Sáu làng Bàni còn lại của vùng nằm trên dải đồng và dải cát phía nam Phan Rang. Lương Tri thì không. Làng này lệch hẳn lên phía tây bắc, về phía chân núi, ở chỗ con sông Dinh vừa ra khỏi vùng đồi và bắt đầu tỏa nước xuống đồng. Đi tới đây, quý vị sẽ thấy cảnh làng khác hẳn: ruộng lúa ba vụ, mương dẫn nước, bóng núi ở phía sau.
Người trong làng gọi nơi này là palei Cang. Giữa xóm là một nếp nhà dài quét vôi sáng, tường phẳng, mái dốc hai phía, cửa đóng. Đó là Sang Magik của người Chăm Bàni, một trong bảy ngôi của cả vùng. Và có một điều mà bản đồ hành chính mới khiến người đọc phải nhìn lại: làng Chăm cổ này hiện nằm trong ranh giới một phường của thành phố cũ, tức là một palei nghìn năm tuổi đã lọt vào trong phố.
IPalei Cang Và Đạo Bàni
Xin nói rõ ngay từ đầu, vì đây là chỗ hay bị xếp nhầm nhất. Bàni là Hồi Giáo đã bản địa hóa của người Chăm, hình thành riêng ở vùng Nam Trung Bộ, và khác với Hồi Giáo Islam chính thống mà cộng đồng Chăm Islam cùng người Malay theo. Hai bên cùng một gốc, nhưng nếp hành đạo đã khác nhau từ lâu. Thư viện ghi lại chỗ khác nhau ấy như ghi một sự kiện, không xếp bên nào đúng hơn bên nào.
Tên Chăm của làng là palei Cang, ghi theo tài liệu cộng đồng Chăm và theo cách chú trên bản đồ. Một số tài liệu chép biến thể Ceng, cùng một tên và khác cách ghi tiếng Chăm bằng chữ quốc ngữ. Ngôi thánh đường được gọi là Magik Haluw Cang, trong đó chữ haluw là cách gọi ngôi nhà thờ phượng của người Bàni.
Vị trí của Lương Tri làm nên chỗ riêng của làng này. Đây là thôn Chăm duy nhất của xã Nhơn Sơn cũ, không nằm trong cụm làng Chăm đồng bằng phía nam mà đứng lẻ về phía tây bắc. Các bản tin đã công bố ghi làng có khoảng 730 hộ với hơn 3.300 nhân khẩu, canh tác chừng 65 hecta ruộng lúa ba vụ và 260 hecta đất hoa màu.
Theo giáo nghĩa Bàni, đấng tối cao là Po Awluah, tức Allah. Kinh sách chép bằng chữ Arab, được chức sắc học thuộc để tụng trong nghi lễ. Bên cạnh đó, người Bàni vẫn thờ cúng ông bà tổ tiên và vẫn giữ các vị thần tự nhiên trong hệ nghi lễ của mình.
Chỗ khác biệt lớn nhất nằm ở năm bổn phận của Hồi Giáo. Bên Islam chính thống, năm bổn phận ấy là việc của từng tín đồ, nên tín đồ tự hành lễ nhiều lần mỗi ngày và cả cộng đồng cùng giữ chay trọn tháng Ramadan. Bên Bàni, chúng được giao cho lớp chức sắc đảm nhận thay cho cả làng. Hàng chức sắc đi từ Acar là bậc nhập môn, lên Katip, Imâm rồi Gru tức Sư cả. Trong tháng Ramưwan, chính lớp này vào ở hẳn trong Sang Magik và giữ chay thay cho cả làng.
Một hệ quả ít được nói tới của cách tổ chức ấy: vì việc đạo hằng ngày không đặt lên vai từng người, nên cái đánh dấu một người Bàni chính thức trở thành tín đồ không phải việc hành lễ mỗi ngày, mà là một nghi lễ đời người làm một lần duy nhất. Nghi lễ ấy là phần riêng của bài này, và chúng tôi để ở mục lễ tiết.
Về mặt sử liệu, Hồi Giáo tới vương quốc Chăm Pa theo đường biển vào khoảng thế kỷ 9 tới thế kỷ 10. Qua nhiều thế kỷ, lớp Hồi Giáo ấy hòa với tín ngưỡng bản địa và với lớp Bàlamôn có sẵn, thành đạo Bàni như hôm nay.
Số liệu đã công bố cho biết địa bàn tỉnh Ninh Thuận cũ có khoảng 29.700 tín đồ Hồi Giáo Bàni, cư trú tại 12 thôn thuộc 6 xã, trải trên bốn huyện cũ là Ninh Hải, Ninh Sơn, Ninh Phước và Thuận Nam. Bảy thôn trong số ấy có Sang Magik riêng, gồm Văn Lâm, Phú Nhuận, Thành Tín, Lương Tri, An Nhơn, Phước Nhơn và Tuấn Tú. Lương Tri là ngôi duy nhất thuộc địa bàn huyện Ninh Sơn cũ, tức ngôi đứng lẻ nhất về phía trong đất liền.
Có một chỗ dễ hiểu lầm riêng ở Lương Tri, và nó đến từ địa giới. Sau lần sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, xã Nhơn Sơn cũ được nhập về phường Đô Vinh, tức là vào ranh đô thị của Phan Rang Tháp Chàm. Người đọc thấy chữ phường thường nghĩ tới phố, rồi suy ra rằng đây là một cộng đồng Chăm mới dời tới ven đô. Không phải. Đây là một palei cổ, có từ trước khi có bất cứ đường phố nào quanh nó, và ranh giới hành chính chỉ là thứ mới tới sau.
Thêm một điều đáng ghi cho đúng. Cũng trong phường Đô Vinh ấy có tháp Po Klong Garai, cụm tháp Chăm nổi tiếng nhất vùng. Nhưng tháp ấy là nơi thờ tự của người Chăm Bà La Môn, tức nhánh Ahier, còn Lương Tri là làng Chăm Bàni, tức nhánh Awal. Hai nhánh cùng là người Chăm, cùng nằm trong một hệ lễ nghi chung theo lối nghĩ Chăm, nhưng là hai cộng đồng tôn giáo riêng với hai hàng chức sắc riêng. Đứng trong cùng một phường không có nghĩa là cùng một đạo.
IILàng Cang Và Ngôi Sang Magik
Các tài liệu chúng tôi tra được không ghi một năm khởi dựng cụ thể cho ngôi Sang Magik này, và chúng tôi ghi rõ là chưa khảo được thay vì đưa ra một con số không có nguồn. Làng Chăm phần lớn không có văn bản khởi dựng: công trình gốc vốn làm bằng vật liệu mau hỏng và được dựng lại nhiều lần, nên niên đại được nhớ theo đời chức sắc chứ không theo văn bia. Ở đây không có văn bia nào để đọc.
- Thế kỷ 9 tới 10Hồi Giáo tới Chăm PaHồi Giáo theo đường biển tới vương quốc Chăm Pa cùng thương nhân và thợ thủ công cư trú dọc bờ biển miền Trung.
- Thế kỷ 13 tới 14Vùng đất có hệ thủy lợi cổTheo truyền thống Chăm, đập ngăn sông Dinh ở vùng này gắn với đời vua Po Klong Garai và đã đưa nước về đồng từ rất sớm. Đây là chuyện của truyền thống chứ không phải tài liệu biên niên.
- Thế kỷ 15 tới 17Hình thành đạo BàniLớp Hồi Giáo sớm hòa với tín ngưỡng bản địa và với lớp Bàlamôn có sẵn, thành đạo Bàni với hệ chức sắc và hệ lễ riêng.
- Thế kỷ 17Cặp Awal và AhierTheo truyền thống Chăm, việc dàn xếp cho hai nhánh Awal tức Bàni và Ahier tức Bà La Môn cùng nằm trong một hệ lễ nghi chung gắn với đời vua Po Rome.
- Trước giữa thế kỷ 20Sang Magik bằng vật liệu nhẹTheo mô tả của giới nghiên cứu, Sang Magik Bàni vốn làm mái tranh, vách tre, nền đất, dựng lại theo chu kỳ chứ không xây kiên cố.
- Các thập niên sauXây lại bằng vật liệu bềnPhần lớn Sang Magik Bàni được xây lại bằng gạch, mái ngói hoặc tôn, giữ nguyên bố cục cũ và chỉ đổi vật liệu.
- 2025Đổi địa giớiSau lần sắp xếp đơn vị hành chính, xã Nhơn Sơn cũ được nhập về phường Đô Vinh, tỉnh Khánh Hòa. Làng Chăm cổ này vì thế nằm trong ranh đô thị, còn nếp làng thì không đổi.
Một nét đời sống của Lương Tri đáng ghi vì nó khác hẳn các làng Bàni còn lại. Sáu làng kia sống trên đồng ven biển hoặc trên cát, còn Lương Tri sống bằng ruộng nước ba vụ nhờ hệ thống mương dẫn từ sông Dinh. Nghĩa là nhịp một năm của làng này đi theo nhịp mùa vụ lúa, chứ không theo nhịp đi buôn xa như Phước Nhơn hay nhịp vụ màu trên cát như Tuấn Tú. Cùng một tôn giáo, cùng một hàng chức sắc, nhưng nhịp sống dưới chân thì mỗi làng một khác, và điều đó cũng ảnh hưởng tới việc chọn ngày cho các lễ trong làng.
IIISang Magik Và Cách Nhận Ra
Người quen hình dung thánh đường Hồi Giáo là một khối có mái vòm, có tháp gọi lễ vươn cao, có biểu tượng trên chóp, khi tới đây sẽ thấy khác hẳn. Sang Magik của người Bàni là một nếp nhà dài mặt bằng chữ nhật, tường xây phẳng, mái dốc hai phía, không vòm, không tháp. Nó đứng lẫn giữa nhà dân, không tường bao cao, không sân hành lễ rộng.
Và vì Lương Tri nằm gần tháp Po Klong Garai, xin nói thêm một chỗ dễ lẫn nữa về hình khối. Sang Magik Bàni không phải tháp Chăm. Tháp Chăm là đền thờ xây gạch của người Chăm Bà La Môn, có thân tháp cao thu dần lên đỉnh, có cửa giả ba mặt và tượng thờ bên trong. Sang Magik thì thấp, nằm ngang, không tượng, không hoa văn thờ tự. Hai loại công trình ấy thuộc hai tôn giáo khác nhau của cùng một dân tộc.
Một gian dài không chia cột giữa, nền để trống hoàn toàn, không ghế, không tượng, không tranh. Chỗ ngồi của chức sắc phân theo bậc, xếp thành hàng ngang hướng về phía tường hành lễ.
Chức sắc quay về hướng qiblah, tức hướng về Kaaba ở Mecca, từ đất Việt Nam là hướng tây. Đây là quy tắc mà Bàni giữ chung với Islam chính thống và là điều người dựng không có quyền chọn khác.
Sang Magik đóng cửa gần trọn năm, chỉ mở trong tháng Ramưwan và các kỳ lễ theo lịch Chăm. Đây là chỗ khác rõ nhất so với masjid của Islam chính thống vốn mở quanh năm.
Bên cạnh khối nhà chính có nhà bếp và chỗ nghỉ, vì trong tháng Ramưwan các vị Acar ở lại trong khuôn viên và mọi việc ăn nghỉ đều diễn ra tại chỗ.
Nguyên gốc là mái tranh, vách tre, nền đất. Từ nửa sau thế kỷ 20 phần lớn được xây lại bằng gạch, mái ngói hoặc tôn, quét vôi sáng màu. Bố cục giữ nguyên, chỉ đổi vật liệu.
Có một điều về kiến trúc Bàni mà chỉ thấy được khi đi theo lịch lễ chứ không thấy khi đứng ngắm. Nhiều nghi lễ quan trọng nhất của người Bàni không diễn ra trong Sang Magik, mà diễn ra tại nhà, trong những cái rạp dựng tạm ngoài sân rồi dỡ đi sau lễ. Nghĩa là kiến trúc thờ tự của cộng đồng này gồm hai lớp: một lớp cố định là ngôi nhà dài giữa xóm, và một lớp dựng lên rồi dỡ xuống theo từng đời người. Lớp thứ hai không nằm trên bản đồ nào cả.
IVThế Đất Và Hướng
Xin nói thẳng trước khi đọc tiếp. Hồi Giáo không dạy phong thủy, và đạo Bàni cũng vậy. Hướng hành lễ trong một ngôi Sang Magik được định theo qiblah, tức hướng về Kaaba ở Mecca, từ đất Việt Nam là hướng tây. Đó là một quy tắc bắt buộc của đạo chứ không phải một phép xem đất, và người dựng không có quyền chọn khác.
Phần dưới đây hoàn toàn là chỗ đối chiếu của thư viện dành cho bạn đọc quen lối cổ truyền của người Việt, không phải điều giáo lý dạy và cũng không phải điều người dựng thánh đường tính tới.
Trước hết là thế đất của làng, và đây là chỗ Lương Tri khác hẳn sáu làng Bàni kia. Các làng kia nằm trên đồng ven biển hoặc trên cát, tức là nơi mà con mắt cổ truyền thấy trống trải, không có gì để tựa. Lương Tri thì nằm ở chỗ đất bắt đầu đổi dáng: phía sau là vùng đồi núi phía tây bắc, phía trước là đồng mở ra hướng đông nam, còn nước thì lấy từ con sông vừa ra khỏi vùng đồi. Đọc theo lối cũ thì đây gần với thế tựa sơn hướng thủy hơn bất cứ làng Bàni nào khác, tuy cần nói ngay rằng người Chăm chọn chỗ này vì nước chứ không vì sách địa lý.
Thứ hai là nước. Vùng này có hệ thủy lợi cổ ngăn sông đưa nước về đồng, và theo truyền thống Chăm thì công trình ấy gắn với đời vua Po Klong Garai. Trong phép cũ, nước là thứ tụ khí, và một làng đặt ở đầu nguồn nước tưới thì được coi là đón mạch. Điều này có một hệ quả thấy được: đây là làng Bàni duy nhất làm lúa ba vụ, tức làng duy nhất có thể nuôi người quanh năm mà không phải đi xa.
Thứ ba là chỗ mà con mắt cũ thấy khó xử nhất, và là chỗ riêng của cộng đồng này. Trong lễ trưởng thành Bàni, gia đình dựng hai cái rạp trong sân nhà, một chính đặt về phía đông và một phụ đặt về phía tây, trong khi việc hành lễ ở Sang Magik lại quay về phía tây. Nghĩa là trong cùng một tôn giáo có hai lớp phương vị chồng lên nhau: lớp bản địa lấy đông và tây làm cặp đối xứng của một nghi lễ đời người, lớp Hồi Giáo lấy một hướng duy nhất là hướng về thánh địa. Thầy địa lý người Việt sẽ thấy lạ, nhưng đây không phải chuyện hướng tốt xấu, mà là dấu vết của hai lớp truyền thống nằm chồng lên nhau mà không xóa nhau.
Cuối cùng là một palei cổ trong ranh phố. Phép xem đất cổ truyền vốn đọc làng theo cách làng đứng trong đồng ruộng: đường vào, lũy tre, bến nước, gò mả họ. Khi ranh giới đô thị trùm lên, những mốc ấy vẫn còn nhưng khung để đọc thì đã đổi. Chúng tôi ghi chỗ vênh ấy đúng như nó là, và nhắc lại rằng cách đọc cũ ở đây chỉ để đối chiếu chứ không phải để phán xét.
VLễ Trưởng Thành, Ramưwan Và Vòng Bảy Làng
Lịch lễ của một làng Bàni có ba lớp. Lớp thứ nhất là Ramưwan, tháng lễ lớn nhất trong năm. Lớp thứ hai là Suk Yeng, kỳ lễ theo chu kỳ nhiều năm và luân phiên giữa các làng. Lớp thứ ba, thường bị bỏ qua trong các bài viết về thánh đường, là lễ đời người, và chính lớp này mới là thứ đưa một người Chăm vào hàng tín đồ Bàni.
Lễ trưởng thành Karoh và Katat
Người Chăm Bàni có một nghi lễ làm một lần duy nhất trong đời, đánh dấu việc một người được cộng đồng và thần linh công nhận là đã trưởng thành và là tín đồ Bàni chính thức. Lễ cho con gái gọi là Karoh, có bản phiên âm là Kareh. Lễ cho con trai gọi là Katat, có bản phiên âm là Katal.
Lễ được tổ chức tại nhà chứ không tại Sang Magik. Gia đình dựng rạp ngoài sân, rào quanh, chia một rạp chính đặt về phía đông và một rạp phụ đặt về phía tây. Chức sắc Bàni tới chủ trì, đọc kinh và làm phép, trong đó có nghi thức tẩy uế bằng nước và nghi thức cắt một lọn tóc của người thụ lễ. Sau lễ, người ấy mới được coi là đủ tư cách làm những việc trọng của đời mình, kể cả việc lập gia đình.
Có mấy chỗ nguồn ghi vênh nhau mà chúng tôi phải nói rõ. Về tuổi, có bản ghi lễ dành cho các em gái từ chín tới mười lăm tuổi và nên làm trước tuổi dậy thì, có bản ghi lễ dành cho thanh niên từ mười lăm tuổi trở lên. Về thời điểm trong năm, có bản ghi các tháng ba, tám và mười theo lịch Chăm, có bản ghi các tháng sáu, tám và mười. Về người chủ trì, có bản ghi Sư cả làm chủ lễ cùng năm vị chức sắc, có bản ghi bên nam do một vị chức sắc chuyên trách còn bên nữ có các bà cao niên trong làng phụ giúp. Các nguồn thống nhất ở chỗ đây là lễ làm một lần trong đời, làm tại nhà, và là điều kiện để thành tín đồ chính thức. Chúng tôi ghi đủ các cách và không chốt một con số.
| Kỳ lễ | Nhịp | Nội dung và nơi diễn ra |
|---|---|---|
| Karoh và Katat | Một lần trong đời | Lễ trưởng thành, tổ chức tại nhà trong rạp dựng tạm, chức sắc tới chủ trì. Sau lễ, người thụ lễ thành tín đồ Bàni chính thức. |
| Tảo mộ trước Ramưwan | Mỗi năm | Các gia đình ra nghĩa trang dòng họ với bánh trái và trầu cau, làm lễ mời ông bà tổ tiên về nhà. Đây là lớp nghi lễ bản địa mà Ramadan của Islam chính thống không có. |
| Dâng cơm gia tiên | Mỗi năm | Bày mâm cúng trong nhà, mỗi người thân đã khuất được dâng một mâm chay và một mâm mặn. |
| Tháng Ramưwan | Mỗi năm | Các vị Acar làm lễ tẩy uế rồi vào ở hẳn trong Sang Magik, giữ chay và hành lễ thay cho cả làng. Trong tháng này cửa thánh đường mới mở. |
| Chặng giữ chay nghiêm | Trong Ramưwan | Nguồn ghi vênh nhau về độ dài, có bản ghi ba ngày đầu tháng, có bản ghi mười lăm tới mười sáu ngày. Trong chặng ấy chức sắc không ăn uống khi mặt trời chưa lặn và không về nhà. |
| Lễ Suk Yeng | Ba năm một lần | Kỳ lễ tổ chức tại thánh đường vào ngày thứ sáu, luân phiên qua bảy làng Bàni của vùng. Có đánh trống khai lễ, cầu kinh và dâng lễ vật. |
| Rija Nagar | Mỗi năm | Lễ đầu năm theo lịch Chăm, diễn ra ở từng làng, là một trong các dịp mà chức sắc của cả hai nhánh Chăm cùng có mặt. |
Về lễ Suk Yeng, xin nói thêm một chỗ mà Lương Tri là ví dụ tốt. Kỳ lễ này không diễn ra ở một làng lẻ mà đi tuần tự qua bảy làng Bàni của vùng, mỗi làng một đợt vào một ngày thứ sáu, kéo dài nhiều tuần liền. Mùa lễ năm 2025 mở ở Thành Tín cuối tháng Mười và khép ở Tuấn Tú giữa tháng Mười Hai. Các nguồn phiên âm tên kỳ lễ khác nhau, có bản ghi là Suk Yơng.
Điều đáng nói là Lương Tri nằm lệch hẳn khỏi cụm sáu làng kia, cách xa hơn nhiều, vậy mà vẫn là một mắt của cái vòng ấy. Nghĩa là bảy Sang Magik không đứng riêng lẻ mà làm thành một vòng tròn liên làng, và khoảng cách địa lý không tách một làng ra khỏi vòng. Với một palei cổ nay đã lọt vào ranh đô thị, cái vòng bảy làng có lẽ là thứ giữ làng ở lại trong cộng đồng của mình chắc hơn cả địa giới.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thôn Lương Tri, xã Nhơn Sơn cũ, nay là phường Đô Vinh, tỉnh Khánh Hòa
- Đường tới
- Làng nằm ở thôn Lương Tri, xã Nhơn Sơn cũ, nay thuộc phường Đô Vinh, tỉnh Khánh Hòa, về phía tây bắc Phan Rang trên trục đi Ninh Sơn cũ. Sang Magik nằm giữa xóm chứ không ở rìa làng, nên cần hỏi đường người trong làng.
- Toạ độ
- 11.626, 108.9285
Đây là nơi thờ phượng của một cộng đồng cụ thể, không phải điểm tham quan, và thánh đường đóng cửa gần như trọn năm. Lệ thường được nhắc: hỏi ý người trong làng trước khi vào khuôn viên, ăn mặc kín đáo, bỏ giày trước khi bước vào lòng nhà, không mang thức ăn đồ uống vào trong. Trong tháng Ramưwan và kỳ lễ Suk Yeng, phần nghi lễ thuộc về các vị chức sắc, xin quý vị đứng ngoài và không chụp ảnh khi chưa được phép. Lễ trưởng thành là việc riêng của từng gia đình, không phải lễ mở cho khách, xin quý vị đừng tự ý ghé vào sân nhà có dựng rạp.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Thánh đường Bàni Lương Tri
Contribute photos, information or video for Luong Tri Bani MosqueThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Thánh đường Bàni Lương Tri ở đâu
Ở thôn Lương Tri, xã Nhơn Sơn cũ, nay thuộc phường Đô Vinh, tỉnh Khánh Hòa, về phía tây bắc Phan Rang. Người Chăm gọi làng là palei Cang, có tài liệu chép biến thể Ceng, và gọi ngôi thánh đường là Magik Haluw Cang. Đây là làng Bàni nằm xa nhất về phía trong đất liền.
Lễ trưởng thành của người Chăm Bàni là lễ gì
Là nghi lễ làm một lần duy nhất trong đời, đánh dấu một người được công nhận là tín đồ Bàni chính thức. Lễ cho con gái gọi là Karoh, lễ cho con trai gọi là Katat. Lễ tổ chức tại nhà trong rạp dựng tạm chứ không tại thánh đường, có chức sắc tới chủ trì, đọc kinh, tẩy uế và cắt một lọn tóc của người thụ lễ.
Lễ Karoh tổ chức cho tuổi nào
Các nguồn ghi vênh nhau. Có bản ghi lễ dành cho các em gái từ chín tới mười lăm tuổi và nên làm trước tuổi dậy thì, có bản ghi lễ dành cho thanh niên từ mười lăm tuổi trở lên. Các nguồn thống nhất rằng đây là lễ làm một lần trong đời và là điều kiện để thành tín đồ chính thức.
Lương Tri có liên quan tới tháp Po Klong Garai không
Cùng nằm trong phường Đô Vinh nhưng là hai tôn giáo khác nhau. Tháp Po Klong Garai là đền thờ của người Chăm Bà La Môn, tức nhánh Ahier. Lương Tri là làng Chăm Bàni, tức nhánh Awal, có Sang Magik riêng và hàng chức sắc riêng. Đứng trong cùng một phường không có nghĩa là cùng một đạo.
Chăm Bàni và Chăm Islam khác nhau thế nào
Chăm Islam theo lối chính thống, tín đồ tự hành lễ nhiều lần mỗi ngày và cả cộng đồng cùng giữ chay trọn tháng Ramadan, thánh đường mở quanh năm. Chăm Bàni giao năm bổn phận cho lớp chức sắc thực hành thay, giữ thêm lớp tảo mộ và dâng cơm tổ tiên, và Sang Magik chỉ mở trong kỳ lễ.