VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Ba Vàng

Bảo Quang tự 寶光寺

Ngôi chùa trên sườn núi Thành Đẳng mà văn bia gắn với một thiền sư Trúc Lâm đầu thế kỷ 18, nền cũ lộ ra năm 1987 và được dựng lại trong những năm 2011 tới 2014.

Văn bia
Ất Dậu
niên hiệu Vĩnh Thịnh, tức năm 1705
Nền cũ
1987
tìm lại trên núi Thành Đẳng
Dựng lại
2011 tới 2014
theo VietNamNet

Con đường từ thung lũng Uông Bí đi ngược lên sườn núi Thành Đẳng, qua mấy khúc quanh thì dừng ở một khoảng đất bằng giữa lưng chừng núi. Phía trước là dãy mái chùa dựng theo lối Bắc Bộ, phía sau là núi, phía dưới là thung lũng. Trước cửa chùa có một tấm bia đá, và chính tấm bia ấy là chỗ bắt đầu của câu chuyện về nơi này.

Đây là chùa Ba Vàng, tên chữ là Bảo Quang tự. Văn bia ghi chùa dựng năm Ất Dậu niên hiệu Vĩnh Thịnh đời Lê Dụ Tông, tức năm 1705, và ghi vị khai sáng là một thiền sư thuộc Thiền phái Trúc Lâm. Nền chùa cũ bị lãng quên nhiều đời, được tìm lại năm 1987, và công trình quý vị thấy hôm nay được dựng lại trong những năm 2011 tới 2014.

ITên Bảo Quang Và Tên Ba Vàng

Chùa có hai tên, theo lệ quen của chùa miền Bắc: một tên nôm để gọi hằng ngày và một tên chữ ghi trên biển. Tên chữ là Bảo Quang tự. Bảo là quý báu, quang là ánh sáng, Bảo Quang là ánh sáng quý. Chữ Hán ở đầu trang chép theo tên ghi trong bảng dữ kiện của thư viện, chúng tôi chưa đối chiếu với biển hay văn bia của chùa.

Tên nôm là Ba Vàng. Trang của chùa giải tên này là ba ngôi báu, tức Phật, Pháp, Tăng. Đây là lời giải của chùa, chúng tôi chưa thấy nguồn độc lập nào khảo tên nôm này, nên ghi đúng là theo lời chùa. Hai tên đặt cạnh nhau thì cùng một ý: chữ bảo trong Bảo Quang và chữ ba ngôi báu trong lời giải Ba Vàng đều trỏ về Tam Bảo.

Theo giáo nghĩa

Theo giáo nghĩa Phật Giáo, Tam Bảo là ba ngôi báu mà người quy y nương tựa. Phật là bậc giác ngộ, người chỉ đường. Pháp là giáo lý, con đường được chỉ ra. Tăng là đoàn thể những người cùng tu theo con đường ấy. Lời quy y Tam Bảo là bước đầu của người theo đạo Phật, ở mọi tông phái. Gọi ba ngôi ấy là báu vì trong kinh, chúng quý hơn mọi của cải thế gian.

Chỗ hay hiểu lầm

Nghe tên Ba Vàng, nhiều người đoán chùa có ba pho tượng vàng hay ba món đồ bằng vàng. Không có nguồn nào ghi như thế. Chữ vàng ở đây, theo lời giải của chùa, là cách nói ba ngôi quý, không phải kim loại. Cũng như nhiều chùa miền Bắc khác, tên nôm của chùa thường giữ một lớp nghĩa riêng của địa phương, và cách giải tên nôm luôn nên đọc với chút dè dặt khi chưa có văn bản cổ đi kèm.

IIVăn Bia, Nền Cũ Và Việc Dựng Lại

Theo VietNamNet, tấm bia đá trước cửa chùa ghi chùa dựng năm Ất Dậu niên hiệu Vĩnh Thịnh đời vua Lê Dụ Tông, và ghi vị khai sáng là một đại thiền sư thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, hiệu Trúc Lâm Ma Ha Sa Môn Tuệ Bích Phổ Giác. Chúng tôi không tra được năm sinh, năm mất hay hành trạng của ngài có nguồn, nên chỉ ghi đúng những gì văn bia chép.

Chữ Ma Ha Sa Môn trong hiệu là danh xưng tôn kính dành cho người xuất gia, ma ha là lớn, sa môn là người tu hành. Chữ Trúc Lâm đứng đầu hiệu cho biết vị thiền sư nhận mình thuộc dòng thiền do Phật hoàng Trần Nhân Tông lập ở Yên Tử.

Theo sử liệu

Niên đại của chùa là chỗ nguồn ghi vênh. Văn bia ghi năm Ất Dậu niên hiệu Vĩnh Thịnh. VietNamNet quy năm ấy ra dương lịch là 1706, nhưng niên hiệu Vĩnh Thịnh bắt đầu năm 1705 và năm Ất Dậu đầu niên hiệu ứng với năm 1705. Chúng tôi ghi theo can chi của văn bia và quy ra năm 1705.

Trang của chùa và báo Công nghiệp và Môi trường cho rằng chùa có từ thời Trần, thế kỷ 13, dựa trên dấu tích kiến trúc. Chúng tôi chưa thấy công bố khảo cổ nào xác nhận điều này, nên ghi là theo lời chùa. Như vậy mốc chắc chắn nhất có văn bản là đầu thế kỷ 18, còn thuyết thời Trần là một giả thuyết.

  • Thế kỷ 13Thuyết chùa có từ thời Trần
    Theo trang của chùa và báo Công nghiệp và Môi trường, dựa trên dấu tích kiến trúc. Chưa có công bố khảo cổ.
  • 1705Năm dựng ghi trên văn bia
    Bia đá ghi năm Ất Dậu niên hiệu Vĩnh Thịnh đời Lê Dụ Tông. VietNamNet quy là 1706, can chi ứng với 1705.
  • 1987Tìm lại nền chùa cũ
    Một người dân đi tìm trâu lạc thấy gạch ngói và đồ đá cổ trên núi, từ đó nền chùa được biết tới trở lại.
  • 1993Trùng tu
    Chùa được trùng tu trên nền cũ, theo trang của chùa và báo Công nghiệp và Môi trường.
  • 2011Khởi dựng lại
    Chùa bắt đầu được xây mới, gồm chính điện, lầu chuông, lầu trống, hành lang La Hán, thư viện và khu tăng xá, theo VietNamNet.
  • 2014Hoàn thành công trình mới
    Các hạng mục xây mới hoàn thành, tạo nên diện mạo chùa hiện nay, theo VietNamNet.

Chuyện nền chùa lộ ra nhờ một người đi tìm trâu lạc năm 1987 là chi tiết trang của chùa và báo Công nghiệp và Môi trường cùng chép. Nó cho thấy trong khoảng thời gian dài giữa văn bia đầu thế kỷ 18 và năm 1987, ngôi chùa trên núi đã không còn được nhiều người biết tới. Về việc xếp hạng, báo Công nghiệp và Môi trường ghi chùa được tỉnh Quảng Ninh công nhận di tích lịch sử văn hóa và danh thắng cấp tỉnh năm 2007. Chúng tôi chưa tra được số hiệu quyết định nên chưa đối chiếu được với văn bản chính thức.

Nếu quý vị muốn đọc về gốc của Thiền phái Trúc Lâm, nơi Phật hoàng tu hành và các chùa tháp trên núi Yên Tử, xin xem bài Quần thể Yên Tử, cách đây chừng 11 cây số.

IIIBố Cục Thờ Tự Theo Lối Bắc Bộ

Công trình hôm nay được dựng trong những năm 2011 tới 2014. Theo VietNamNet, chùa gồm chính điện, lầu chuông, lầu trống, hành lang La Hán, thư viện và khu tăng xá. Gian thờ trong chính điện chia theo lối quen của chùa Bắc Bộ: ba gian bái đường ở phía trước và một gian hậu cung ở phía sau. Trong chùa có ban thờ Phật, ban thờ Mẫu và ban thờ Đức Ông, cùng các pho tượng gỗ như Tam Thế, Quan Âm và A Di Đà.

Chính điện

Ba gian bái đường phía trước, một gian hậu cung phía sau, theo lối chùa Bắc Bộ mà VietNamNet tả.

Hệ tượng Phật

Các pho tượng gỗ như Tam Thế, Quan Âm và A Di Đà, đặt theo thứ bậc của điện Phật Bắc Tông.

Ban thờ Mẫu và Đức Ông

Ban thờ Mẫu theo tín ngưỡng thờ Mẫu người Việt và ban thờ Đức Ông, vị giữ chùa, theo lệ chùa miền Bắc.

Lầu chuông và lầu trống

Hai lầu đứng hai bên, giữ nhịp chuông trống trong các thời khóa của chùa.

Hành lang La Hán

Dãy hành lang đặt tượng các vị A La Hán, những đệ tử đã chứng quả của Đức Phật.

Thư viện và tăng xá

Nơi giữ kinh sách và nơi ở của người tu, theo VietNamNet.

Mấy lớp thờ trong chùa cần đọc theo đúng vai. Bộ tượng Tam Thế là ba vị Phật của quá khứ, hiện tại và vị lai, thường đặt ở hàng cao nhất trong điện Phật miền Bắc. A Di Đà là vị Phật cõi Tây Phương mà người tu Tịnh Độ niệm danh hiệu. Quan Âm là vị Bồ Tát của lòng từ bi. Ở chùa miền Bắc, Đức Ông thường được hiểu là trưởng giả Cấp Cô Độc, người đã mua vườn dâng Đức Phật làm nơi tu học, nay được thờ như vị giữ chùa. Còn ban thờ Mẫu là nét của tín ngưỡng thờ Mẫu người Việt, có mặt trong rất nhiều chùa Bắc Bộ theo lệ tiền Phật hậu Mẫu.

Lối chùa có cả ban thờ Phật lẫn ban thờ Mẫu không phải điều riêng của nơi này. Nó là dấu vết của một quá trình dài, trong đó đạo Phật ở miền Bắc sống chung với tín ngưỡng bản địa và nhường cho tín ngưỡng ấy một chỗ đứng trong khuôn viên chùa.

Chỗ hay hiểu lầm

Vì văn bia ghi năm 1705 và có thuyết chùa có từ thời Trần, không ít người nghĩ những gì mình thấy ở chùa là công trình cổ. Không phải. Các công trình hiện có được xây mới trong những năm 2011 tới 2014. Phần mang dấu cổ là nền chùa được tìm lại năm 1987 và tấm văn bia trước cửa. Người muốn tìm dấu tích đầu thế kỷ 18 nên bắt đầu từ tấm bia ấy.

IVThế Đất Và Hướng

Xin quý vị đọc phần dưới đây như một cách nhìn của thư viện theo phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trên văn bia hay trong tài liệu của chùa. Văn bia không nói vị thiền sư khai sáng chọn đất theo phép nào. Chúng tôi chỉ đối chiếu thế núi hôm nay với những điều sách xưa thường nói về đất chùa trên núi.

Thế đất và hướng

Chùa ở lưng chừng núi Thành Đẳng, theo VietNamNet ở độ cao chừng 340 mét, nhìn xuống thung lũng Uông Bí. Đây là thế mà sách phong thủy quen gọi là tựa sơn: sau lưng là phần núi cao hơn làm chỗ dựa, trước mặt là vùng đất thấp mở rộng. Khoảng thung lũng phía dưới là minh đường, chỗ đất mở để khí tụ lại trước mặt.

Chọn lưng chừng núi thay vì đỉnh núi hay chân núi cũng có lý của nó theo lối nghĩ cổ. Đỉnh núi lộng gió, khí dễ tán. Chân núi gần đường, gần chợ, khó giữ sự tĩnh. Lưng chừng núi vừa có chỗ dựa vừa có tầm nhìn, lại cách xa nhịp sống dưới đồng bằng một quãng vừa đủ. Đó là vị trí quen của nhiều chùa thiền miền Bắc, nơi người tu cần tĩnh mà vẫn không cắt hẳn liên hệ với dân cư dưới chân núi.

Xét rộng hơn, núi Thành Đẳng thuộc vùng núi phía tây Quảng Ninh, cùng một miền với dãy Yên Tử, đất tổ của Thiền phái Trúc Lâm. Một thiền sư nhận mình thuộc dòng Trúc Lâm chọn dựng chùa trên một sườn núi trong vùng ấy là điều hợp với truyền thống tu trên núi của dòng thiền này. Đó là cách đọc của chúng tôi, văn bia không nói lý do chọn đất.

Các nguồn chúng tôi đọc không ghi hướng chính điện, nên chúng tôi không nêu hướng. Điều có thể nói là chùa quay mặt về phía thung lũng, lưng tựa vào núi, đúng với thế mà người xưa ưa chọn cho một ngôi chùa trên sườn núi.

VLễ Trong Năm

Chúng tôi không tra được lịch lễ riêng của chùa có nguồn. Bảng dưới đây ghi các lễ theo nếp chung của chùa Bắc Tông miền Bắc, tính theo âm lịch. Quý vị nên hiểu đây là khung chung, không phải lịch riêng của chùa Ba Vàng.

Các lễ chính theo nếp chung của chùa Bắc Tông miền Bắc, tính theo âm lịch. Nguồn: Theo nếp chung của Phật Giáo Bắc Tông Việt Nam, không phải lịch lễ riêng đã tra được của chùa..
Ngày âm lịchLễNội dung
Rằm tháng GiêngThượng nguyênLễ đầu năm, Phật tử về chùa lễ Phật và tụng kinh cầu an.
Rằm tháng 4Phật ĐảnLễ mừng ngày Đức Phật đản sinh, có nghi thức tắm Phật.
Từ rằm tháng 4 tới rằm tháng 7An cư kiết hạBa tháng người xuất gia ở yên một chỗ tu học theo giới luật.
Rằm tháng 7Vu LanLễ báo hiếu cha mẹ, cũng là ngày tự tứ kết thúc mùa an cư.
Mùng 8 tháng ChạpPhật thành đạoTưởng niệm ngày Đức Phật giác ngộ dưới cội bồ đề.

Vì chùa nhận gốc Trúc Lâm, người đọc có thể muốn biết thêm về các ngày lễ của chính dòng thiền ấy, như lễ tưởng niệm Phật hoàng Trần Nhân Tông. Những ngày lễ đó gắn với Yên Tử và được viết trong bài riêng về Yên Tử, chúng tôi không chép lại ở đây.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Lưng chừng núi Thành Đẳng, phường Uông Bí (phường Quang Trung cũ, thành phố Uông Bí cũ), tỉnh Quảng Ninh. Nghị quyết 1679/NQ-UBTVQH15 năm 2025 gộp phường Quang Trung, Thanh Sơn, Yên Thanh và một phần Trưng Vương thành phường Uông Bí
Đường tới
Chùa ở lưng chừng núi Thành Đẳng, phường Uông Bí (phường Quang Trung cũ, thành phố Uông Bí cũ), tỉnh Quảng Ninh. Từ thung lũng Uông Bí có đường lên sườn núi tới chùa.
Toạ độ
21.0682, 106.7645
Khi tới nơi

Chùa Ba Vàng là nơi thờ tự có người tu, lệ của nhà chùa là lệ phải theo. Quý vị nên ăn mặc kín đáo, bỏ mũ và cởi giày dép trước khi vào chính điện, đi nhẹ nói khẽ ở khu tăng xá. Tấm văn bia trước cửa là hiện vật gắn với niên đại của chùa, xin đừng chạm tay hay tì lên bia. Đường lên chùa là đường núi, xin đi đúng lối sẵn có.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Ba Vàng

Contribute photos, information or video for Ba Vang Pagoda

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

Chùa Ba Vàng ở đâu

Chùa ở lưng chừng núi Thành Đẳng, phường Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, thuộc phường Quang Trung cũ của thành phố Uông Bí cũ. Năm 2025, phường Quang Trung được gộp cùng một số phường khác thành phường Uông Bí. Chùa nhìn xuống thung lũng Uông Bí.

Chùa Ba Vàng có từ bao giờ

Văn bia trước cửa chùa ghi năm Ất Dậu niên hiệu Vĩnh Thịnh đời Lê Dụ Tông, tức năm 1705. VietNamNet quy là 1706. Trang của chùa cho rằng chùa có từ thời Trần, nhưng chưa có công bố khảo cổ. Nền cũ được tìm lại năm 1987, công trình hiện nay dựng từ 2011 tới 2014.

Chùa Ba Vàng thuộc thiền phái nào

Chùa thuộc Phật Giáo Bắc Tông và nhận gốc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Theo VietNamNet, văn bia ghi vị khai sáng là thiền sư hiệu Trúc Lâm Ma Ha Sa Môn Tuệ Bích Phổ Giác. Năm sinh mất và hành trạng của ngài chưa tra được có nguồn.

Tên Ba Vàng nghĩa là gì

Theo lời giải của chùa, Ba Vàng là ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng, tức Tam Bảo. Tên chữ của chùa là Bảo Quang tự, nghĩa là ánh sáng quý. Chưa có nguồn độc lập nào khảo tên nôm Ba Vàng, nên lời giải này nên hiểu là theo lời chùa.

Chùa Ba Vàng và Yên Tử có liên quan gì

Văn bia ghi vị khai sáng chùa thuộc Thiền phái Trúc Lâm, dòng thiền do Phật hoàng Trần Nhân Tông lập ở Yên Tử. Chùa cách Quần thể Yên Tử chừng 11 cây số và là một ngôi chùa riêng trên núi Thành Đẳng, có văn bia và lịch sử riêng.

Đọc Tiếp