng vụ cuối tuần tại Mar Saba này mà Thánh Sabbas và các thế hệ môn đệ của ngài đã biên soạn và hoàn chỉnh bộ Nghi quy Phụng vụ Jerusalem (Typikon of Saint Sabbas). Kết hợp truyền thống ca vịnh của Nhà thờ Mộ Thánh tại Jerusalem với tinh thần canh thức khổ hạnh của đan tu sa mạc, bộ Typikon Thánh Sabbas sau này đã được Tòa Thượng phụ Constantinople và toàn bộ các Giáo hội Chính Thống giáo Đông phương áp dụng làm quy chuẩn phụng vụ chính thức cho đến tận ngày nay.
Không chỉ là thánh địa của Thánh Sabbas, Mar Saba còn là quê hương tinh thần của một trong những nhà thần học, triết gia và thi sĩ phụng vụ vĩ đại nhất lịch sử Kitô giáo: Thánh Gioan thành Damascus (Saint John of Damascus, khoảng 676 tới 749 Công nguyên, được cả Chính Thống giáo lẫn Công giáo tôn phong là Tiến sĩ Hội Thánh). Vốn xuất thân từ một gia đình Kitô hữu Ả Rập danh giá giữ chức quan quản trị tài chính cao cấp tại triều đình Khalip Umayyad ở Damascus, vào khoảng đầu thế kỷ thứ 8, ông đã từ bỏ mọi vinh hoa quyền chức, phân phát gia sản cho người nghèo và đi bộ vào sa mạc Judea xin làm một tu sĩ khiêm hạ tại Tu viện Mar Saba.
Ngay trong căn phòng hang đá nhỏ đục sâu vào vách núi bên trong khuôn viên Mar Saba, dưới ánh đèn dầu leo lét, Thánh Gioan thành Damascus đã biên soạn bộ đại bách khoa thần học Suối Nguồn Tri Thức (Fount of Knowledge), ba bài luận văn lịch sử Bảo Vệ Các Thánh Tượng (Three Treatises on the Divine Images, đặt nền tảng thần học cứu vãn nghệ thuật hội họa tôn giáo trước phong trào Bài trừ Thánh tượng ở Đông La Mã), hệ thống Tám Điệu Thánh Ca (Octoechos) và bài thánh thi Phục Sinh lừng danh Anastaseos Imera (Ngày Phục Sinh Rạng Ngời) vẫn vang lên trong mọi nhà thờ Chính Thống giáo mỗi đêm Phục Sinh.
Một điều mà du khách thường ngạc nhiên và đôi khi hiểu nhầm khi đến thăm Tu viện Mar Saba là quy định cấm phụ nữ bước vào bên trong cổng chính của tu viện, khiến nhiều người tưởng rằng đây là một quy định mới đặt ra gần đây. Trên thực tế, đây là quy tắc đan viện cổ truyền Avaton (giống hệt quy định tại bán đảo núi Athos ở Hy Lạp) đã được chính Thánh Sabbas thiết lập ngay từ thế kỷ thứ 5 nhằm giữ gìn sự khổ hạnh tuyệt đối cho các đan sĩ sa mạc. Theo sử biên niên của tu sĩ Cyril thành Scythopolis thế kỷ thứ 6, ngay cả thân mẫu ruột của Thánh Sabbas là bà Sophia khi tìm đến thăm con trai ở tuổi già cũng không bước vào bên trong Lavra; thay vào đó, để phụ nữ vẫn có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh tu viện và cầu nguyện, vào thế kỷ thứ 6 người ta đã xây dựng riêng một ngọn tháp kiên cố nằm ở sườn đồi phía nam bên ngoài tường bao, gọi là Tháp Phụ Nữ (Women's Tower), đồng thời các tu sĩ luôn mang bánh thánh được làm phép, nước thánh từ suối Thánh Sabbas và dầu thánh ra tận cổng để ban phép lành cho các nữ khách hành hương.
IIHơn Mười Lăm Thế Kỷ Từ Hang Đá Năm 478, Thời Hoàng Kim Học Thuật Đa Ngữ Tới Lễ Hoàn Trả Thánh Cốt Năm 1965
Lịch sử hơn 1.500 năm của Tu viện Thánh Sabbas (Mar Saba) là một thiên anh hùng ca của lòng kiên định: vượt qua các cuộc tấn công của quân Ba Tư năm 614, các cuộc đột kích giữa sa mạc thế kỷ 8, thời kỳ Thập tự chinh, các trận động đất lớn năm 1834 và biến động hiện đại, ngọn lửa cầu nguyện trong hẻm vực Kidron vẫn chưa bao giờ tắt.
- Năm 478 tới 483 Công nguyênThánh Sabbas ẩn tu trong hang đá và thành lập Đại Tu viện Lavra bên hẻm vực KidronSau năm năm sống cô tịch trong hang đá tự nhiên phía đông suối Kidron, năm 483 Thánh Sabbas quy tụ 70 môn đệ lập nên Đại Lavra trên vách đá phía tây và khơi nguồn mạch nước suối ngọt kỳ diệu dưới đáy vực.
- Năm 491 và năm 502 Công nguyênThánh hiến Nhà thờ Hang đá Thánh Nicholas (Theoktistos) và Nhà thờ chính Truyền TinNăm 491, Thượng phụ Sallustius của Jerusalem thánh hiến ngôi nhà thờ đục trong hang đá tự nhiên (Nhà thờ Thánh Nicholas); năm 502, Thánh Sabbas hoàn thành ngôi đại thánh đường trung tâm cung hiến cho Đức Mẹ Truyền Tin.
- Ngày 5 tháng 12 năm 532Thánh Sabbas viên tịch ở tuổi 93 và được an táng tại sân trung tâm của LavraSau khi hai lần đi sứ tới triều đình Constantinople gặp Hoàng đế Anastasius I và Hoàng đế Justinian I để xin miễn giảm thuế và xây tường thành bảo vệ các tu viện Palestine, Thánh Sabbas an nghỉ ở tuổi 93 và được an táng giữa sân tu viện.
- Năm 614 và năm 796 Công nguyênCuộc tử đạo của 44 đan sĩ năm 614 và 20 đan sĩ thời Thánh Stephen Nhà Thơ năm 796Năm 614, quân đội Ba Tư Sasanian tấn công tu viện làm 44 đan sĩ tử đạo (hộp sọ của các ngài nay vẫn được tôn kính trong Nhà nguyện Thánh Nicholas); thế kỷ 8 tới thế kỷ 9, Mar Saba bước vào thời kỳ hoàng kim dịch thuật giữa tiếng Hy Lạp, tiếng Ả Rập, tiếng Syriac và tiếng Georgia.
- Thế kỷ 13 tới năm 1840Di cốt Thánh Sabbas được đưa sang Venice và cuộc đại trùng tu sau động đất năm 1834Vào thời Thập tự chinh thế kỷ 13, thánh cốt không hư nát của Thánh Sabbas được đưa sang lưu giữ tại Nhà thờ Sant'Antonin ở Venice (Ý) để tránh chiến loạn; sau trận động đất lớn ở Palestine năm 1834, tu viện được trùng tu kiên cố năm 1840 với sự hỗ trợ của Nga hoàng.
- Ngày 12 tháng 11 năm 1965Tòa Thánh Vatican hoàn trả di cốt không hư nát của Thánh Sabbas về lại Tu viện Mar SabaSau cuộc gặp gỡ đại kết lịch sử tại Jerusalem năm 1964 giữa Giáo hoàng Phaolô VI và Thượng phụ Athenagoras I, năm 1965 Giáo hội Công giáo chính thức rước di cốt nguyên vẹn của Thánh Sabbas từ Venice trao trả về lại nhà thờ chính của Tu viện Mar Saba sau hơn bảy thế kỷ xa cách.
Trung tâm dịch thuật đa ngôn ngữ thời Trung Cổ và biến cố hoàn trả thánh cốt năm 1965. Trong suốt các thế kỷ thứ 8, thứ 9 và thứ 10 dưới triều đại Umayyad và Abbasid, Tu viện Mar Saba không chỉ là nơi cầu nguyện mà còn là một viện hàn lâm đa ngôn ngữ rực rỡ bậc nhất thế giới Kitô giáo Đông phương. Tại các xưởng chép tay (scriptoria) nằm bên vách đá Kidron, các đan sĩ người Hy Lạp, người Ả Rập, người Syria (Syriac), người Georgia và người Slav cùng chung sống, dịch các tác phẩm thần học, triết học và hạnh các thánh từ tiếng Hy Lạp sang tiếng Ả Rập, tiếng Georgia và tiếng Slav cổ, giúp bảo tồn văn hóa Kitô giáo Trung Đông qua nhiều thế kỷ.
Một trong những sự kiện xúc động nhất trong lịch sử hiện đại của tu viện diễn ra vào tháng 11 năm 1965. Trước khi từ trần vào tháng 11 năm 1964, cố Giáo hoàng Gioan XXIII đã từng hiện ra trong tâm nguyện của các tu sĩ Mar Saba gắn với lời thỉnh cầu hoàn trả thi hài của Thánh tổ phụ Sabbas vốn được đưa sang Venice từ thời Thập tự chinh thế kỷ 13. Thực hiện cử chỉ huynh đệ đại kết cao đẹp sau cuộc hội kiến lịch sử tại núi Cây Dầu năm 1964, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã phê chuẩn việc đưa di cốt không hư nát của Thánh Sabbas từ Nhà thờ Sant'Antonin ở Venice trở về vùng Đất Thánh. Ngày 12 tháng 11 năm 1965, sau lễ đón rước trọng thể tại Nhà thờ Mộ Thánh ở Jerusalem và đi qua Bethlehem, hòm kính chứa thi hài nguyên vẹn của vị tổ phụ 93 tuổi đã được các đan sĩ rước trên vai đi bộ dọc theo hẻm núi sa mạc để trở về ngự tại gian chính điện Katholikon của Mar Saba trong tiếng chuông ngân vang khắp thung lũng Kidron.
IIIQuần Thể Kiến Trúc Treo Trên Vách Vực, Lăng Mộ Lục Giác Sân Giữa Và Nhà Thờ Hang Đá Thánh Nicholas
Nhìn từ bờ vực phía đông của thung lũng Kidron, Tu viện Thánh Sabbas hiện lên như một thành lũy đá nhiều tầng (từ đỉnh tường bao phía trên xuống tới chân vách đá sát đáy vực chênh lệch độ cao hơn 70 mét). Do địa hình vách núi dựng đứng hầu như không có mặt bằng tự nhiên, các thế hệ kiến trúc sư Đông La Mã và hậu kỳ đã xây những trụ đá vòm khổng lồ (buttresses) bám thẳng vào sườn đá vôi để đỡ lấy sân lát đá, nhà thờ chính và hơn một trăm căn phòng nhỏ liên kết với nhau bằng một mê cung cầu thang đá, hành lang ngầm và ban công treo lơ lửng.
Nằm ở trung tâm quần thể là ngôi Đại thánh đường chính (Katholikon) cung hiến cho lễ Truyền Tin của Đức Trinh Nữ Maria, được Thánh Sabbas khởi dựng và thánh hiến năm 502, sau đó được gia cố bằng các trụ đá lớn sau trận động đất năm 1834. Đỉnh nhà thờ nổi bật với mái vòm cao lợp kim loại sơn màu xanh lam rực rỡ giữa sắc vàng của sa mạc. Bên trong nội thất ngập tràn ánh nến, bức bình phong Thánh Tượng (Iconostasis) thếp vàng và những bức bích họa tường thế kỷ 19 bao bọc lấy khám thờ bằng kính viền bạc nơi tôn trí thi hài không hư nát của Thánh Sabbas Hiến Thánh.
Ngay chính giữa khoảng sân lát đá trước cửa nhà thờ chính Katholikon là một công trình nhỏ hình lục giác đội mái vòm trắng thanh thoát (gọi là Kouvouklion): đây chính là ngôi mộ nguyên thủy nơi thi hài Thánh Sabbas được an táng từ năm 532 trước khi được đưa sang Venice thời Thập tự chinh. Bên trong vòm lăng được trang hoàng bằng các bức bích họa rực rỡ khắc họa cuộc đời ẩn tu của Thánh Sabbas bên cạnh chú sư tử sa mạc và cảnh lễ rước hoàn trả thánh cốt năm 1965.
Nằm ở phía bắc nhà thờ chính là ngôi thánh đường cổ xưa nhất của toàn bộ Lavra: Nhà thờ Thánh Nicholas, vốn là một hang động đá vôi tự nhiên rộng lớn có hình dáng sẵn giống như một ngôi nhà thờ nên được Thánh Sabbas gọi là Theoktistos (nghĩa là Ngôi Nhà Thờ Do Chính Thiên Chúa Kiến Tạo) và được thánh hiến từ năm 491. Phía sau lớp lưới gỗ trong lòng hang là nơi lưu giữ trang trọng hộp sọ và hài cốt của các vị đan sĩ tử đạo năm 614 và năm 796.
Ở tầng trên của dãy kiến trúc bám vào vách đá là căn phòng hang đá và nhà nguyện nhỏ của Thánh Gioan thành Damascus (khoảng 676 tới 749). Chính trong không gian đá trầm mặc này, vị đại giáo phụ đã sống những năm tháng ẩn tu, soạn thảo bộ tổng luận thần học Chính Thống giáo, viết các bản luận văn bảo vệ Thánh Tượng và được an táng ban đầu tại đây trước khi thánh tích của ngài được chuyển về Constantinople.
Bảo vệ phía trên tu viện là Tháp canh hình vuông kiên cố xây dựng từ thế kỷ thứ 6 dưới sự bảo trợ của Hoàng đế Đông La Mã Justinian I (nơi chứa thư viện cổ của tu viện); còn ở sườn đồi bên ngoài tường phía nam là Tháp Phụ Nữ (Women's Tower) cao 18 mét dựng từ thế kỷ thứ 6. Bên dưới sân tu viện còn lưu giữ gốc cây chà là thiêng tương truyền do chính tay Thánh Sabbas trồng từ thế kỷ thứ 5: loại chà là đặc biệt không có hạt mà truyền thống tin rằng mang lại ơn lành cho các cặp vợ chồng hiếm muộn.
Nhìn sang vách núi đá dựng đứng ở bờ phía đông của hẻm vực Kidron đối diện với tu viện, du khách có thể thấy rõ cửa Hang đá đầu tiên của Thánh Sabbas (nơi ngài sống ẩn tu một mình từ năm 478 tới 483), trong khi sâu dưới chân vực đá là mạch Suối Thánh Sabbas (Agiasma) tuôn chảy từ kẽ đá khô cằn suốt hơn 1.500 năm để cung cấp nước uống duy nhất cho cộng đoàn đan sĩ.
| Hạng mục kiến trúc trong Lavra | Niên đại hình thành và Trùng tu | Đặc điểm kiến trúc và Ý nghĩa tâm linh |
|---|---|---|
| Hang đá khởi nguyên của Thánh Sabbas | Năm 478 tới 483 Công nguyên | Hang đá tự nhiên bên vách núi phía đông suối Kidron, nơi Thánh Sabbas ẩn tu 5 năm đầu tiên |
| Nhà thờ Hang đá Thánh Nicholas (Theoktistos) | Thánh hiến năm 491 Công nguyên | Hang động tự nhiên được dùng làm nhà thờ đầu tiên của Lavra, nơi lưu giữ hài cốt các đan sĩ tử đạo |
| Đại thánh đường Truyền Tin (Katholikon) | Thánh hiến năm 502; gia cố lớn năm 1840 | Nhà thờ trung tâm mái vòm xanh lam, nơi tôn trí hòm kính chứa di cốt không hư nát của Thánh Sabbas |
| Lăng mộ lục giác Kouvouklion tại sân giữa | Năm 532 (xây dựng lại mái vòm thế kỷ 17 tới 19) | Đặt tại tâm điểm sân lát đá trước Katholikon, đánh dấu huyệt mộ gốc của Thánh Sabbas Hiến Thánh |
| Phòng hang đá Thánh Gioan thành Damascus | Nửa đầu thế kỷ 8 Công nguyên | Tịnh thất đục vào vách đá nơi Thánh Gioan thành Damascus trước tác thần học và thánh thi |
IVThế Đất Và Hướng
Cần nêu rõ rằng Thánh Sabbas Hiến Thánh và các kiến trúc sư Đông La Mã hoàn toàn không sử dụng thuật phong thủy phương Đông khi kiến tạo Tu viện Mar Saba. Vị trí của tu viện được chọn lựa thuần túy theo lý tưởng ẩn tu sa mạc (hesychia) của Kitô giáo cổ đại: tìm đến nơi hoang địa tĩnh lặng nhất để xa lánh thế gian và hướng nhà thờ chính về phía Đông đón ánh sáng Phục Sinh. Những nhận định dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép xem hình thế sơn thủy cổ truyền của thư viện Vạn Đạo Đường.
Xét trên đại cuộc địa hình của Sa mạc Judea tại tọa độ 31,7051 độ vĩ bắc, 35,3314 độ kinh đông, Tu viện Thánh Sabbas tọa lạc ở độ cao khoảng 100 mét trên mực nước biển (trên sườn dốc đổ từ cao nguyên Jerusalem cao 800 mét xuống vùng trũng Biển Chết ở mức âm 430 mét dưới mực nước biển). Toàn bộ quần thể bám chặt vào vách đá phía tây của hẻm vực Kidron (Wadi al-Nar) ngay tại một khúc cua uốn lượn chữ S sâu thẳm của lòng vực: phía sau lưng tu viện ở hướng Tây và Tây Nam là cao nguyên đá vôi dựng đứng cùng Tháp Justinian đóng vai trò là hậu chẩm thạch sơn vững chắc; còn hai bên vách vực đá vôi vàng sẫm khép lại như hai cánh tay thanh long và bạch hổ ôm gọn lấy lòng thung lũng kín gió.
Về tọa hướng và thủy mạch giữa đại hạn, toàn bộ các tầng phòng tu và nhà thờ chính của Mar Saba được xếp bậc thang từ trên đỉnh vực xuống đáy vực theo thế tọa Tây hướng Đông: mặt trước của các dãy ban công và mái vòm nhà thờ nhìn thẳng sang vách núi đá phía đông (nơi có hang đá khởi nguyên năm 478 của Thánh Sabbas làm tiền án đối diện qua lòng vực). Điều kỳ diệu nhất về mặt địa mạch là giữa một vùng sa mạc đá vôi lượng mưa cực thấp và nắng nóng khắc nghiệt quanh năm, ngay dưới chân vách đá nơi tu viện tọa lạc lại có mạch nước ngầm ngọt mát (Suối Thánh Sabbas) rỉ ra từ tầng đá sâu dưới đáy vực, giúp cộng đoàn đan sĩ duy trì sự sống tự túc suốt hơn mười lăm thế kỷ mà không cần phụ thuộc vào nguồn tiếp tế bên ngoài.
VNhịp Sống Giờ Kinh Đêm Theo Giờ Đông La Mã, Đại Lễ Thánh Sabbas Và Thánh Gioan Thành Damascus
Cho đến tận thế kỷ 21, Tu viện Thánh Sabbas (Mar Saba) vẫn là một trong số cực ít những nơi trên trái đất giữ nguyên cách tính giờ Đông La Mã cổ đại (Byzantine Time) và hoàn toàn không kết nối với mạng lưới điện quốc gia hay hệ thống nước máy công nghiệp. Tại đây, đồng hồ của tu viện được chỉnh về 0 giờ đúng vào thời điểm mặt trời lặn mỗi chiều (tương ứng với khởi đầu ngày phụng vụ mới theo truyền thống Kinh Thánh sáng thế). Hằng đêm, vào khoảng 1 giờ đến 2 giờ sáng (theo giờ thông thường), tiếng gỗ gõ semantron (thanh gỗ dài gõ nhịp điệu gọi các đan sĩ thức dậy) vang vọng khắp hẻm núi đá vôi, mở đầu cho buổi cầu nguyện và cử hành Phụng vụ Thánh kéo dài suốt bốn tới năm tiếng đồng hồ dưới ánh nến và đèn dầu cho tới khi mặt trời mọc.
| Thời điểm cử hành | Hệ lịch | Tên đại lễ phụng vụ | Nghi thức cử hành đặc trưng tại Tu viện Thánh Sabbas (Mar Saba) |
|---|---|---|---|
| Ngày 5 tháng 12 lịch cũ (tức ngày 18 tháng 12 dương lịch hiện đại) | Lịch Julius (Chính Thống giáo Jerusalem) | Đại lễ Kính Thánh Sabbas Hiến Thánh (Feast of Saint Sabbas the Sanctified) | Lễ bổn mạng trọng đại nhất trong năm của Lavra: Đức Thượng phụ Chính Thống giáo Hy Lạp tại Jerusalem hoặc Giám mục đại diện đích thân xuống tu viện chủ sự Kinh Canh Thức Trọn Đêm (All-Night Vigil) kéo dài suốt 8 tới 10 tiếng đồng hồ dưới ánh nến quanh hòm thánh cốt Thánh Sabbas. |
| Ngày 4 tháng 12 lịch cũ (tức ngày 17 tháng 12 dương lịch hiện đại) | Lịch Julius (Chính Thống giáo Jerusalem) | Lễ Kính Thánh Gioan Thành Damascus (Feast of Saint John of Damascus) | Cử hành ngay liền trước ngày lễ Thánh Sabbas (hai ngày 17 và 18 tháng 12 tạo thành kỳ đại lễ kép của tu viện) với các bài thánh thi Octoechos do chính Thánh Gioan biên soạn được xướng tụng bên trong nhà nguyện hang đá của ngài. |
| Ngày 20 tháng 3 và ngày 16 tháng 5 lịch cũ (2 tháng 4 và 29 tháng 5 dương lịch) | Lịch Julius | Lễ Kính Các Thánh Đan Sĩ Tử Đạo Tại Tu Viện Thánh Sabbas (năm 614 và năm 796) | Tưởng niệm các vị đan sĩ đã hiến dâng mạng sống bảo vệ tu viện vào thế kỷ 7 và thế kỷ 8 với nghi thức dâng hương tại Nhà thờ Hang đá Thánh Nicholas nơi lưu giữ thánh cốt của các ngài. |
| Ngày 25 tháng 3 lịch cũ (tức ngày 7 tháng 4 dương lịch) và Mùa Chay Lớn | Lịch Julius | Đại lễ Truyền Tin Đức Trinh Nữ Maria (Lễ tước hiệu Nhà thờ chính Katholikon) và Mùa Chay | Vào Mùa Chay Lớn trước lễ Phục Sinh, tu viện giữ truyền thống đóng cổng ẩn tu nghiêm ngặt theo đúng quy luật cổ xưa của các tổ phụ sa mạc Palestine. |
Trải nghiệm chiêm bái đối với khách hành hương Đất Thánh. Dù việc đi vào sâu trong sa mạc Judea đòi hỏi phải đi qua những con đường đồi núi quanh co từ vùng Bethlehem và Beit Sahour, chuyến hành hương tới Tu viện Mar Saba luôn để lại ấn tượng khó quên nhất cho bất kỳ ai từng đặt chân đến. Đứng trên sườn núi đá đối diện phía đông hẻm vực Kidron vào lúc bình minh hay hoàng hôn, khi ánh nắng nhuộm vàng những bức tường đá cổ 1.500 năm tuổi bám trên vách vực và tiếng chuông tu viện ngân lên giữa sự tĩnh lặng tuyệt đối của hoang địa, người lữ khách như được chạm tay trực tiếp vào bầu khí tâm linh nguyên sơ của thế kỷ thứ 5.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Vách đá hẻm núi thung lũng Kidron (Wadi al-Nar), phía đông thị trấn Al-Ubeidiya, tỉnh Bethlehem, Nhà nước Palestine
- Đường tới
- Tu viện Thánh Sabbas (Mar Saba) nằm giữa sa mạc Judea thuộc tỉnh Bethlehem, cách trung tâm thành phố Bethlehem khoảng 15 km về phía đông theo đường chim bay (khoảng 25 đến 30 phút đi ô tô). Không có tuyến xe buýt công cộng chạy thẳng tới tu viện; cách thuận tiện và an toàn nhất là thuê xe taxi địa phương hoặc xe du lịch có tài xế thông thạo địa hình xuất phát từ trung tâm Bethlehem hoặc thị trấn Beit Sahour, đi qua thị trấn Al-Ubeidiya rồi theo con đường nhựa hẹp uốn lượn dọc theo bờ vực thung lũng Kidron (Wadi al-Nar) dẫn tới tận bãi đỗ xe trước cổng tu viện và điểm ngắm cảnh phía đối diện.
- Toạ độ
- 31.7051, 35.3314
Khi đến thăm Tu viện Chính Thống giáo Thánh Sabbas (Mar Saba), quý vị cần lưu ý các quy định kỷ luật đan viện rất nghiêm ngặt được duy trì từ thế kỷ thứ 5: theo quy tắc cổ truyền Avaton, chỉ có khách hành hương nam giới mới được phép bước qua cổng vào bên trong khuôn viên tu viện; khách hành hương nữ giới có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh kiến trúc tuyệt đẹp của tu viện từ Tháp Phụ Nữ (Women's Tower) trên đồi phía nam hoặc từ đài quan sát trên vách núi phía đông đối diện bên kia hẻm vực Kidron, đồng thời các tu sĩ sẽ mang nước thánh, dầu thánh và bánh phép ra ngoài cổng cho cả đoàn. Tu viện thường mở cửa đón khách nam vào buổi sáng tới đầu giờ chiều (trừ các ngày Thứ Tư và Thứ Sáu trong tuần cùng một số tuần lễ ăn chay nghiêm ngặt khi tu viện đóng cửa hoàn toàn để tịnh tu). Mọi du khách cần mặc trang phục kín đáo (áo có tay, quần dài hoặc váy dài quá đầu gối), không quay phim chụp ảnh bên trong nhà thờ chính và mang theo mũ chống nắng cùng nước uống vì khu vực sa mạc Judea rất nắng nóng.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tu viện Chính Thống giáo Thánh Sabbas (Mar Saba), thung lũng Kidron
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Tu viện Thánh Sabbas (Mar Saba) được thành lập từ năm nào và vì sao được gọi là một Lavra?
Tu viện được Thánh Sabbas Hiến Thánh khởi lập vào năm 483 Công nguyên (sau khi ngài đã sống ẩn tu một mình trong hang đá đối diện từ năm 478), là một trong những tu viện có người tu hành liên tục cổ xưa nhất thế giới. Thuật ngữ Lavra chỉ mô hình đan tu sa mạc cổ truyền Palestine: các đan sĩ sống ẩn tu thinh lặng trong các hang đá riêng suốt các ngày trong tuần và chỉ tụ hội về nhà thờ trung tâm vào ngày Thứ Bảy cùng Chúa Nhật để cử hành phụng vụ chung.
Vì sao phụ nữ không được bước vào bên trong cổng chính của Tu viện Mar Saba?
Tu viện Mar Saba duy trì quy tắc đan viện cổ truyền Avaton (tương tự như tại núi Athos ở Hy Lạp) do chính Thánh Sabbas thiết lập từ thế kỷ thứ 5 nhằm bảo toàn đời sống khổ hạnh tuyệt đối của các đan sĩ sa mạc. Phụ nữ đến hành hương sẽ chiêm ngưỡng toàn cảnh tu viện từ khu vực Tháp Phụ Nữ (Women's Tower, xây từ thế kỷ thứ 6) và đài vọng cảnh bên bờ vực đối diện, đồng thời được các tu sĩ mang nước thánh và dầu thánh ra tận cổng để chúc lành.
Thánh Gioan thành Damascus có mối liên hệ lịch sử như thế nào với Tu viện Mar Saba?
Vào đầu thế kỷ thứ 8, Thánh Gioan thành Damascus đã từ bỏ chức vụ cao cấp tại triều đình Damascus để vào làm một tu sĩ khiêm nhường tại Tu viện Mar Saba. Chính trong căn phòng hang đá của tu viện này, ngài đã viết bộ đại tác phẩm thần học Suối Nguồn Tri Thức, ba bài luận văn Bảo Vệ Các Thánh Tượng và các bài thánh thi Phục Sinh bất hủ của Giáo hội.
Di cốt của Thánh Sabbas Hiến Thánh hiện được lưu giữ ở đâu?
Thi hài không hư nát của Thánh Sabbas (viên tịch năm 532 ở tuổi 93) từng được đưa sang lưu giữ tại thành phố Venice (Ý) vào thời Thập tự chinh thế kỷ 13. Đến ngày 12 tháng 11 năm 1965, sau cuộc gặp gỡ đại kết lịch sử giữa Giáo hoàng Phaolô VI và Thượng phụ Athenagoras I, Tòa Thánh Vatican đã trang trọng trao trả di cốt nguyên vẹn của Thánh Sabbas về lại Tu viện Mar Saba, hiện được tôn trí trong hòm kính tại nhà thờ chính Katholikon.
Nghi quy phụng vụ Typikon của Tu viện Mar Saba có ảnh hưởng gì đến thế giới Chính Thống giáo?
Bộ quy tắc giờ kinh phụng vụ và canh thức trọn đêm (Typikon của Thánh Sabbas hay Typikon Jerusalem) được hình thành và hoàn thiện tại Tu viện Mar Saba từ thế kỷ thứ 6 tới thế kỷ 12 đã trở thành chuẩn mực phụng vụ chính thức được áp dụng trong tất cả các nhà thờ và tu viện Chính Thống giáo Đông phương trên toàn thế giới cho tới ngày nay.
Đời sống hằng ngày của các đan sĩ tại Mar Saba hiện nay có gì đặc biệt?
Các đan sĩ tại Mar Saba vẫn giữ nguyên nếp sống khổ hạnh cổ truyền như thời Đông La Mã: tu viện không sử dụng điện lưới quốc gia (chỉ thắp sáng nhà thờ bằng nến sáp ong và đèn dầu trong giờ kinh đêm), tính giờ theo thời điểm mặt trời lặn (giờ Đông La Mã), thức dậy cầu nguyện từ 1 giờ sáng mỗi đêm và chỉ ăn một bữa chay mỗi ngày.