Giữa vùng đồng bằng thung lũng Jezreel (Esdraelon) rộng lớn và bằng phẳng thuộc miền Hạ Galilee, cách thành phố Nazareth khoảng mười bảy kilômét về phía đông, có một ngọn núi đá vôi hình vòm tròn cô lập đột ngột vươn thẳng lên bầu trời ở độ cao năm trăm bảy mươi lăm mét so với mực nước biển mà không hề dính liền với bất kỳ dãy núi nào xung quanh. Ngọn núi mang dáng vẻ uy nghi như một đài tế thiên nhiên ấy chính là núi Tabor (trong tiếng Do Thái là Har Tavor, tiếng Ả Rập là Jabal at-Tur). Đi qua chiếc cổng đá cổ thời Trung cổ mang tên Cổng Gió (Bab al-Hawa) trên đỉnh núi và bước dọc theo con đường thẳng tắp giữa hai hàng cây bách già, du khách sẽ đứng trước mặt tiền đá vôi trắng lộng lẫy của Vương cung thánh đường Chúa Hiển Dung trên núi Tabor (Church of the Transfiguration).
Trong truyền thống linh đạo của Công giáo và Chính thống giáo Đông phương, đỉnh núi Tabor là nơi trời đất giao hòa trong ánh sáng thần linh rực rỡ nhất của Tân Ước: chính tại đây, sáu ngày sau khi loan báo cuộc Thương Khó và trước khi bước lên đường đi về Jerusalem, Chúa Giêsu Kitô đã đem ba môn đệ thân tín là Phêrô, Giacôbê và Gioan lên núi cao cầu nguyện và Hiển Dung (Biến Hình) trước mắt các ông với dung mạo chói lọi như mặt trời và y phục trắng tinh như tuyết, đàm đạo cùng hai vị đại ngôn sứ Cựu Ước là Môsê và Êlia. Được kiến trúc sư thiên tài người Ý Antonio Barluzzi xây dựng từ năm 1919 tới 1924 trên nền các thánh đường cổ từ thế kỷ thứ 4 và thế kỷ 12, ngôi vương cung thánh đường trên đỉnh núi Tabor được giới lịch sử kiến trúc đánh giá là một trong những thánh đường Kitô giáo đẹp và giàu tính biểu tượng thần học nhất tại vùng Trung Đông.

IBiến Cố Chúa Giêsu Hiển Dung Cùng Môsê Và Êlia, Tiếng Chúa Cha Từ Đám Mây Sáng Và Ký Ức Cựu Ước Trên Đỉnh Tabor
Sự kiện Chúa Giêsu Hiển Dung (Transfiguratio Domini) được cả ba sách Tin Mừng Nhất Lãm ghi lại trang trọng (Mátthêu 17:1-9, Máccô 9:2-8 và Luca 9:28-36), đồng thời được chính Thánh Phêrô Tông đồ xác nhận lại như một nhân chứng mắt thấy tai nghe trong Thư thứ hai của Thánh Phêrô (2 Phêrô 1:16-18). Theo trình thuật Tin Mừng, Chúa Giêsu dẫn ba Tông đồ trụ cột là Phêrô, Giacôbê và Gioan đi riêng lên một ngọn núi cao để cầu nguyện. Đang lúc Ngài cầu nguyện, dung mạo Ngài biến đổi khác thường, chiếu sáng rực rỡ như mặt trời, còn áo Ngài trở nên trắng tinh chói lòa như ánh sáng.
Bỗng nhiên có hai nhân vật vĩ đại của lịch sử cứu độ hiện ra đàm đạo với Chúa Giêsu về cuộc xuất hành (tức cuộc Thương Khó, Tử Nạn và Phục Sinh) mà Ngài sắp hoàn tất tại Jerusalem: đó là Môsê (đại diện cho Lề Luật Torah) và Êlia (đại diện cho các Ngôn Sứ Nevi'im, người từng bảo vệ đức tin độc thần trên đỉnh núi Carmel tại Đan viện Stella Maris). Ngất ngây trước vinh quang thiên quốc, ông Phêrô đã thưa với Chúa Giêsu rằng: Lạy Thầy, chúng con ở đây thật là hay! Nếu Thầy muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều: một cho Thầy, một cho ông Môsê và một cho ông Êlia. Ngay lúc ấy, một đám mây sáng chói bao phủ các ông và từ trong đám mây vọng ra tiếng của Thiên Chúa Cha phán dạy: Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người; các ngươi hãy vâng nghe lời Người!
Trong thần học Kitô giáo (được Thánh Tôma Aquinô giải thích sâu sắc trong bộ Tổng luận Thần học III, câu hỏi 45, và được truyền thống tu đức Đông phương gọi là Ánh sáng bất tạo núi Tabor), biến cố Chúa Hiển Dung mang hai ý nghĩa cốt lõi:
Thứ nhất, để chuẩn bị tâm hồn cho các môn đệ không bị vấp ngã và tuyệt vọng khi sắp phải chứng kiến Thầy mình bị bắt bớ tại Vườn Cây Dầu Gethsemane và chịu đóng đinh trên đồi Golgotha, Chúa Giêsu đã hé mở trước một tia vinh quang thần tính vốn hằng có nơi Ngài để các ông hiểu rằng cuộc khổ nạn thập giá không phải là thất bại mà là con đường dẫn tới vinh quang Phục Sinh.
Thứ hai, sự xuất hiện đồng thời của Chúa Cha (trong tiếng phán từ đám mây), Chúa Con (trong thân xác biến hình rực sáng) và Chúa Thánh Thần (hiện diện qua đám mây ánh sáng che phủ) biến đỉnh núi Tabor thành nơi Mạc khải Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, đồng thời sự hiện diện của Môsê và Êlia chứng minh toàn bộ Lề Luật và Ngôn Sứ Cựu Ước đều quy hướng và hoàn tất nơi Đức Kitô.
Không chỉ nổi danh trong Tân Ước, đỉnh núi Tabor còn là một địa danh linh thiêng lừng lẫy trong Kinh Thánh Cựu Ước, nằm ngay tại ranh giới phân chia lãnh thổ của ba chi tộc Israel cổ đại là Zebulun, Issachar và Naphtali (sách Giôsuê 19:22). Vào khoảng thế kỷ 12 trước Công nguyên, theo sách Thủ Lãnh (Thủ Lãnh 4:6-14 và bài ca chiến thắng ở chương 5), nữ ngôn sứ kiêm thẩm phán Deborah đã truyền lệnh cho tướng Barak con ông Abinoam tập hợp mười nghìn nghĩa binh thuộc hai chi tộc Naphtali và Zebulun đóng quân trên đỉnh núi Tabor hiểm yếu, rồi từ trên sườn núi Tabor bất ngờ đổ quân xuống đồng bằng thung lũng Jezreel trong cơn mưa lớn, đánh tan đạo quân chín trăm chiến xa bọc sắt của tướng Canaan là Sisera bên dòng sông Kishon. Trong sách Thánh Vịnh (Thánh Vịnh 89:13), vua David đã ca tụng vẻ đẹp sừng sững của ngọn núi này: Phương Bắc phương Nam, chính Chúa tạo thành; núi Tabor với núi Hermon reo mừng danh Chúa!
Trong nghiên cứu chú giải Kinh Thánh hiện đại, vì các sách Tin Mừng Nhất Lãm chỉ viết rằng Chúa Giêsu đưa ba môn đệ lên một ngọn núi cao mà không ghi tên riêng của ngọn núi, nên một số học giả từ thế kỷ 19 từng đặt giả thuyết ngọn núi ấy cũng có thể là núi Hermon ở cực bắc (do đoạn văn trước đó nhắc tới vùng Caesarea Philippi). Tuy nhiên, ngay từ thế kỷ thứ 3 và thế kỷ thứ 4 Công nguyên, các Giáo phụ uyên bác sống trực tiếp tại Đất Thánh như học giả Origenes (khoảng năm 240), Thánh Cyrillô Giám mục Jerusalem (trong Bài giảng Giáo lý XII, 16 năm 348), Thánh Epifaniô và Thánh Giêrônimô (người dịch bộ Kinh Thánh Vulgate tại Bethlehem) đều nhất loạt khẳng định chắc chắn ngọn núi của biến cố Chúa Hiển Dung chính là núi Tabor, và truyền thống phụng vụ, khảo cổ của toàn thể Giáo hội Đông phương lẫn Tây phương suốt mười bảy thế kỷ qua đều gắn liền với đỉnh núi này.
IIBiên Niên Sử Mười Bảy Thế Kỷ: Từ Ba Nhà Nguyện Thời Byzantine, Đan Viện Thời Thập Tự Chinh Tới Tuyệt Tác Của Antonio Barluzzi
Lịch sử xây dựng trên đỉnh núi Tabor là một bản trường ca hào hùng đan xen giữa đời sống đan tu chiêm niệm và những cuộc vây hãm quân sự khốc liệt bậc nhất vùng Cận Đông.
Vào năm 67 Công nguyên, trong cuộc chiến tranh Do Thái - La Mã lần thứ nhất, sử gia kiêm tướng lĩnh Flavius Josephus đã cho xây dựng một bức tường thành đá vôi dài hơn ba kilômét bao quanh toàn bộ cao nguyên đỉnh núi Tabor chỉ trong vòng bốn mươi ngày (hiện vẫn còn dấu tích tường đá cổ dọc chu vi đỉnh núi). Tới thế kỷ thứ 4, sau khi Hoàng thái hậu Helena tới Đất Thánh, các tín hữu thời kỳ Byzantine đã dựng trên đỉnh núi Tabor ba ngôi nhà thờ nhỏ ứng với ba cái lều mà Thánh Phêrô từng xin dựng cho Chúa Kitô, Môsê và Êlia; tới thế kỷ thứ 6, núi Tabor trở thành một tòa Tổng giám mục quan trọng. Năm 1099, ngay khi Vương quốc Thập tự chinh được thiết lập, hoàng thân Norman Tancred xứ Galilee đã trao đỉnh núi Tabor cho các đan sĩ Dòng Biển Đức (Benedictines) từ tu viện Cluny sang xây dựng một đan viện kiên cố như pháo đài. Sau khi quân đội Mamluk của Sultan Baibars phá hủy nhà thờ Thập tự chinh năm 1263, phải mất gần bốn thế kỷ cho tới năm 1631, các tu sĩ Dòng Phanxicô mới chính thức tiếp nhận đỉnh núi này và kiến tạo nên đại vương cung thánh đường hiện đại vào đầu thế kỷ 20.
- Thế kỷ 4 tới thế kỷ 6 Công nguyênXác lập thánh địa thời Byzantine với Ba Nhà Nguyện ứng với Ba Lều ThánhTheo ghi chép của Thánh Giêrônimô (năm 386), khách hành hương Theodosius (năm 530) và Piacenza (năm 570), trên đỉnh núi Tabor đã có ba ngôi nhà thờ thời Byzantine tôn kính Chúa Kitô, Môsê và Êlia cùng một tòa giám mục trực thuộc Tòa Thượng phụ Jerusalem.
- Năm 1099 tới năm 1187Các đan sĩ Dòng Biển Đức thời Thập tự chinh xây dựng Đan viện và Vương cung thánh đườngDưới sự bảo trợ của Hoàng thân Tancred xứ Galilee, các đan sĩ Dòng Biển Đức xây dựng vương cung thánh đường ba gian theo phong cách Romanesque cùng tu viện có tường hào bảo vệ; năm 1183 các đan sĩ giữ vững đan viện trước cuộc tấn công của Saladin nhưng thất thủ sau trận Hattin năm 1187.
- Năm 1211 tới năm 1263Pháo đài Ayyubid với Cổng Gió (Bab al-Hawa) và sự tàn phá của Sultan Mamluk BaibarsSultan nhà Ayyubid là al-Mu'azzam Isa xây dựng pháo đài lớn và Cổng Gió (Bab al-Hawa) trên đỉnh núi năm 1211, chống trả cuộc vây hãm của cuộc Thập tự chinh thứ năm năm 1217; sau khi các tu sĩ trở lại ngắn ngủi năm 1255, Sultan Mamluk Baibars đã san phẳng nhà thờ năm 1263.
- Năm 1631Tỉnh Dòng Phanxicô Bảo Quản Đất Thánh tiếp nhận chủ quyền khu di tích từ Emir Fakhr-al-Din IINhờ mối bang giao tốt đẹp với Tiểu vương người Druze thống lĩnh vùng Levant là Fakhr-al-Din II, cha bề trên Diego Campanile của Dòng Phanxicô chính thức nhận quyền sở hữu phế tích núi Tabor và bắt đầu cử tu sĩ từ Nazareth lên cử hành phụng vụ.
- Năm 1919 tới năm 1924Hai anh em kiến trúc sư Antonio và Giulio Barluzzi kiến tạo Vương cung thánh đường hiện hữuDưới thời Bề trên Ferdinando Diotallevi, kiến trúc sư Antonio Barluzzi và người anh kỹ sư Giulio Barluzzi xây dựng đại vương cung thánh đường bằng đá vôi trắng theo phong cách Romano-Syria ngay trên nền móng Byzantine và Thập tự chinh, khánh thành năm 1924.
- Ngày 5 tháng 1 năm 1964Chuyến hành hương lịch sử của Thánh Giáo hoàng Phaolô VI lên đỉnh núi TaborTrong chuyến tông du lịch sử tới Đất Thánh năm 1964, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã lên đỉnh núi Tabor cầu nguyện bên trong Vương cung thánh đường Chúa Hiển Dung, trở thành vị Giáo hoàng đầu tiên kể từ thời Thánh Phêrô đặt chân lên ngọn núi thiêng này.
Cảm hứng kiến trúc Romano-Syria từ Đền thánh Simeon Stylites (Qal'at Sim'an) của Antonio Barluzzi. Khi bắt tay vào thiết kế Vương cung thánh đường Chúa Hiển Dung năm 1919, kiến trúc sư Antonio Barluzzi đứng trước một bài toán khó: làm thế nào để tôn vinh truyền thống Kitô giáo cổ đại của vùng Cận Đông mà không lặp lại kiểu kiến trúc nhà thờ châu Âu xa lạ, đồng thời tích hợp nguyên vẹn các bức tường cổ thời Byzantine và hầm mộ thời Thập tự chinh vừa khai quật được? Barluzzi đã tìm thấy câu trả lời xuất sắc khi nghiên cứu phong cách kiến trúc đá vôi Romano-Syria (Syro-Roman architecture) thế kỷ thứ 4 tới thế kỷ thứ 7 tại miền bắc Syria (đặc biệt là Vương cung thánh đường Thánh Simeon Cột Trụ tại Qal'at Sim'an và nhà thờ Qalb Lozeh). Với hai tòa tháp đá vuông đối xứng ở mặt tiền nối với nhau bằng một vòm cuốn bán nguyệt khổng lồ bắc qua cổng vào, những dãy gờ đá chạm nổi hình dây leo uốn lượn và những phiến đá alabaster xuyên sáng trên mái, công trình của Barluzzi trên núi Tabor được ca ngợi là kiệt tác hoàn mỹ nhất trong sự nghiệp của ông.
IIIMặt Tiền Hai Tháp Nhà Nguyện Môsê Và Êlia, Mái Đá Xuyên Sáng, Khảm Vàng Rodolfo Villani Và Hiệu Ứng Tia Nắng Ngày 6 Tháng 8
Toàn bộ khu phức hợp của Dòng Phanxicô trên đỉnh núi Tabor được bao bọc bởi bức tường thành thời Trung cổ và mở đầu bằng Cổng Gió (Bab al-Hawa), chiếc cổng vòm đá nhọn thời Ayyubid - Thập tự chinh dẫn vào một đại lộ dài trồng cây bách rợp bóng tiến thẳng tới sân trước nhà thờ. Mặt tiền phía tây của Vương cung thánh đường gây ấn tượng mạnh mẽ bởi sắc đá vôi trắng ngà tinh khiết và cấu trúc Ba Lều Thánh (Three Tabernacles) được thể hiện ngay trong hình khối kiến trúc.
Ở hai bên mặt tiền vươn lên hai tòa tháp chuông hình vuông uy nghi được nối liền ở tầng giữa bằng một vòm cuốn đá nguyên khối rộng lớn: ngay dưới chân tháp phía bắc là Nhà nguyện ngôn sứ Môsê (nơi bảo tồn tường đá cổ thời Byzantine và bức họa ông Môsê cầm Bia Mười Điều Răn trên núi Sinai), còn dưới chân tháp phía nam là Nhà nguyện ngôn sứ Êlia (nơi bảo tồn hậu cung đá cổ và bức họa ngôn sứ Êlia cầu lửa từ trời xuống trên tế đàn núi Carmel). Chính giữa hai tháp là cổng dẫn vào Lòng vương cung thánh đường ba gian tượng trưng cho Lều Thánh tối cao của Chúa Giêsu Kitô.
Thay vì xây ba ngôi nhà thờ tách biệt như thời Byzantine, kiến trúc sư Antonio Barluzzi đã đặt Nhà nguyện Môsê ở tầng trệt tháp bắc và Nhà nguyện Êlia ở tầng trệt tháp nam, cả hai đều được xây dựng ngay trên nền móng đá cổ thế kỷ thứ 4 tới thế kỷ 12. Hai tòa tháp được nối với nhau bằng một vòm cuốn đá lớn tạo thành tiền sảnh sâu lắng trước khi bước vào thánh đường chính.
Bên trong vương cung thánh đường được chia thành ba gian rộng ngăn cách bởi các trụ đá vuông lớn nâng đỡ những vòm cuốn bán nguyệt cao vút. Để diễn tả 'đám mây sáng chói' bao phủ các Tông đồ trong ngày Chúa Hiển Dung, Barluzzi đã thiết kế hệ mái gỗ nghiêng ban đầu lợp bằng những phiến đá cẩm thạch alabaster mỏng vùng Carrara (Ý) có khả năng cho ánh sáng mặt trời xuyên qua nhẹ nhàng, kết hợp với các ô cửa sổ kính màu hình con công ở trên cao.
Từ gian giữa bước xuống một cầu thang đá rộng là không gian Hầm mộ Tầng dưới, nơi giữ nguyên các bức tường đá thời Byzantine và vòm hậu cung thời Thập tự chinh thế kỷ 12. Trên vòm trần phía trên bàn thờ hầm mộ là bốn bức tranh khảm mosaic trên nền vàng của họa sĩ Rodolfo Villani diễn tả bốn cuộc 'biến hình' khác của Chúa Kitô trong lịch sử cứu độ: (1) Nhập Thể Giáng Sinh tại Bethlehem; (2) Biến đổi bánh rượu trong Bí tích Thánh Thể; (3) Hy tế Thập Giá (với hình ảnh Con Chiên bị sát tế); và (4) Phục Sinh vinh hiển.
Ở phía đông tầng trên, hai cầu thang đá dẫn lên Gian cung thánh cao ráo, nơi đặt bàn thờ chính dưới vòm bán cầu hậu cung (Apse) phủ kín bằng bức tranh khảm mosaic vàng rực rỡ của Rodolfo Villani. Bức tranh khắc họa Chúa Giêsu trong tà áo trắng lấp lánh đang bay bổng trên không trung giữa những vòng tròn ánh sáng bạc và vàng, hai bên là ngôn sứ Môsê và ngôn sứ Êlia đứng trên mây, phía dưới chân đồi là ba Tông đồ Phêrô, Giacôbê và Gioan đang che mắt kinh ngạc.
Một chi tiết kỹ thuật và phụng vụ vô cùng độc đáo do Antonio Barluzzi tính toán: trên mặt sàn phía trước lối xuống Hầm mộ có lắp một tấm kính lớn trong suốt, thẳng hàng với một ô cửa sổ tròn ở mặt tiền phía tây. Hàng năm, đúng vào khoảng 4 giờ chiều ngày 6 tháng 8 (ngày Đại lễ Chúa Hiển Dung), tia nắng mặt trời từ hướng tây chiếu xuyên qua ô cửa sổ mặt tiền, đập thẳng vào tấm sàn kính và phản chiếu ánh sáng rực rỡ xuống bàn thờ cùng bức khảm vàng trong Hầm mộ.
Ngay bên phải cổng vào nhà thờ là khu di tích khảo cổ lộ thiên bảo tồn các phòng tu viện, nhà ăn, hầm chứa nước và lò ép dầu của Đan viện Biển Đức thế kỷ 12 cùng Nhà nguyện cổ thời Byzantine. Từ sân thượng trên mái nhà khách dòng Phanxicô cạnh nhà thờ, du khách có thể phóng tầm mắt 360 độ ngắm toàn cảnh đồng bằng Jezreel, núi Gilboa, núi Moreh (Nain), rặng núi Nazareth và đỉnh núi Hermon phủ tuyết ở phía bắc.
| Hạng mục kiến trúc | Vị trí và niên đại | Đặc điểm nghệ thuật và biểu tượng thần học |
|---|---|---|
| Cổng Gió (Bab al-Hawa) và Tường thành cổ | Lối vào đỉnh núi phía tây; xây dựng năm 1211 tới 1212 thời Ayyubid | Cổng đá vòm nhọn kiên cố còn sót lại của pháo đài thời Trung cổ, mở đầu đại lộ hàng cây bách dẫn vào đền thánh |
| Hai tháp mặt tiền: Nhà nguyện Môsê và Êlia | Phía tây nhà thờ; thiết kế năm 1919 tới 1924 trên nền Byzantine | Tháp bắc là Nhà nguyện Môsê (Đại diện Lề Luật), tháp nam là Nhà nguyện Êlia (Đại diện Ngôn Sứ), nối nhau bằng vòm đá lớn |
| Lòng nhà thờ ba gian (Nave) | Trung tâm tầng trệt; phong cách Romano-Syria thế kỷ 4 tới 6 | Tượng trưng cho Lều Thánh của Chúa Kitô; các vòm đá trắng cao vút đón ánh sáng dịu từ mái và cửa kính màu |
| Hầm mộ Tầng dưới (Lower Crypt) | Dưới gian cung thánh; tích hợp tường Byzantine và hậu cung Thập tự chinh | Vòm trần khảm 4 mầu nhiệm Biến Hình của Chúa Kitô (Giáng Sinh, Thánh Thể, Thập Giá, Phục Sinh) bởi Rodolfo Villani |
| Gian Cung thánh Tầng trên và Vòm hậu cung | Đầu phía đông tầng cao; hoàn thành năm 1924 | Đại bức khảm mosaic vàng của Rodolfo Villani khắc họa Chúa Giêsu Hiển Dung bay lên giữa Môsê, Êlia và 3 Tông đồ |
| Khu khảo cổ Đan viện Biển Đức thế kỷ 12 | Phía nam sân trước nhà thờ; niên đại năm 1099 tới 1263 | Bảo tồn móng tường đan viện thời Thập tự chinh, hầm nước cổ và đài quan sát toàn cảnh thung lũng Jezreel |
IVThế Đất Và Hướng
Trong truyền thống Công giáo, việc xây dựng Vương cung thánh đường trên đỉnh núi Tabor tuân theo vị trí của ba nhà nguyện Byzantine cổ đại và quy tắc định hướng phụng vụ Kitô giáo (*ad orientem*, quay bàn thờ về hướng Đông đón ánh sáng mặt trời mọc tượng trưng cho Đức Kitô là Mặt Trời Công Chính), hoàn toàn không áp dụng thuật phong thủy phương Đông. Tuy nhiên, xét về mặt địa mạo tự nhiên, núi Tabor là một trong những ngọn núi có hình thái kỳ vĩ và độc đáo nhất vùng Địa Trung Hải. Dưới đây là phần phân tích thế núi và trục ánh sáng của công trình dưới góc nhìn đối chiếu hình thế cổ truyền của thư viện.
Xét trên đại cục địa lý của miền Bắc Israel tại tọa độ 32,6861 độ vĩ bắc, 35,3928 độ kinh đông, núi Tabor (Har Tavor) là một khối núi đá vôi và đá dolomit thời kỳ Phấn Trắng có hình thái một đồi vòm bán cầu độc lập (Monadnock / Horst địa kiến tạo) vươn cao 575 mét so với mực nước biển và nhô cao hơn 400 mét so với mặt đồng bằng Thung lũng Jezreel (Esdraelon) bao quanh bốn phía. Trong phép xem hình thế sơn thủy cổ truyền, một ngọn núi đứng tách biệt hoàn toàn giữa đồng bằng rộng lớn, bốn mặt tròn đầy cân xứng như chiếc chuông úp hay vương miện thiên tử được gọi là độc sơn triều thiên (hoặc kim tinh tôn quý cách). Từ đỉnh núi Tabor nhìn ra bốn phương là cả một vạn lý minh đường không chút che khuất: phía tây là dãy núi Nazareth và núi Carmel, phía nam là đồi Moreh (nơi có làng Nain và Endor) cùng núi Gilboa, phía đông là thung lũng sông Jordan và cao nguyên Gilead bên kia sông, còn phía bắc là vùng đồi Thượng Galilee và đỉnh núi tuyết Hermon.
Xét về trục hướng nội cục của Vương cung thánh đường, toàn bộ công trình từ Cổng Gió, đại lộ hàng bách cho tới mặt tiền hai tháp và hậu cung được bố trí trên một trục thẳng tắp theo hướng tọa Đông hướng Tây (cổng mặt tiền quay về hướng Tây Tây Bắc khoảng 285 độ, còn gian cung thánh và bức khảm Chúa Hiển Dung đặt ở đầu phía Đông Đông Nam khoảng 105 độ), nằm ngay tại mỏm cao nhất phía đông nam của đỉnh núi. Cách bố trí này vừa giúp hậu cung phía đông đón trọn những tia nắng bình minh đầu tiên mọc lên từ phía bên kia thung lũng sông Jordan và Biển hồ Galilee, vừa cho phép ánh nắng chiều ngày 6 tháng 8 từ phía tây chiếu thẳng qua cửa sổ tròn mặt tiền để rọi sáng tấm sàn kính và hầm mộ bên dưới, tạo nên sự giao hòa tuyệt mỹ giữa thiên quang (ánh sáng trời) và địa mạch (đỉnh núi thiêng).
VĐại Lễ Chúa Hiển Dung Ngày 6 Tháng 8, Chầu Mình Thánh Chúa Dưới Ánh Sáng Tabor Và Các Cuộc Hành Hương
Được coi sóc bởi cộng đoàn các tu sĩ Tỉnh Dòng Phanxicô Bảo Quản Đất Thánh (đồng thời ở phía bắc đỉnh núi còn có Tu viện Chính thống giáo Hy Lạp kính ngôn sứ Êlia), Vương cung thánh đường Chúa Hiển Dung đón hàng trăm nghìn khách hành hương mỗi năm. Đỉnh cao phụng vụ của ngọn núi diễn ra vào ngày Đại lễ Chúa Hiển Dung (6 tháng 8 dương lịch), ngày lễ từng được Đức Giáo hoàng Callixtô III vào năm 1457 nâng lên hàng lễ buộc toàn cầu để tạ ơn chiến thắng bảo vệ thành Belgrade năm 1456.
| Thời điểm (Lịch phụng vụ) | Tên ngày lễ / Nghi thức | Ý nghĩa thần học | Thực hành tiêu biểu trên đỉnh núi Tabor |
|---|---|---|---|
| Ngày 6 tháng 8 hằng năm (Dương lịch) | Đại lễ Chúa Giêsu Hiển Dung (Festum Transfigurationis Domini) | Kỷ niệm biến cố Chúa Giêsu biến hình sáng láng trước ba Tông đồ trên núi Tabor | Đêm áp lễ có nghi thức Canh thức đọc Kinh Chiều và rước nến dọc đại lộ cây bách; sáng 6 tháng 8 cử hành Thánh lễ đại trào do Bề trên Bảo Quản Đất Thánh chủ sự và chiều 6 tháng 8 chiêm ngưỡng tia nắng chiếu xuyên sàn kính xuống hầm mộ. |
| Chúa nhật thứ hai Mùa Chay hằng năm | Chúa nhật Tin Mừng Chúa Hiển Dung trong Mùa Chay | Củng cố đức tin cho các tín hữu trên hành trình tiến về Tuần Thánh và Phục Sinh | Hàng năm vào Chúa nhật thứ hai Mùa Chay, toàn thể Giáo hội Công giáo hoàn vũ đều đọc bài Tin Mừng Chúa Hiển Dung trên núi Tabor; tại đền thánh diễn ra các cuộc hành hương tĩnh tâm mùa Chay. |
| Ngày 19 tháng 8 dương lịch (tức ngày 6 tháng 8 lịch Julius) | Đại lễ Chúa Hiển Dung theo Lịch Chính thống giáo Đông phương | Mừng ánh sáng thần linh núi Tabor và làm phép hoa quả đầu mùa | Tại Tu viện Chính thống giáo Hy Lạp liền kề ở sườn bắc đỉnh núi Tabor (và cả các đoàn hành hương Đông phương sang viếng Vương cung thánh đường), hàng vạn tín hữu tụ hội thức trắng đêm cầu nguyện và làm phép nho, táo đầu mùa. |
| Ngày 20 tháng 7 và ngày 4 tháng 9 hằng năm | Lễ Ngôn sứ Êlia (20/7) và Lễ Ngôn sứ Môsê (04/9) | Tôn kính hai vị đại ngôn sứ Cựu Ước đã hiện ra đàm đạo với Chúa Giêsu | Các tu sĩ Dòng Phanxicô cử hành Thánh lễ trọng thể ngay bên trong Nhà nguyện Ngôn sứ Êlia (ở tháp phía nam) và Nhà nguyện Ngôn sứ Môsê (ở tháp phía bắc) của Vương cung thánh đường. |
| Quanh năm theo lịch các đoàn hành hương | Thánh lễ Hành hương Quốc tế và Giờ Chầu Thánh Thể trên đỉnh núi | Lắng nghe lời Chúa Cha: Hãy vâng nghe lời Người | Các đoàn hành hương từ khắp thế giới đi xe trung chuyển lên đỉnh núi để dâng Thánh lễ tại Hầm mộ hoặc các nhà nguyện, đọc Kinh Lạy Cha và chiêm ngắm bức khảm vàng dưới mái vòm. |
Trải nghiệm lên đỉnh núi Tabor bằng những chuyến xe trung chuyển qua cung đường dốc ngoạn mục. Vì con đường nhựa dẫn từ chân núi (tại làng Shibli-Umm al-Ghanam và Daburiyya) lên tới đỉnh núi Tabor cao 575 mét có rất nhiều khúc cua tay áo hẹp và dốc đứng, các xe buýt du lịch cỡ lớn không được phép tự chạy lên đỉnh núi. Thay vào đó, mọi đoàn khách hành hương đều dừng tại trạm trung chuyển dưới chân núi để chuyển sang những chiếc xe minibus trung chuyển chuyên dụng (Tabor Taxis / Shuttles) do các tài xế bản địa giàu kinh nghiệm điều khiển. Hành trình khoảng mười phút uốn lượn qua rừng thông xanh mát với tầm nhìn mở rộng dần ra toàn cảnh thung lũng Jezreel phía dưới từ lâu đã trở thành một phần trải nghiệm đáng nhớ của mọi cuộc hành hương lên núi Chúa Hiển Dung.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Đỉnh núi Tabor (Har Tavor, độ cao 575 mét), phía trên làng Shibli-Umm al-Ghanam và Daburiyya, Thung lũng Jezreel, Hạ Galilee, Quận Bắc, Israel
- Đường tới
- Núi Tabor nằm ở phía đông vùng Hạ Galilee, cách thành phố Nazareth khoảng 17 tới 18 km về phía đông và cách thành phố Tiberias khoảng 30 km về phía tây nam, gần trục Quốc lộ 65 (Route 65). Bằng phương tiện công cộng từ Nazareth hoặc từ Afula / Tiberias, quý vị có thể đi các tuyến xe buýt chạy dọc Quốc lộ 65 (như tuyến số 442, 826 hoặc tuyến xe buýt địa phương số 352 từ Afula / Nazareth) tới ngã ba làng Shibli-Umm al-Ghanam (Shibli Junction / Mount Tabor Turnoff) dưới chân núi phía đông bắc. Từ chân núi tại làng Shibli, quý vị có thể đi xe taxi trung chuyển lên đỉnh núi hoặc nếu yêu thích đi bộ leo núi (trekking) có thể đi theo đường mòn đánh dấu khoảng 45 tới 60 phút lên tới Cổng Gió.
- Toạ độ
- 32.6861, 35.3928
Vương cung thánh đường Chúa Hiển Dung trên núi Tabor mở cửa đón khách hành hương hằng ngày hoàn toàn miễn phí (thường từ 8 giờ sáng tới 12 giờ trưa và từ 14 giờ tới 17 giờ chiều; đóng cửa đối với khách du lịch trong các giờ nghỉ trưa của tu viện). Khi vào trong khuôn viên đền thánh, du khách cần ăn mặc lịch sự kín đáo (áo có tay che kín vai, quần hoặc váy dài qua đầu gối; không mặc quần đùi, áo sát nách) và giữ tuyệt đối thinh lặng bên trong lòng nhà thờ cũng như dưới hầm mộ. Đừng quên bước lên hành lang sân thượng phía bên phải cổng nhà thờ (khu vực nhà khách Casanova) để ngắm toàn cảnh 360 độ thung lũng Jezreel. Nếu đi xe buýt đoàn lớn, đoàn sẽ dừng tại bãi đỗ xe chân núi ở làng Shibli để đi xe minibus trung chuyển lên thẳng Cổng Gió trên đỉnh núi (mất khoảng 8 tới 10 phút mỗi chiều).
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Vương cung thánh đường Chúa Hiển Dung trên núi Tabor
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Vương cung thánh đường trên đỉnh núi Tabor được xây dựng để kỷ niệm sự kiện gì?
Đền thánh được xây dựng để tôn kính biến cố Chúa Giêsu Hiển Dung (Biến Hình) được thuật lại trong ba sách Tin Mừng Nhất Lãm (Mátthêu 17:1-9, Máccô 9:2-8, Luca 9:28-36): trước khi bước vào cuộc Thương Khó tại Jerusalem, Chúa Giêsu đã đưa ba Tông đồ Phêrô, Giacôbê và Gioan lên đỉnh núi cao này và biến hình sáng láng trước mặt các ông, đàm đạo với hai ngôn sứ Môsê và Êlia trong khi tiếng Chúa Cha phán từ đám mây sáng: 'Đây là Con yêu dấu của Ta, các ngươi hãy vâng nghe lời Người'.
Câu nói của Thánh Phêrô về việc dựng 'ba cái lều' được thể hiện như thế nào trong kiến trúc của nhà thờ?
Trong biến cố Chúa Hiển Dung, Thánh Phêrô đã thưa với Chúa Giêsu xin dựng tại đây ba cái lều: một cho Chúa, một cho ông Môsê và một cho ông Êlia. Thời Byzantine thế kỷ thứ 4, người ta đã xây 3 ngôi nhà nguyện riêng biệt trên đỉnh núi. Khi kiến trúc sư Antonio Barluzzi thiết kế Vương cung thánh đường hiện nay (1919 tới 1924), ông đã tích hợp khéo léo Nhà nguyện ông Môsê ở tầng trệt tháp chuông phía bắc, Nhà nguyện ông Êlia ở tầng trệt tháp chuông phía nam, và lòng thánh đường chính ở giữa chính là Lều Thánh của Chúa Kitô.
Hiện tượng ánh sáng đặc biệt nào diễn ra bên trong nhà thờ vào đúng ngày lễ Chúa Hiển Dung 6 tháng 8?
Kiến trúc sư Antonio Barluzzi đã thiết kế một ô cửa sổ tròn ở mặt tiền phía tây thẳng hàng với một tấm sàn kính lớn đặt phía trước cầu thang dẫn xuống Hầm mộ. Hàng năm, đúng vào buổi chiều ngày 6 tháng 8 (ngày Đại lễ Chúa Hiển Dung theo lịch Công giáo), ánh nắng mặt trời từ hướng tây chiếu xuyên qua ô cửa sổ này, rọi thẳng vào tấm sàn kính và phản chiếu luồng sáng vàng rực rỡ xuống bàn thờ và bức tranh khảm trong Hầm mộ.
Bốn bức tranh khảm trên vòm trần của Hầm mộ Tầng dưới mang ý nghĩa gì?
Trên vòm trần của Hầm mộ Tầng dưới (nơi bảo tồn tường cổ thời Byzantine và Thập tự chinh), họa sĩ người Ý Rodolfo Villani đã thực hiện 4 bức tranh khảm mosaic trên nền vàng diễn tả 4 cuộc 'biến hình' (hiển dung) khác trong cuộc đời Chúa Giêsu bên cạnh biến cố trên núi Tabor: (1) Chúa Ngôi Lời mặc lấy xác phàm trong lễ Giáng Sinh; (2) Chúa ẩn mình dưới hình bánh rượu trong Bí tích Thánh Thể; (3) Chúa chịu khổ nạn trên Thập Giá như Chiên Thiên Chúa; và (4) Chúa sống lại vinh hiển trong ngày Phục Sinh.
Vì sao các xe buýt du lịch cỡ lớn không được chạy thẳng lên tới cổng Vương cung thánh đường trên núi Tabor?
Đỉnh núi Tabor cao 575 mét có sườn dốc đứng và con đường nhựa độc đạo dẫn từ làng Shibli dưới chân núi lên tới Cổng Gió trên đỉnh núi có nhiều khúc cua tay áo rất hẹp. Để bảo đảm an toàn giao thông, tất cả các xe buýt du lịch lớn đều phải đỗ tại bãi xe trung chuyển dưới chân núi (làng Shibli), từ đó hành khách chuyển sang hệ thống xe minibus trung chuyển chuyên dụng chạy mất khoảng 10 phút để lên tới cổng đền thánh.