Nằm ở độ cao hơn 900 mét so với mực nước biển giữa vùng đồi núi đá vôi phía nam dãy Judea, cách thành cổ Jerusalem khoảng 30 km về phía nam, thành phố Hebron (trong tiếng Ả Rập gọi là Al-Khalil, nghĩa là Người Bạn Chí Thân của Thiên Chúa, tức danh hiệu của Tổ phụ Abraham hay Tiên tri Ibrahim) là một trong những đô thị có người cư ngụ liên tục cổ xưa nhất ở vùng Cận Đông. Ngay tại trung tâm của khu phố cổ bằng đá vôi vàng Al-Balad al-Qadima, giữa những con hẻm vòm cuốn thời trung cổ Mamluk và các xưởng thổi thủy tinh truyền thống, sừng sững một pháo đài thánh bằng đá tảng khổng lồ mang vẻ uy nghiêm vượt thời gian: Đền thờ Tổ phụ Abraham, được cộng đồng Hồi giáo tôn xưng là Thánh đường Ibrahimi (Al-Haram al-Ibrahimi al-Sharif, tức Khu Thánh Địa Cao Quý của Tổ phụ Ibrahim) và được truyền thống Do Thái giáo cùng Kitô giáo gọi là Hang đá Machpelah (Me'arat ha-Makhpela, nghĩa là Hang Đá Đôi).
Trong bản đồ địa lý tâm linh của vùng Đất Thánh, nếu như quần thể Thánh đường Al-Aqsa, Jerusalem và Bức tường Phía Tây tại Jerusalem gắn liền với lịch sử Đền Thờ và hành trình dạ hành trên núi Moriah, còn Vương cung thánh đường Giáng Sinh tại Bethlehem ở phía bắc ghi dấu mầu nhiệm Nhập Thể của Kitô giáo, thì Đền thờ Tổ phụ Abraham tại Hebron chính là cội nguồn gia tộc chung của cả ba truyền thống độc thần khởi phát từ Tổ phụ Abraham. Đây là công trình kiến trúc tôn giáo cổ đại duy nhất từ thời kỳ Đền Thờ Thứ Hai (thế kỷ 1 trước Công nguyên) còn giữ được nguyên vẹn bốn bức tường bao đá tảng Herodian cao hơn mười hai mét đứng vững qua hơn hai nghìn năm lịch sử, che chở bên dưới lòng đất hệ thống hang đá tự nhiên nơi truyền thống kinh điển xác nhận là phần mộ gia tộc đầu tiên được mua bán hợp pháp trong lịch sử Kinh Thánh.

ICội Nguồn Tổ Phụ Abraham (Tiên Tri Ibrahim), Hang Đá Đôi Machpelah Và Ba Đôi Phần Mộ Tổ Tiên Độc Thần Giáo
Sự linh thiêng đặc biệt của Đền thờ Tổ phụ Abraham tại Hebron bắt nguồn từ vị thế của Tổ phụ Abraham (trong tiếng Do Thái là Avraham Avinu, tức Tổ phụ Abraham của chúng ta; trong tiếng Ả Rập và Kinh Qur'an là Ibrahim al-Khalil, tức Ibrahim Người Bạn Chí Thân của Đấng Tối Cao Allah). Cả ba truyền thống tôn giáo lớn là Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo đều nhìn nhận ngài là người cha của đức tin độc thần tuyệt đối, người đã rời bỏ quê hương Lưỡng Hà cổ đại để bước đi theo tiếng gọi của Thiên Chúa Duy Nhất và thiết lập giao ước thiêng liêng tại vùng đất Canaan.
Theo trình thuật chi tiết trong Sách Sáng Thế chương 23 của Kinh Thánh Hebrew và Cựu Ước Kitô giáo, khi bà Sarah qua đời ở tuổi 127 tại Kiriath-Arba (tức Hebron), Tổ phụ Abraham vốn là một người khách ngụ cư đã đến gặp các bô lão người Hittite tại cổng thành để xin mua một khu đất làm nơi chôn cất người vợ hiền. Dù ông Ephron người Hittite ngỏ ý biếu không cả cánh đồng lẫn hang đá, Abraham vẫn kiên quyết trả đủ 400 se-ken bạc (shekels) theo chuẩn cân thương mại đương thời trước sự chứng kiến của toàn thể dân thành để xác lập quyền sở hữu vĩnh viễn đối với hang đá Machpelah nằm ở cuối cánh đồng đối diện với lùm cây sồi Mamre. Tên gọi tiếng Hebrew Machpelah có gốc từ động từ mang nghĩa là gấp đôi hoặc chia làm hai tầng, chỉ cấu trúc địa chất gồm hai buồng hang đá vôi tự nhiên thông nhau bên dưới lòng đất, đồng thời biểu trưng cho các cặp vợ chồng Tổ phụ và Tổ mẫu cùng yên nghỉ song đôi bên nhau.
Trong truyền thống Hồi giáo, lòng tôn kính dành cho Tiên tri Ibrahim tại Hebron thấm đẫm trong từng câu kinh của Kinh Qur'an, đặc biệt là câu kinh trong Surah An-Nisa (Chương 4, câu 125) khẳng định rằng: Đấng Allah đã nhận Ibrahim làm người bạn chí thân (Khalil). Chính từ tước hiệu Khalil al-Rahman (Người bạn của Đấng Toàn Thiện Từ Bi) ấy mà người Hồi giáo gọi cả thành phố Hebron lẫn ngôi đền thánh là Al-Khalil và Al-Haram al-Ibrahimi. Theo truyền thống Hồi giáo được các nhà địa lý học và sử học trung cổ như Al-Muqaddasi, Ibn Battuta và Mujir al-Din ghi chép, trong hành trình Dạ hành kỳ diệu (Isra) từ Mecca tới Jerusalem, Tiên tri Muhammad đã được thiên thần Jibril (Gabriel) hướng dẫn dừng chân cầu nguyện hai raka'at ngay tại phần mộ của Tổ phụ Ibrahim ở Hebron trước khi tiến về núi Đền ở Jerusalem.
Bên dưới nền đá lát của quần thể thánh đường là Hang đá Machpelah, nơi cả ba truyền thống đều thống nhất rằng có sáu bậc đại tiền bối được an táng theo ba cặp vợ chồng qua ba thế hệ liên tiếp: thế hệ thứ nhất là Tổ phụ Abraham (Ibrahim) và bà Sarah; thế hệ thứ hai là người con trai Tổ phụ Isaac (Ishaq) và bà Rebecca (Rifqa); thế hệ thứ ba là người cháu nội Tổ phụ Jacob (Yaqub, tức Israel) và người vợ cả là bà Leah (Liyah) (riêng người vợ thứ hai của Jacob là bà Rachel được an táng trên đường gần Bethlehem). Ngoài ra, bên ngoài vòng tường chính phía tây nam còn có ngôi mộ kỷ niệm của Tổ phụ Joseph (Yusuf), người con trai của Jacob vốn qua đời tại Ai Cập và theo truyền thống được đưa hài cốt về Đất Thánh; trong khi truyền thuyết dân gian Do Thái giáo (Midrash) còn kể rằng ngay cả thủy tổ loài người là ông Adam và bà Eva cũng từng được an táng tại tầng sâu nhất của hang đá này, khiến Hebron được gọi là Thành phố của Bốn Cặp Đôi (Kiriath-Arba).
Một truyền thống văn hóa tâm linh đẹp đẽ gắn liền với Đền thờ Tổ phụ Abraham suốt hơn một thiên niên kỷ qua là Thang Súp của Tổ phụ Ibrahim (trong tiếng Ả Rập gọi là Takiyyat Sayyiduna Ibrahim). Xuất phát từ hình ảnh Tổ phụ Abraham trong cả Sách Sáng Thế (chương 18) lẫn Kinh Qur'an (Surah Hud và Surah Adh-Dhariyat) là bậc mẫu mực tuyệt đối của lòng hiếu khách (người luôn mở rộng bốn cửa lều dưới bóng cây sồi Mamre để đãi cơm bánh và thịt bê non cho bất kỳ người khách lạ nào đi ngang qua mà không bao giờ hỏi tôn giáo hay xuất thân của họ), từ thời kỳ Hồi giáo trung cổ dưới triều đại Fatimid, Ayyubid của Sultan Saladin và Mamluk của Sultan Qalawun, một quỹ hiến tặng tôn giáo vĩnh viễn (Waqf) đã được thiết lập tại Hebron.
Suốt gần một nghìn năm qua, bất chấp chiến tranh hay biến động lịch sử, nhà bếp từ thiện Takiyyat Ibrahim nằm sát bên cạnh Thánh đường Ibrahimi vẫn đỏ lửa mỗi ngày để nấu món cháo lúa mì hầm thịt truyền thống (gọi là Jarisha) phát miễn phí cho hàng nghìn người nghèo, trẻ mồ côi và khách hành hương đến viếng đền. Vào thời trung cổ, mỗi ngày lễ, tiếng trống đồng lớn vang lên bên ngoài cổng Haram để báo hiệu rằng bàn ăn của Tổ phụ Ibrahim đã sẵn sàng đón mọi lữ khách, làm cho thành phố Hebron mang danh hiệu truyền thống là thành phố không có người nào phải đi ngủ với cái bụng đói.
Một sự nhầm lẫn rất phổ biến của khách tham quan khi bước vào các gian điện bên trong Đền thờ Tổ phụ Abraham là họ tưởng rằng sáu cấu trúc lăng mộ hình bát giác và hình chữ nhật lớn phủ vải lụa thêu chỉ vàng đặt trong các phòng nguyện chính là nơi chứa hài cốt thật của Tổ phụ Abraham, Isaac, Jacob và các bà Sarah, Rebecca, Leah. Trên thực tế, toàn bộ sáu ngôi mộ lớn đặt trên mặt sàn đền thánh đều là các mộ biểu trưng (cenotaphs, tiếng Ả Rập gọi là Maqam) được xây dựng từ thời kỳ Hồi giáo sớm và hoàn thiện dưới thời vương triều Mamluk để đánh dấu vị trí tưởng niệm ở tầng trên; còn phần mộ thật sự nằm sâu bên dưới lòng đất trong hệ thống Hang đá đôi Machpelah, được ngăn cách hoàn toàn với sàn đền bằng lớp trần đá vôi dày và chỉ thông lên trên qua hai lỗ thông nhỏ có nắp đậy bằng đá và kim loại trang trí hình vòm (gọi là lối vào hang ngầm), vốn đã được niêm phong nghiêm ngặt suốt nhiều thế kỷ vì lòng tôn kính tuyệt đối đối với nơi yên nghỉ của các bậc Tổ phụ.
IIHơn Hai Nghìn Năm Kiến Tạo Từ Vòng Tường Đá Vua Herod Đại Đế, Vương Cung Thánh Đường Đông La Mã Tới Đại Thánh Đường Mamluk
Lịch sử kiến trúc của Đền thờ Tổ phụ Abraham là một biên niên sử bằng đá sống động phản ánh mọi triều đại từng cai trị vùng Levant: từ vương quốc Judea thời Đền Thờ Thứ Hai, Đế chế La Mã và Đông La Mã (Byzantine), các vương triều Hồi giáo Rashidun, Umayyad, Abbasid, Fatimid, Vương quốc Thập tự chinh Jerusalem, vương triều Ayyubid của Saladin, đế chế Mamluk, đế chế Ottoman cho tới thời hiện đại.
- Khoảng năm 37 tới năm 4 trước Công nguyênQuốc vương Herod Đại đế xây dựng vòng tường bao bằng đá tảng nguyên khối (Haram)Để tôn vinh nơi an táng các bậc Tổ phụ bên dưới hang đá Machpelah, Vua Herod Đại đế cho kiến tạo một khuôn viên tường đá vôi nguyên khối hình chữ nhật khổng lồ không có mái che (dài khoảng 59 mét, rộng 34 mét), sử dụng kỹ thuật chạm viền đá giống hệt Bức tường Phía Tây tại Jerusalem.
- Thế kỷ 5 tới thế kỷ 6 Công nguyênHoàng đế Đông La Mã Justinian I dựng Vương cung thánh đường Kitô giáo bên trong khuôn viênChính quyền Đông La Mã đục mở lối vào ở góc tường Herodian, lợp mái một phần khuôn viên phía đông nam để xây dựng Vương cung thánh đường Thánh Abraham đón các đoàn hành hương Kitô giáo.
- Năm 637 tới thế kỷ 10Chuyển đổi thành Thánh đường Hồi giáo Al-Haram al-Ibrahimi dưới thời Khalip Umar và triều UmayyadSau khi quân đội Hồi giáo tiếp quản vùng Levant một cách hòa bình năm 637, khuôn viên được chuyển thành thánh đường Hồi giáo có mái che trên các ngôi mộ biểu trưng của Tổ phụ Ibrahim, Ishaq và Yaqub, đồng thời mở thêm các gian cầu nguyện.
- 1100 tới 1187 (Đặc biệt năm 1119)Thời kỳ Thập tự chinh xây dựng Nhà thờ Chính tòa Thánh Abraham với hệ vòm giao Gothic sớmCác hiệp sĩ Thập tự chinh biến khu đền thành Tu viện dòng Kinh sĩ Thánh Âu Tinh và Nhà thờ Chính tòa năm 1168; năm 1119 các tu sĩ từng xuống khảo sát hang ngầm; hệ thống trần vòm cuốn có gân chịu lực ở phần đông nam của thánh đường hiện nay chính là di sản từ thời kỳ này.
- Năm 1188 tới 1191Sultan Saladin khôi phục Thánh đường Ibrahimi và rước bục giảng Minbar năm 1091 về đềnSau chiến thắng năm 1187, Sultan Salah al-Din (Saladin) khôi phục thánh đường Hồi giáo, dựng mihrab, xây các tháp minaret ở các góc tường và năm 1191 cho rước chiếc bục giảng gỗ chạm khảm tuyệt mỹ chế tác năm 1091 từ Ashkelon về đặt tại gian cầu nguyện chính.
- 1266 tới 1332Các Sultan vương triều Mamluk (Baybars, Qalawun, al-Nasir Muhammad) đại trùng tu và ốp đá cẩm thạchCác vị Sultan Mamluk cho xây dựng hành lang phía bắc, Thánh đường Jawliyya liền kề (năm 1318 tới 1320), ốp đá cẩm thạch nhiều màu (ablaq) lên tường nội thất và dựng các tháp lăng bát giác phủ lụa xanh thêu vàng trên sáu ngôi mộ biểu trưng.
- Cuối thế kỷ 20 và ngày 7 tháng 7 năm 2017Chia tách không gian cầu nguyện và được UNESCO ghi danh Di sản Thế giớiSau biến cố đau thương năm 1994, không gian bên trong đền thánh được chia tách thành khu vực cầu nguyện Hồi giáo (Thánh đường Ibrahimi) và khu vực cầu nguyện Do Thái giáo (Hang Machpelah); năm 2017, UNESCO chính thức ghi danh Khu phố cổ Hebron và Al-Khalil cùng quần thể đền thánh vào Danh sách Di sản Thế giới.
Cuộc khảo sát hang ngầm năm 1119 của các kinh sĩ Thập tự chinh và khảo sát hiện đại năm 1967, 1981. Do hang đá Machpelah nằm sâu dưới lòng đất và được bảo vệ nghiêm ngặt qua các triều đại, lịch sử chỉ ghi nhận rất ít lần con người trực tiếp bước xuống không gian bên dưới sàn đá của đền thánh. Cuộc thám sát nổi tiếng và được ghi chép chi tiết nhất thời trung cổ diễn ra vào tháng 6 năm 1119 (được chép trong biên niên sử Latinh Tractatus de Inventione Sanctorum Patriarcharum Abraham, Ysaac et Jacob): một tu sĩ dòng Kinh sĩ Thánh Âu Tinh tên là Arnoul, khi ngồi dưới sàn nhà thờ tránh nắng hè, đã phát hiện luồng gió mát thổi lên từ khe hở giữa các phiến đá lát sàn gần cenotaph của Tổ phụ Isaac.
Khi các tu sĩ tháo dỡ phiến đá và thả dây thừng xuống sâu nhiều mét, họ phát hiện một hành lang hẹp bằng đá đẽo thời Herodian dẫn vào một căn phòng tròn, và từ căn phòng tròn ấy mở tiếp qua một cửa đá thấp vào buồng hang tự nhiên thứ hai, nơi lưu giữ những di cốt cổ xưa mà các kinh sĩ tin chắc là của các vị Tổ phụ. Sau lễ rước tôn kính năm 1119, lối xuống hang ngầm lại được đậy kín hoàn toàn suốt hơn tám trăm năm dưới thời Ayyubid, Mamluk và Ottoman. Đến tháng 7 năm 1967 (với sự tham gia của nhà khảo cổ học Moshe Dayan thả một thiếu nữ 12 tuổi tên là Michal xuống chụp ảnh thông qua lỗ thông hẹp chỉ rộng 28 cm) và năm 1981, các cuộc khảo sát ngắn ngủi một lần nữa xác nhận sự tồn tại thực tế của hành lang đá đẽo Herodian nối liền hai buồng hang dưới lòng đất kèm các mảnh gốm có niên đại từ thời kỳ Đồ Sắt (thế kỷ 8 trước Công nguyên) và thời kỳ La Mã sớm, chứng minh truyền thống hành hương liên tục suốt gần ba thiên niên kỷ tại địa điểm này.
IIIVòng Tường Đá Tảng Herodian Không Vữa, Gian Cầu Nguyện Vòm Giao Trung Cổ Và Bục Giảng Gỗ Minbar Năm 1091
Về mặt kiến trúc học, Đền thờ Tổ phụ Abraham (Thánh đường Ibrahimi) là một tuyệt tác xếp lớp văn minh: lớp vỏ ngoài cùng là một khuôn viên tường đá Herodian hình chữ nhật có kích thước ngoài khoảng 59 mét nhân 34 mét chạy theo trục Tây Bắc đi Đông Nam; bên trong khuôn viên ấy là một sân thiên tỉnh không mái che ở giữa và Gian cầu nguyện chính Ishaqiyya (Gian Tổ phụ Isaac) ở nửa phía đông nam cùng chuỗi các phòng lăng bao quanh.
Đây là công trình kiến trúc thời Vua Herod Đại đế duy nhất trên thế giới còn đứng nguyên vẹn cả bốn mặt tường tới tận đỉnh gờ mái. Bốn bức tường dày tới 2,65 mét và cao hơn 12 mét bên trên mặt đất, được ghép hoàn toàn không dùng vữa từ những khối đá vôi mizzi khai thác tại địa phương, trong đó có những tảng đá dài tới 7,5 mét và cao hơn 1 mét. Mép mỗi tảng đá đều được đục viền chìm phẳng (drafted margins) bao quanh mặt đá phẳng mịn ở giữa, còn phần trên của tường được nhịp điệu hóa bằng 54 trụ bổ tường giả (pilasters) phân bố đều đặn (18 trụ ở mỗi cạnh dài và 10 trụ ở mỗi cạnh ngắn).
Chiếm trọn một phần ba phía đông nam của khuôn viên tường Herodian là đại sảnh cầu nguyện Ishaqiyya, nguyên là phần thân chính của Vương cung thánh đường Đông La Mã và được tái thiết thành nhà thờ ba nhịp gian vòm cuốn giao nhau (groin-vaulted basilica) bởi các kiến sĩ Thập tự chinh thế kỷ 12. Dưới thời Sultan Mamluk al-Nasir Muhammad năm 1331 tới 1332, phần chân tường của toàn bộ đại sảnh được ốp những dải đá cẩm thạch ghép hình học nhiều màu đỏ, trắng, đen (phong cách ablaq) tuyệt đẹp, phía trên chạy một băng thư pháp tiếng Ả Rập khắc các câu Kinh Qur'an mạ vàng.
Phân bố cân xứng trong lòng quần thể là sáu phòng lăng hoặc tháp lăng hình bát giác và chữ nhật chứa các ngôi mộ biểu trưng (cenotaphs): bên trong đại sảnh Ishaqiyya ở phía đông nam là hai cenotaph xây bằng đá kẻ sọc trắng đỏ thời Mamluk của Tổ phụ Isaac (Ishaq) và bà Rebecca (Rifqa); ở hai bên tiền sảnh giữa là hai phòng lăng bát giác có cửa lưới sắt chạm bạc của Tổ phụ Abraham (Ibrahim) và bà Sarah; còn ở phía tây bắc bên kia sân trong là hai phòng lăng của Tổ phụ Jacob (Yaqub) và bà Leah (Liyah). Bên ngoài tường tây nam là lăng mộ Tổ phụ Joseph (Yusuf).
Nằm trên sàn đá của đại sảnh Ishaqiyya là hai lối thông trực tiếp xuống hệ thống hang đá Machpelah bên dưới: lỗ thông thứ nhất nằm sát góc tường phía đông nam gần mihrab (được che bằng phiến đá tròn nặng), vốn dẫn xuống cầu thang đá đẽo Herodian hiện đã bị bít kín; lỗ thông thứ hai nằm gần cenotaph của Tổ phụ Isaac, bên trên được dựng một khám đá nhỏ hình vòm có lưới kim loại thế kỷ 12, nơi các tu sĩ treo một ngọn đèn dầu cháy sáng liên tục thả xuống lòng hang ngầm để tôn kính phần mộ thật sự của các bậc Tổ phụ.
Đặt bên phải khám thờ Mihrab ở bức tường phía nam (hướng về thánh địa Mecca) là một trong những bục giảng gỗ (minbar) cổ xưa và quý giá nhất trong lịch sử nghệ thuật Hồi giáo thế giới: chiếc Minbar này được Tể tướng vương triều Fatimid là Badr al-Jamali cho chế tác vào năm 1091 Công nguyên (năm 484 lịch Hijri) tại thành phố cảng Ashkelon để dâng kính thánh tích đầu Husayn ibn Ali. Năm 1191, Sultan Saladin đã cho rước nguyên vẹn chiếc minbar này về đặt tại Thánh đường Ibrahimi ở Hebron; toàn bộ bục giảng được ghép từ hàng nghìn mảnh gỗ tuyết tùng và gỗ mun chạm lộng hoa văn ngôi sao hình học (girih) cùng ngà voi mà không cần dùng đến một chiếc đinh sắt nào.
Ở phía đông bắc, sát vách tường đá Herodian là Thánh đường phụ Jawliyya được Tổng trấn Mamluk là Alam al-Din Sanjar al-Jawli cho đục thẳng vào sườn núi đá vôi từ năm 1318 tới 1320 dưới triều Sultan al-Nasir Muhammad, nối thông với đại sảnh Ibrahimi qua một hành lang có vòm mái đá đan chéo tinh xảo. Vươn lên ở góc tây bắc và góc đông nam trên đỉnh bức tường Herodian là hai ngọn tháp minaret hình vuông mang đậm phong cách kiến trúc Mamluk vẫn còn đứng vững để ngân vang tiếng gọi cầu nguyện năm lần mỗi ngày.
| Hạng mục kiến trúc và Bảo vật | Niên đại và Triều đại kiến tạo | Đặc điểm kỹ thuật và Vị trí trong quần thể |
|---|---|---|
| Hang đá đôi ngầm Machpelah | Tự nhiên; cải tạo lối vào thời Đồ Sắt và thế kỷ 1 TCN | Gồm hai buồng hang đá vôi tự nhiên nối nhau bằng hành lang đá đẽo Herodian sâu dưới sàn đền thánh |
| Vòng tường bao đá tảng Herodian (Haram) | Khoảng năm 37 tới năm 4 TCN (Vua Herod Đại đế) | Kích thước 59 m nhân 34 m, tường đá vôi nguyên khối dày 2,65 m, cao trên 12 m với 54 trụ bổ tường giả |
| Đại sảnh cầu nguyện Ishaqiyya | Thế kỷ 12 (vòm cuốn Thập tự chinh) và năm 1331 (Mamluk) | Nhà thờ ba nhịp gian vòm giao ốp đá cẩm thạch nhiều màu ablaq, chứa cenotaph của Isaac và Rebecca |
| Bục giảng gỗ Minbar Fatimid | Chế tác năm 1091 tại Ashkelon; Saladin rước về năm 1191 | Bục giảng gỗ ghép hình học girih cổ nhất còn nguyên vẹn tại Palestine, đặt cạnh Mihrab tường nam |
| Sáu tháp lăng biểu trưng (Maqamat) | Thời Hồi giáo sớm, tái thiết thế kỷ 13 tới 14 (thời Mamluk) | Sáu cấu trúc bát giác và chữ nhật phủ lụa thêu vàng tưởng niệm Abraham, Sarah, Isaac, Rebecca, Jacob và Leah |
IVThế Đất Và Hướng
Cần nêu rõ rằng các nhà kiến tạo thời Vua Herod Đại đế, các kiến trúc sư Đông La Mã cũng như các vương triều Hồi giáo trung cổ hoàn toàn không áp dụng thuật phong thủy phương Đông khi xây dựng Đền thờ Tổ phụ Abraham tại Hebron. Vị trí của công trình được ấn định tuyệt đối bởi tọa độ tự nhiên của Hang đá đôi Machpelah dưới lòng đất, còn hướng cầu nguyện bên trong đền tuân theo quy tắc tôn giáo của từng truyền thống: khám thờ Mihrab của Hồi giáo đặt ở bức tường phía Nam tới Đông Nam hướng thẳng về thánh địa Mecca, trong khi hướng cầu nguyện của Do Thái giáo hướng về phía Bắc tới Đông Bắc tức hướng về Núi Đền tại Jerusalem. Những phân tích dưới đây là góc nhìn đối chiếu theo phép xem hình thế sơn thủy cổ truyền của thư viện Vạn Đạo Đường.
Xét trên đại cuộc địa hình của dãy núi Judea (Jibal al-Khalil hay Harey Yehuda) tại tọa độ 31,5247 độ vĩ bắc, 35,1107 độ kinh đông, thành phố Hebron tọa lạc trên vùng sống lưng cao nhất của dãy sơn mạch miền nam Palestine ở độ cao từ 900 đến hơn 1.000 mét so với mực nước biển. Khu phố cổ Hebron và Đền thờ Tổ phụ Abraham nằm nép mình bên sườn phía tây nam của ngọn đồi Jabal al-Ja'abari (đồi Tel Hebron, tức ngọn đồi cổ Jabal al-Rumeida ở phía tây đối diện qua thung lũng), được bao bọc bốn bề bởi những ngọn đồi đá vôi trồng nho và cây ô liu lâu năm xếp tầng như một sơn cốc tụ khí vững chãi giữa miền bán khô hạn.
Về tọa hướng và kết cấu huyệt trạch, khuôn viên hình chữ nhật của vòng tường đá Herodian đặt theo trục tọa Tây Bắc hướng Đông Nam, lưng tựa trực tiếp vào sườn núi đá vôi phía đông bắc (nơi Thánh đường Jawliyya được đục thẳng vào vách đá tự nhiên làm hậu chẩm thạch bích), còn mặt trước nhìn xuống thung lũng cổ Wadi al-Khalil chạy dọc theo chân đồi như một dải minh đường tụ thủy mùa mưa. Điểm đặc sắc nhất về mặt hình thế của thánh địa này chính là cấu trúc âm dương trùng điệp giữa tầng ngầm và tầng nổi: bên dưới lòng đất là hai buồng hang đá vôi tự nhiên Machpelah kín gió, tàng phong tụ khí suốt bốn thiên niên kỷ (tượng trưng cho thái âm địa huyệt nơi an nghỉ vĩnh hằng của sáu bậc Tổ tiên), còn ngay phía trên mặt đất là bốn bức tường đá tảng nguyên khối nặng hàng chục tấn mỗi viên dựng thẳng đứng không cửa sổ đón ánh nắng vùng Cận Đông (tượng trưng cho thái dương bảo thành che chở bên ngoài), tạo nên thế nội tàng nhị huyệt, ngoại hộ kim thành hiếm có bậc nhất trong các thánh địa cổ đại thế giới.
VCác Kỳ Đại Lễ Hồi Giáo Theo Lịch Hijri, Lễ Hành Hương Do Thái Giáo Và Nếp Sống Chia Sẻ Không Gian Thánh
Vì Đền thờ Tổ phụ Abraham (Thánh đường Ibrahimi) là thánh địa được cả người Hồi giáo lẫn người Do Thái tôn kính sâu sắc, nhịp sống lễ tiết tại đây vận hành song song theo hai hệ lịch cổ truyền là âm lịch Hồi giáo (lịch Hijri) và âm dương lịch Do Thái (lịch Hebrew). Trong hầu hết các ngày trong năm, không gian bên trong đền thánh được phân chia thành hai khu vực riêng biệt (khu vực Thánh đường Ibrahimi chiếm khoảng phần lớn diện tích bao gồm đại sảnh Ishaqiyya, và khu vực Hội đường Machpelah ở phía tây bắc và sân giữa); riêng vào 10 ngày đại lễ đặc biệt của mỗi tôn giáo trong năm, toàn bộ khuôn viên đền thánh được mở thông hoàn toàn cho tín đồ của tôn giáo có đại lễ hôm ấy hành lễ.
| Thời điểm trong năm | Hệ lịch | Tên đại lễ và sự kiện tôn giáo | Nghi thức cử hành tại Đền thờ Tổ phụ Abraham (Thánh đường Ibrahimi) |
|---|---|---|---|
| Tháng Ramadan (đặc biệt các ngày Thứ Sáu và Đêm Định Mệnh Laylat al-Qadr) | Âm lịch Hồi giáo (Hijri) | Tháng Nhịn Chay Ramadan và Lễ Eid al-Fitr | Toàn bộ khuôn viên Thánh đường Ibrahimi mở thông trong các ngày lễ ấn định để đón hàng vạn tín đồ Hồi giáo cầu nguyện; nhà bếp từ thiện Takiyyat Ibrahim phát hàng chục nghìn suất cháo lúa mì hầm thịt và bánh mì cho các gia đình mở chay (Iftar). |
| Ngày 10 tháng Dhu al-Hijjah | Âm lịch Hồi giáo (Hijri) | Đại lễ Hiến Sinh (Eid al-Adha) | Kỷ niệm biến cố Tiên tri Ibrahim vâng lệnh Đấng Allah sẵn sàng dâng hiến con trai mình: đại lễ có ý nghĩa thiêng liêng bậc nhất tại chính lăng mộ của Tổ phụ Ibrahim ở Hebron với lễ cầu nguyện đại trào và chia phần thịt hiến tế cho người nghèo. |
| Ngày 12 tháng Rabi al-Awwal và ngày 27 tháng Rajab | Âm lịch Hồi giáo (Hijri) | Lễ Sinh Nhật Tiên tri Muhammad (Mawlid al-Nabi) và Lễ Dạ Hành Thăng Thiên (Isra và Mi'raj) | Tưởng niệm cuộc dừng chân cầu nguyện của Tiên tri Muhammad tại mộ Tổ phụ Ibrahim trong đêm Isra cùng các buổi ngâm tụng thơ ca ca ngợi Tiên tri và các bậc Tổ phụ bên trong đại sảnh Ishaqiyya. |
| Tháng Tishrei (Rosh Hashanah, Yom Kippur và Sukkot) | Âm dương lịch Do Thái (Hebrew) | Mười Ngày Sám Hối Đầu Năm Mới Do Thái và Lễ Lều Tạm | Vào các ngày đại lễ được quy định, toàn bộ đền thánh kể cả Gian Tổ phụ Isaac (Ohel Yitzhak) mở cửa cho hàng vạn người hành hương Do Thái vào cầu nguyện trước lỗ thông xuống hang đá Machpelah và thổi tù và Shofar. |
| Thứ Bảy tuần đọc đoạn Kinh Thánh Chayei Sarah (tháng Cheshvan) | Âm dương lịch Do Thái (Hebrew) | Ngày Sabát Chayei Sarah (Cuộc đời của bà Sarah) | Thứ Bảy hằng năm khi các hội đường khắp thế giới đọc chương 23 Sách Sáng Thế kể chuyện Tổ phụ Abraham mua hang đá Machpelah để an táng bà Sarah, thu hút đông đảo khách hành hương tụ hội về Hebron cầu nguyện. |
Ý nghĩa đối với lữ khách hành hương Đất Thánh và người Việt Nam. Đối với các đoàn hành hương và du khách Việt Nam khi đến thăm vùng Đất Thánh (gồm Jerusalem, Bethlehem, Jericho và Hebron), chuyến viếng thăm Đền thờ Tổ phụ Abraham mang lại một trải nghiệm suy tư sâu sắc về cội nguồn chung của gia đình nhân loại. Khi đứng trước những tảng đá vôi Herodian khổng lồ đã tồn tại hơn hai thiên niên kỷ và nhìn vào các ngôi mộ biểu trưng của Tổ phụ Abraham và bà Sarah qua khung cửa lưới sắt, người lữ khách từ phương Đông dễ dàng cảm nhận được sự tương đồng sâu sắc với truyền thống uống nước nhớ nguồn và kính ngưỡng tiền nhân: dù khác biệt về ngôn ngữ và nghi thức phụng tự, hàng tỷ tín đồ của ba tôn giáo lớn vẫn cùng hướng về một bậc Tổ phụ chung với lòng hiếu kính và tinh thần hiếu khách đại đồng.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Khu phố cổ Hebron (Al-Balad al-Qadima), thành phố Hebron (Al-Khalil), tỉnh Hebron, Nhà nước Palestine
- Đường tới
- Thành phố Hebron (Al-Khalil) nằm ở phía nam khu vực Bờ Tây, cách trung tâm Jerusalem khoảng 30 km và cách thành phố Bethlehem khoảng 22 km về phía nam theo trục Quốc lộ 60. Du khách từ Jerusalem hoặc Bethlehem có thể đi xe buýt công cộng hoặc xe taxi dịch vụ (service taxi) từ bến xe cổng Damascus (Damascus Gate) ở Đông Jerusalem hoặc từ trung tâm Bethlehem tới bến xe trung tâm thành phố Hebron (mất khoảng 45 đến 60 phút), sau đó đi bộ khoảng 15 phút xuyên qua khu chợ cổ vòm cuốn (Souq) của Khu phố cổ Hebron để tới cổng vào Thánh đường Ibrahimi; ngoài ra cũng có các tuyến xe buýt từ trạm xe trung tâm Jerusalem đi thẳng tới khu vực lân cận Hang Machpelah.
- Toạ độ
- 31.5247, 35.1107
Đền thờ Tổ phụ Abraham (Thánh đường Ibrahimi) tại Hebron là một khu vực có quy chế an ninh và tôn giáo rất nghiêm ngặt: lối vào khu vực Thánh đường Hồi giáo Ibrahimi và lối vào khu vực Hội đường Do Thái Machpelah đi qua các cổng kiểm soát an ninh hoàn toàn tách biệt nhau. Quý vị bắt buộc phải mang theo hộ chiếu bản gốc còn hiệu lực khi đi qua các trạm kiểm soát tại Khu phố cổ Hebron. Khi bước vào bên trong đền thánh, cả nam lẫn nữ đều phải ăn mặc hết sức kín đáo (áo che kín vai và cánh tay, quần dài hoặc váy dài che kín mắt cá chân; phụ nữ cần đội khăn trùm đầu khi vào khu vực Thánh đường Hồi giáo và nam giới đội mũ kippah khi vào khu vực cầu nguyện Do Thái giáo). Quý vị cần cởi giày dép trước khi bước lên thảm cầu nguyện của Thánh đường Ibrahimi, giữ thái độ trang nghiêm, không chụp ảnh những người đang quỳ lạy cầu nguyện và kiểm tra trước lịch 10 ngày lễ đặc biệt trong năm vì vào những ngày đó một trong hai bên sẽ tạm đóng cửa đối với khách tham quan thông thường.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Đền thờ Tổ phụ Abraham (Thánh đường Ibrahimi), Hebron
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vì sao địa điểm này lại có đồng thời hai tên gọi là Thánh đường Ibrahimi và Hang đá Machpelah?
Hai tên gọi này phản ánh hai truyền thống tôn giáo cùng tôn kính một địa điểm: trong Hồi giáo, nơi đây được gọi là Al-Haram al-Ibrahimi (Thánh địa của Tổ phụ Ibrahim, tức Abraham, người được Kinh Qur'an gọi là Al-Khalil nghĩa là Người Bạn Chí Thân của Thiên Chúa); còn trong Do Thái giáo và Kinh Thánh Kitô giáo, nơi đây được gọi là Me'arat ha-Makhpela (Hang đá Machpelah, nghĩa là Hang Đá Đôi), theo trình thuật trong Sách Sáng Thế chương 23 khi Tổ phụ Abraham mua hang đá đôi này để an táng bà Sarah.
Những nhân vật nào trong Kinh Thánh và Kinh Qur'an được truyền thống tin là an táng tại đây?
Theo truyền thống chung của các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham, bên trong hang đá đôi bên dưới sàn đền là nơi an táng của ba thế hệ Tổ phụ và Tổ mẫu gồm sáu vị: Tổ phụ Abraham (Ibrahim) và bà Sarah, Tổ phụ Isaac (Ishaq) và bà Rebecca (Rifqa), cùng Tổ phụ Jacob (Yaqub) và bà Leah (Liyah). Ngoài ra bên ngoài tường phía tây nam còn có lăng mộ kỷ niệm của Tổ phụ Joseph (Yusuf).
Các ngôi mộ lớn phủ vải thêu vàng bên trong các gian phòng của đền thánh có phải là mộ thật không?
Không, sáu cấu trúc lăng mộ lớn đặt trong các phòng nguyện trên mặt sàn đền thánh chỉ là các mộ biểu trưng (cenotaphs hay maqamat) được xây dựng từ thời trung cổ để đánh dấu vị trí tôn kính. Phần mộ thật sự theo truyền thống nằm sâu bên dưới lòng đất trong hệ thống Hang đá đôi Machpelah tự nhiên, vốn đã được niêm phong bên dưới lớp đá lát sàn suốt nhiều thế kỷ và chỉ thông lên trên qua hai lỗ thông nhỏ có nắp che.
Bốn bức tường đá khổng lồ bao quanh bên ngoài Đền thờ Tổ phụ Abraham được xây dựng từ thời nào?
Bốn bức tường bao bằng đá vôi nguyên khối dày 2,65 mét và cao hơn 12 mét với 54 trụ bổ tường giả được xây dựng vào thế kỷ 1 trước Công nguyên dưới triều đại Vua Herod Đại đế. Đây là công trình kiến trúc thời Herodian duy nhất trên thế giới còn giữ được nguyên vẹn cả bốn mặt tường bao từ chân móng lên tới đỉnh gờ mái suốt hơn hai nghìn năm qua.
Chiếc bục giảng bằng gỗ (Minbar) đặt bên trong Thánh đường Ibrahimi có giá trị lịch sử đặc biệt gì?
Đặt cạnh khám thờ Mihrab là chiếc bục giảng gỗ Minbar được chế tác vào năm 1091 Công nguyên dưới thời Fatimid tại thành phố Ashkelon và được Sultan Saladin rước về dâng tặng cho Thánh đường Ibrahimi vào năm 1191. Được ghép từ hàng nghìn mảnh gỗ tuyết tùng và gỗ mun chạm hoa văn hình học ngôi sao hoàn toàn không dùng đinh kim loại, đây là một trong những chiếc minbar bằng gỗ cổ nhất và nguyên vẹn nhất còn tồn tại trong thế giới Hồi giáo.
Truyền thống phát súp miễn phí (Takiyyat Ibrahim) tại Hebron có nguồn gốc từ đâu?
Xuất phát từ tấm gương hiếu khách nổi tiếng của Tổ phụ Abraham (Ibrahim) luôn mở cửa lều đãi thức ăn cho mọi lữ khách, từ thời trung cổ một nhà bếp từ thiện mang tên Takiyyat Sayyiduna Ibrahim đã được lập ngay cạnh đền thánh. Suốt gần một thiên niên kỷ qua, nhà bếp này vẫn nấu cháo lúa mì hầm thịt phát miễn phí hằng ngày cho người nghèo và khách hành hương, giúp Hebron được mệnh danh là thành phố không có ai phải chịu đói.