Đi vào Phú Nhuận giữa một ngày thường, quý vị sẽ khó nhận ra thánh đường nếu không có người chỉ. Không mái vòm, không tháp cao, không biểu tượng trên nóc. Chỉ là một nếp nhà dài quét vôi sáng, tường phẳng, cửa đóng, đứng giữa xóm như một ngôi nhà hội của làng. Cửa ấy đóng gần trọn năm.
Nhưng đi thêm vài trăm bước trong cùng cái làng ấy, quý vị lại gặp một nếp sinh hoạt khác hẳn: những gia đình theo lối Bà La Môn Chăm, có hệ chức sắc riêng, lịch lễ riêng và đền tháp riêng. Hai cộng đồng, hai tôn giáo, cùng một làng, cùng một dòng họ mẹ trong nhiều trường hợp. Ở vùng Ninh Thuận cũ, chỉ có Phú Nhuận là như vậy.
IBàni Là Đạo Gì Và Làng Này Khác Ở Đâu
Xin nói rõ ngay từ đầu, vì đây là chỗ hay bị xếp nhầm nhất và xếp nhầm thì chạm tới cả hai bên. Bàni là Hồi Giáo đã bản địa hóa của người Chăm, hình thành riêng ở vùng Nam Trung Bộ, và khác với Hồi Giáo Islam chính thống mà cộng đồng Chăm Islam ở miền Tây cùng người gốc Mã Lai theo. Hai bên cùng nhận một gốc nhưng đã đi thành hai lối từ nhiều thế kỷ. Thư viện ghi lại chỗ khác nhau ấy như ghi một dữ kiện, không xếp bên nào đúng hơn bên nào.
Nơi thờ của người Bàni gọi là Sang Magik, tức nhà thờ phượng, chứ không gọi là masjid. Người Việt quanh vùng quen gọi là chùa Bàni, một cách gọi đã thành nếp tuy không đúng chữ. Tên Chăm của làng là palei Bhauh Thơng, và tên ấy vẫn được người trong làng dùng khi nói với nhau.
Theo giáo nghĩa Bàni, đấng tối cao là Po Awluah, tức Allah. Bên cạnh đó, người Bàni vẫn thờ cúng ông bà tổ tiên và vẫn giữ các vị thần tự nhiên trong hệ nghi lễ của mình. Chính chỗ ấy là điểm phân biệt lớn nhất với Islam chính thống, vốn không có lớp thờ cúng tổ tiên.
Khác biệt thứ hai nằm ở ai gánh bổn phận. Năm cột trụ của Hồi Giáo gồm tuyên tín, cầu nguyện năm lần mỗi ngày, bố thí, giữ chay tháng chay và hành hương Mecca. Bên Islam chính thống, đó là bổn phận của từng tín đồ. Bên Bàni, chúng được giao cho lớp chức sắc đảm nhận thay cho cả làng. Tín đồ thường không lễ năm lần mỗi ngày, và việc hành hương Mecca hầu như không đặt ra.
Hàng chức sắc đi từ Acar là bậc mới thụ phong, lên Katip, lên Imâm, cao nhất là Gru hay Po Gru, tức Sư cả. Một số bản khảo còn kể thêm bậc Mưdin lo điều hành nghi lễ và dạy kinh, thành năm bậc. Các nguồn ghi tên và số bậc có chỗ khác nhau, tùy theo cách phiên âm tiếng Chăm và tùy theo từng vùng, nên chúng tôi ghi cả hai cách kể. Cả lớp người ấy được tín đồ quen gọi gọn là các vị Acar.
Điều làm Phú Nhuận đáng có một trang riêng nằm ở chỗ khác: đây là palei duy nhất có hai tôn giáo cùng sống đan xen trong một làng. Một bên là người Chăm Bàni với ngôi Sang Magik, một bên là người Chăm Bà La Môn với hệ chức sắc và hệ đền tháp riêng. Hai bên ở lẫn nhà, chung đường đi, chung đồng ruộng, mà giữ hai lịch lễ riêng biệt.
Muốn hiểu vì sao hai bên sống chung được, phải biết một cặp chữ trong lối nghĩ Chăm. Người Chăm tự gọi nhóm theo Bàni là Awal và nhóm theo Bà La Môn là Ahier. Awal nghĩa là trước, Ahier nghĩa là sau. Hai chữ ấy không xếp hạng cao thấp mà định vị hai nửa của một chỉnh thể: trong lối nghĩ Chăm, Awal và Ahier là cặp âm dương phải có nhau thì đời sống nghi lễ mới đủ. Nhiều nghi lễ lớn của người Chăm cần chức sắc của cả hai bên cùng có mặt mới thành.
Vì vậy ở Phú Nhuận, cái mà người ngoài nhìn vào tưởng là hai tôn giáo cạnh tranh nhau thì người trong làng lại coi là hai nửa của một nếp sống. Đây là chỗ mà một làng nói ra được điều mà sách vở phải giải thích dài dòng.
Ba chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu, không nhằm chê trách ai.
Thứ nhất, Bàni và Islam không phải một. Người Chăm Islam ở miền Tây Nam Bộ và ở thành phố thực hành theo Hồi Giáo Islam chính thống: mọi tín đồ tự lễ nguyện năm lần mỗi ngày, cả cộng đồng cùng nhịn chay trọn tháng Ramadan, masjid mở quanh năm. Người Chăm Bàni thực hành theo lối đã mô tả ở trên. Gọi chung cả hai là người Chăm theo đạo Hồi thì đúng về gốc nhưng che mất chỗ khác nhau đáng kể.
Thứ hai, thánh đường Bàni không phải chùa. Người địa phương và cả báo chí đôi khi gọi là chùa Bàni, có lẽ vì nơi này đóng cửa quanh năm và chỉ mở khi có lễ. Nhưng trong Sang Magik không có tượng, không có bàn thờ Phật, không có sư. Tên đúng trong tiếng Chăm là Sang Magik, nghĩa là nhà thờ phượng.
Thứ ba, hai cộng đồng trong làng không phải hai nhóm người khác nhau về tộc. Cả hai đều là người Chăm, cùng tiếng nói, cùng lối ăn mặc, nhiều trường hợp cùng dòng họ. Cái khác nằm ở hệ nghi lễ và hệ chức sắc, không nằm ở gốc gác.
IILàng Phú Nhuận Và Ngôi Thánh Đường
Các tài liệu chúng tôi tra được không ghi một năm khởi dựng cụ thể cho ngôi thánh đường này, và chúng tôi để trống chỗ ấy thay vì đưa ra một con số không có nguồn. Điều này không lạ với Sang Magik của người Bàni: công trình gốc vốn làm bằng vật liệu mau hỏng, dựng lại nhiều lần, nên niên đại được nhớ theo đời chức sắc chứ không theo văn bia. Các mốc dưới đây vì vậy ghi theo dòng lịch sử của cả đạo Bàni và của làng, không ghi theo lần xây cất.
- Thế kỷ 9 tới 10Hồi Giáo tới Chăm PaHồi Giáo theo đường biển tới vương quốc Chăm Pa cùng thương nhân và thợ thủ công nước ngoài cư trú dọc bờ biển miền Trung.
- Thế kỷ 15 tới 17Hình thành đạo BàniLớp Hồi Giáo sớm hòa với tín ngưỡng bản địa và với lớp Bà La Môn có sẵn, thành đạo Bàni với hệ chức sắc và hệ lễ riêng.
- Thế kỷ 17Cặp Awal và AhierTheo truyền thống Chăm, việc dàn xếp cho hai nhánh Awal và Ahier cùng nằm trong một hệ lễ nghi chung gắn với đời vua Po Rome. Đây là chuyện của truyền thống chứ không phải tài liệu biên niên.
- Lâu đờiLàng Phú Nhuận hình thànhLàng Chăm Phú Nhuận, tên Chăm là palei Bhauh Thơng, có từ lâu đời, với hai cộng đồng Bàni và Bà La Môn cùng cư trú đan xen.
- Trước giữa thế kỷ 20Thánh đường bằng vật liệu nhẹSang Magik của người Bàni theo mô tả của giới nghiên cứu vốn làm mái tranh, vách tre, nền đất, dựng lại theo chu kỳ chứ không xây kiên cố.
- Nửa sau thế kỷ 20Xây lại bằng vật liệu bềnPhần lớn thánh đường Bàni được xây lại bằng gạch và mái ngói hoặc mái tôn, giữ nguyên bố cục cũ nhưng đổi vật liệu.
- Hiện nayMột làng hai đạoLàng vẫn giữ nếp hai cộng đồng cùng cư trú, mỗi bên một hệ chức sắc và một lịch lễ, đây là trường hợp duy nhất trong các làng Chăm ở vùng Ninh Thuận cũ.
Xin ghi thêm một chỗ về tên gọi. Các nguồn dùng nhiều chữ khác nhau cho cùng một cộng đồng: Bàni, Chăm Bàni, Hồi Giáo Bàni, Awal, Bani Awal. Ngay trong giới nghiên cứu và trong chính cộng đồng cũng có những ý khác nhau về việc nên dùng chữ nào. Thư viện ghi nhận cả các cách gọi ấy và không đứng về cách gọi nào.
Tên làng cũng vậy. Tên hành chính là thôn Phú Nhuận, trước thuộc xã Phước Thuận, nay thuộc xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa. Tên Chăm là palei Bhauh Thơng. Hai tên cùng chỉ một chỗ, và trong các bản khảo cứu về làng Chăm thì tên Chăm mới là tên dùng để định vị.
IIISang Magik Trông Ra Sao
Người quen hình dung thánh đường Hồi Giáo là một khối có mái vòm, có tháp gọi lễ vươn cao, có biểu tượng trên chóp, khi tới đây sẽ thấy khác hẳn. Sang Magik của người Bàni là một nếp nhà dài mặt bằng chữ nhật, tường xây phẳng, mái dốc hai phía, không vòm, không tháp. Nó đứng lẫn giữa nhà dân, không tường bao cao, không sân hành lễ rộng.
Một gian dài không chia cột giữa, nền để trống hoàn toàn, không ghế, không tượng, không tranh. Chỗ ngồi của chức sắc phân theo bậc, xếp thành hàng ngang hướng về phía tường hành lễ.
Khi hành lễ, chức sắc quay về hướng qiblah, tức hướng về Kaaba ở Mecca, từ đất Việt Nam là hướng tây. Đây là quy tắc mà Bàni giữ chung với Islam chính thống.
Nguyên gốc là mái tranh, vách tre, nền đất. Từ nửa sau thế kỷ 20 phần lớn được xây lại bằng gạch, mái ngói hoặc tôn, quét vôi sáng màu. Bố cục giữ nguyên, chỉ đổi vật liệu.
Bên cạnh khối nhà chính thường có nhà bếp và chỗ nghỉ, vì trong tháng Ramưwan các chức sắc ở lại trong khuôn viên và mọi việc ăn nghỉ đều diễn ra tại chỗ.
Thánh đường đóng cửa gần trọn năm, chỉ mở trong tháng Ramưwan và các kỳ lễ theo lịch Chăm. Đây là chỗ khác rõ nhất so với masjid của Islam chính thống vốn mở quanh năm.
Về khối nhà, Sang Magik của người Bàni và masjid của người Chăm Islam thực ra khá giống nhau, đều mang dấu kiến trúc Chăm cổ hòa với nét Hồi Giáo, và đều quay theo hướng qiblah. Cái khác nằm ở lối hành lễ chứ không ở khối nhà. Người đi xem kiến trúc đơn thuần sẽ khó phân biệt, còn người hỏi về nhịp mở cửa và về ai là người giữ giới thì phân biệt được ngay.
Ở Phú Nhuận còn một điều đáng để ý về bố cục của cả làng. Vì hai cộng đồng ở đan xen chứ không chia khu, ngôi Sang Magik không đứng ở giữa một khu Bàni riêng mà đứng giữa một xóm có cả nhà của người bên kia. Nơi thờ tự của cộng đồng Bà La Môn thì lại không nằm trong làng, vì lễ lớn của bên ấy diễn ra ở các đền tháp ngoài làng. Hai bên vì thế không tranh chỗ trên mặt bằng, và đó là một phần lý do vì sao sống chung được lâu.
IVThế Đất Và Hướng
Xin nói thẳng trước khi đọc tiếp. Hồi Giáo không dạy phong thủy, và đạo Bàni cũng vậy. Hướng hành lễ trong một ngôi Sang Magik được định theo qiblah, tức hướng về Ngôi Đền Kaaba ở Mecca, từ đất Việt Nam là hướng tây. Đó là một quy tắc của phụng vụ chứ không phải một phép xem đất, và người dựng không có quyền chọn khác.
Phần dưới đây hoàn toàn là chỗ đối chiếu của thư viện dành cho bạn đọc quen lối cổ truyền của người Việt, không phải điều giáo lý dạy và cũng không phải điều người dựng thánh đường tính tới.
Trước hết là chỗ đặt trong làng. Sang Magik không đứng ngoài rìa mà nằm giữa xóm, chung một mặt bằng với nhà ở, không tường bao cao. Đọc theo lối cũ của người Việt thì đây là thế tụ giữa, tức lấy điểm thờ tự làm tâm của khu dân cư thay vì đẩy nó ra chỗ riêng biệt. Đình làng Bắc Bộ cũng hay đặt như vậy, tuy lý do của hai bên chẳng liên quan gì tới nhau.
Thứ hai, và đây là chỗ riêng của Phú Nhuận. Ở một làng có hai tôn giáo đan xen, người xem đất theo lối cũ sẽ đi tìm ngay một thứ: hai nơi thờ tự đặt thế nào với nhau. Phép cũ rất chú ý tới chuyện hai điểm thờ trong cùng một khu, thường lo chuyện xung chiếu, tranh hướng hay áp nhau. Ở đây bài toán ấy không xảy ra, vì hai bên không đặt hai khối nhà đối mặt trong làng: cộng đồng Bà La Môn hành lễ lớn ở đền tháp ngoài làng, còn trong làng chỉ có một ngôi Sang Magik. Cái mà phép cũ coi là một thế khó thì thực tế đã tự giải bằng cách khác, không phải bằng la bàn mà bằng nếp lễ.
Thứ ba là hướng tây theo con mắt cổ truyền. Trong phép cũ, phương Tây thuộc hành Kim, ứng với mùa thu và với sự thu liễm, và nhà ở nước ta ít khi chuộng hướng ấy vì nắng chiều gắt. Ở đây hướng tây được giữ không vì khí hậu, không vì thế đất, mà vì Mecca nằm về phía đó. Đây là một ví dụ rõ về việc một quy tắc tôn giáo đứng trên mọi tính toán về đất.
Cuối cùng là chỗ trống bên trong. Người Việt xem đất thường tính cả bài trí bên trong: hương án ở đâu, hậu cung sâu bao nhiêu, khí đi từ cửa vào tới bàn thờ ra sao. Ở đây không có gì để tính, vì lòng nhà để trống hoàn toàn. Cái rỗng ấy là chủ ý: nơi này không thờ vật, chỉ dành cho việc quay mặt về một hướng, và trong phần lớn thời gian trong năm thì ngay cả việc ấy cũng không diễn ra vì cửa đóng.
VLịch Lễ Của Một Làng Hai Đạo
Ở Phú Nhuận, lịch lễ trong năm phải đọc thành hai cột. Một cột của người Bàni, tính theo lịch Chăm và xoay quanh tháng Ramưwan. Một cột của người Bà La Môn, cũng tính theo lịch Chăm nhưng xoay quanh các kỳ lễ ở đền tháp. Hai cột ấy không trùng nhau, và cả làng quen sống với cả hai.
| Kỳ lễ | Cộng đồng giữ lễ | Nội dung và nơi diễn ra |
|---|---|---|
| Trước tháng Ramưwan | Người Bàni | Các gia đình ra nghĩa trang dòng họ tảo mộ, rồi dâng cơm mời ông bà tổ tiên về nhà. Đây là lớp nghi lễ bản địa mà Ramadan của Islam chính thống không có. |
| Tháng Ramưwan | Người Bàni | Các vị chức sắc làm lễ tẩy uế rồi vào ở hẳn trong thánh đường, giữ giới và hành lễ thay cho cả làng. Trong tháng này thánh đường mới mở cửa. |
| Lễ Suk Yơng | Người Bàni | Kỳ lễ tổ chức tại thánh đường vào các ngày thứ sáu, theo chu kỳ vài năm một lần, do Sư cả và các vị Acar chủ trì. Có đánh trống khai lễ, cầu kinh, dâng lễ vật cùng hai mâm cơm chay và mặn. |
| Rija Nagar đầu năm | Cả hai cộng đồng | Lễ đầu năm theo lịch Chăm, diễn ra ở từng làng, là một trong các dịp mà chức sắc của cả hai bên cùng có mặt. |
| Katê | Người Bà La Môn | Kỳ lễ lớn nhất trong năm của người Chăm Bà La Môn, diễn ra ở các đền tháp ngoài làng rồi về tới từng nhà. |
| Tang ma và lễ dòng họ | Từng bên riêng | Mỗi cộng đồng giữ nghi thức tang ma và lễ dòng họ theo hệ chức sắc của mình, đây là chỗ hai bên tách bạch rõ nhất. |
Có một chỗ nguồn ghi vênh nhau mà chúng tôi phải nói rõ, đó là độ dài chặng giữ giới nghiêm ngặt của chức sắc trong tháng Ramưwan. Có nguồn ghi các vị giữ chay nghiêm ba ngày đầu tháng rồi chuyển sang nếp nhẹ hơn. Có nguồn ghi chặng nghiêm kéo dài mười lăm tới mười sáu ngày. Điểm các nguồn thống nhất là chức sắc không giữ chay trọn tháng theo lối Ramadan của Islam chính thống, và việc giữ giới ấy là làm thay cho cả cộng đồng chứ không phải việc của từng tín đồ. Chúng tôi ghi cả hai cách và không chốt một con số.
Tên kỳ lễ Suk Yơng cũng được các nguồn phiên âm khác nhau, có bản ghi là Suk Yeng. Cả hai cùng chỉ một kỳ lễ, khác nhau ở cách ghi tiếng Chăm bằng chữ quốc ngữ.
Chỗ khác biệt rõ nhất so với Ramadan của Islam chính thống vì thế gồm hai điểm. Một là ai giữ chay: bên Islam là toàn thể tín đồ trưởng thành, bên Bàni là lớp chức sắc giữ thay. Hai là lớp thờ cúng tổ tiên: phần tảo mộ và mời ông bà về nhà là phần mở đầu bắt buộc của Ramưwan. Hai điều ấy nói gọn cả câu chuyện bản địa hóa mà đạo Bàni đã trải qua trong nhiều thế kỷ.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thôn Phú Nhuận, xã Phước Thuận cũ, nay là xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa
- Đường tới
- Làng nằm ở thôn Phú Nhuận, xã Phước Thuận cũ, nay thuộc xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa, trên dải đồng ven biển phía nam Phan Rang. Thánh đường nằm giữa xóm chứ không ở rìa làng, nên cần hỏi đường người trong làng.
- Toạ độ
- 11.5848, 108.9495
Đây là nơi thờ phượng của một cộng đồng cụ thể, không phải điểm tham quan, và thánh đường đóng cửa gần như trọn năm. Lệ thường được nhắc: hỏi ý người trong làng trước khi vào khuôn viên, ăn mặc kín đáo, bỏ giày trước khi bước vào lòng nhà, không mang thức ăn đồ uống vào trong. Trong tháng Ramưwan, phần nghi lễ thuộc về các vị chức sắc, xin quý vị đứng ngoài và không chụp ảnh khi chưa được phép. Vì trong làng có hai cộng đồng theo hai đạo khác nhau, xin đừng đem lệ của bên này áp cho bên kia.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Thánh đường Bàni Phú Nhuận
Contribute photos, information or video for Phu Nhuan Bani TempleThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
đạo bàni khác đạo islam ở chỗ nào
Bàni là Hồi Giáo đã bản địa hóa của người Chăm. Ba chỗ khác rõ nhất: người Bàni thờ Po Awluah tức Allah mà vẫn thờ cúng tổ tiên, các bổn phận của đạo do lớp chức sắc đảm nhận thay cho cả làng chứ không phải từng tín đồ, và thánh đường chỉ mở trong kỳ lễ chứ không mở quanh năm như masjid.
palei bhauh thơng là ở đâu
Là tên Chăm của làng Phú Nhuận, nay thuộc xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa, trước thuộc xã Phước Thuận. Đây là làng Chăm duy nhất trong vùng Ninh Thuận cũ có hai tôn giáo cùng sống đan xen trong một làng, người Chăm Bàni và người Chăm Bà La Môn.
sang magik là gì
Là tên trong tiếng Chăm của nơi thờ phượng của người Bàni, nghĩa là nhà thờ phượng. Người Việt quanh vùng quen gọi là chùa Bàni, nhưng trong đó không có tượng, không có bàn thờ Phật và không có sư. Người Chăm Islam thì gọi nơi thờ của mình là masjid.
ai giữ chay trong tháng ramưwan của người bàni
Lớp chức sắc, tức các vị Acar, Katip, Imâm và Sư cả, giữ giới thay cho cả cộng đồng. Các vị vào ở trong thánh đường và hành lễ suốt tháng. Tín đồ thường lo phần tảo mộ, dâng cơm mời tổ tiên và giữ kiêng cữ trong làng. Nguồn ghi vênh nhau về độ dài chặng giữ giới nghiêm ngặt, có bản ghi ba ngày đầu, có bản ghi mười lăm ngày.
một làng có hai tôn giáo thì sống chung ra sao
Ở Phú Nhuận, người Chăm Bàni và người Chăm Bà La Môn ở lẫn nhà, chung đường đi và ruộng đồng, mà giữ hai lịch lễ riêng. Trong lối nghĩ Chăm, hai bên được gọi là Awal và Ahier, tức trước và sau, là cặp phải có nhau thì đời sống nghi lễ mới đủ, nên nhiều nghi lễ lớn cần chức sắc cả hai bên cùng có mặt.