Con đường từ thung lũng Uông Bí đi ngược lên sườn núi Thành Đẳng, qua mấy khúc quanh thì dừng ở một khoảng đất bằng giữa lưng chừng núi ở độ cao chừng 340 mét. Phía trước là dãy mái chùa dựng theo lối Bắc Bộ nhìn xuống dòng sông Bạch Đằng uốn lượn phía xa, phía sau là sườn núi che chở. Nơi đây còn lưu lại cây hương đá dựng trước cửa chùa và tấm bia đá đặt trên lưng rùa, hai hiện vật mở đầu câu chuyện lịch sử của chốn tổ này.
Đây là chùa Ba Vàng, tên chữ là Bảo Quang tự. Cây hương đá và văn bia ghi dấu ngôi chùa từ năm Ất Dậu niên hiệu Vĩnh Thịnh đời Lê Dụ Tông, tức năm 1705, gắn với vị tổ khai sơn thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Nền chùa cũ ẩn trong rừng cây nhiều đời, được phát hiện lại năm 1987, qua hai lần dựng tạm năm 1988 và 1993 trước khi kiến thiết thành quần thể lớn từ năm 2011 tới 2014.

ITên Bảo Quang và tên Ba Vàng
Chùa có hai tên theo lệ quen của chùa miền Bắc, gồm một tên Nôm để gọi hằng ngày và một tên chữ ghi trên biển. Tên chữ là Bảo Quang tự. Bảo là quý báu, quang là ánh sáng, Bảo Quang là ánh sáng quý. Chữ Hán ở đầu trang chép theo tên chữ lưu truyền của chùa.
Tên Nôm là Ba Vàng. Trang thông tin của chùa giải tên này là ba ngôi báu, tức Phật, Pháp, Tăng. Đây là lời giải của nhà chùa, thư viện chưa thấy nguồn độc lập nào khảo riêng tên Nôm này nên ghi đúng theo lời chùa. Hai tên đặt cạnh nhau mang cùng một ý khi chữ bảo trong Bảo Quang và ba ngôi báu trong lời giải Ba Vàng đều trỏ về Tam Bảo.
Theo giáo nghĩa Phật Giáo, Tam Bảo là ba ngôi báu mà người quy y nương tựa. Phật là bậc giác ngộ, người chỉ đường. Pháp là giáo lý, con đường được chỉ ra. Tăng là đoàn thể những người cùng tu theo con đường ấy. Lời quy y Tam Bảo là bước đầu của người theo đạo Phật ở mọi tông phái. Kinh điển gọi ba ngôi ấy là báu vì quý hơn mọi của cải thế gian.
Nghe tên Ba Vàng, nhiều người đoán chùa có ba pho tượng vàng hay ba món đồ bằng vàng. Không có nguồn sử liệu nào ghi như thế. Chữ vàng ở đây, theo lời giải của chùa, là cách nói dân gian chỉ ba ngôi quý chứ không phải kim loại. Cũng như nhiều chùa miền Bắc khác, tên Nôm thường giữ một lớp nghĩa riêng của địa phương và nên đọc với sự cẩn trọng khi chưa có văn bản cổ giải nghĩa trực tiếp.
IIDi vật đá, nền cũ và việc dựng lại
Theo VietNamNet và trang thông tin của chùa, hai hiện vật đá cổ còn lưu lại gồm một cây hương đá (thiên đài trụ) dựng trước cửa chùa khắc tên chùa, tên núi cùng niên đại năm Ất Dậu niên hiệu Vĩnh Thịnh đời vua Lê Dụ Tông, và một tấm bia đá đặt trên lưng rùa khắc linh vị thiền sư khai sơn thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, hiệu Trúc Lâm Ma Ha Sa Môn Tuệ Bích Phổ Giác (hiện lưu giữ tại nhà bảo tàng của chùa). Các nguồn hiện có không ghi rõ năm sinh, năm mất của ngài nên thư viện chỉ chép đúng danh hiệu trên bia.
Chữ Ma Ha Sa Môn trong hiệu là danh xưng tôn kính dành cho người xuất gia, ma ha là lớn, sa môn là người tu hành. Chữ Trúc Lâm đứng đầu hiệu cho biết vị thiền sư thuộc dòng thiền do Phật hoàng Trần Nhân Tông lập ở Yên Tử.
Niên đại đầu thế kỷ 18 có chỗ ghi khác nhau một năm giữa các bài viết. Cây hương đá ghi năm Ất Dậu niên hiệu Vĩnh Thịnh. Bài viết trên VietNamNet quy năm ấy ra dương lịch là 1706, trong khi trang thông tin chính thức của chùa Ba Vàng ghi lần trùng tu của Thiền sư Tuệ Bích Phổ Giác diễn ra năm 1705. Xét theo lịch biểu triều Lê, niên hiệu Vĩnh Thịnh bắt đầu từ tháng Tư năm Ất Dậu 1705, nên can chi Ất Dậu khớp với năm 1705.
Trang thông tin của chùa và báo Công nghiệp và Môi trường cho biết khi khảo cổ nền chùa cũ đã tìm thấy lớp gạch thời Trần thế kỷ 13 cùng các hiện vật gốm men ngọc và ngói mũi hài dưới lòng đất, từ đó nhận định ngôi cổ tự khởi nguồn từ thời Trần và được Thiền sư Tuệ Bích Phổ Giác trùng tu năm 1705.
- Thế kỷ 13Dấu tích thời TrầnTheo trang của chùa và báo Công nghiệp và Môi trường, dưới nền đất có lớp gạch ngói và gốm thời Trần.
- 1705Dựng lại thời Lê Dụ TôngCây hương đá ghi năm Ất Dậu niên hiệu Vĩnh Thịnh (trang chùa ghi 1705, VietNamNet quy là 1706), gắn với Thiền sư Tuệ Bích Phổ Giác.
- 1987Tìm lại nền chùa cũMột lão nông đi tìm đàn bò lạc phát hiện phế tích gạch ngói, bia đá và cây hương đá cổ trong bụi rậm trên núi.
- 1988Dựng lại bằng gỗNgôi chùa được trùng tu tôn tạo bước đầu bằng gỗ trên nền phế tích cũ.
- 1993Xây lại bằng gạch ngóiChính quyền và nhân dân địa phương xây lại chùa bằng gạch ngói và xi măng trên diện tích 95 mét vuông, gồm ba gian thiền đường, cửa vòm, một gian tự điện, nhà ở và trai đường.
- 2007Di tích cấp tỉnhỦy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh xếp hạng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp tỉnh theo Quyết định số 4424/QĐ-UBND ngày 28 tháng 11 năm 2007.
- 2011 - 2014Đại trùng tu quy mô lớnKhởi công tháng 1 năm 2011 và khánh thành ngày 9 tháng 3 năm 2014 với Đại Hùng Bảo Điện hai tầng rộng 4.500 mét vuông cùng hệ thống lầu chuông, lầu trống, hành lang La Hán, bảo tàng, thư viện và nhà thờ Tam Tổ Trúc Lâm.
Chuyện phế tích chùa lộ ra nhờ một lão nông đi tìm đàn bò lạc năm 1987 được trang thông tin của chùa ghi lại rõ ràng. Qua hai lần dựng lại quy mô nhỏ vào năm 1988 bằng gỗ và năm 1993 bằng gạch ngói rộng 95 mét vuông, đến ngày 28 tháng 11 năm 2007, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh ban hành Quyết định số 4424/QĐ-UBND công nhận chùa Ba Vàng là di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp tỉnh.
Nếu quý vị muốn đọc về gốc của Thiền phái Trúc Lâm, nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông tu hành cùng hệ thống chùa tháp trên núi Yên Tử, xin xem bài Quần thể Yên Tử cách đây chừng 11 cây số.
IIIBố cục thờ tự theo lối Bắc Bộ
Quần thể hiện nay được khởi công xây dựng từ tháng 1 năm 2011 và khánh thành vào tháng 3 năm 2014, tiếp đó khánh thành nhà thờ Tam Tổ Trúc Lâm vào tháng 9 năm 2014. Theo VietNamNet, trung tâm của chùa là Đại Hùng Bảo Điện hai tầng có diện tích sàn 4.500 mét vuông, kết hợp cùng lầu chuông (112 mét vuông), lầu trống (112 mét vuông), hành lang La Hán (200 mét vuông), nhà bảo tàng (700 mét vuông), thư viện (700 mét vuông), thiền đường (960 mét vuông) và khu nhà tăng (1.600 mét vuông). Gian thờ trong chính điện chia theo lối chùa Bắc Bộ với ba gian bái đường phía trước và một gian hậu cung phía sau, bên trong tôn trí các pho tượng gỗ kích thước lớn như tượng Phật A Di Đà, Tam Thế, Quan Âm cùng chiếc trống độc mộc bằng gỗ đỏ nguyên khối.
Chính điện hai tầng rộng 4.500 mét vuông, chia ba gian bái đường phía trước và một gian hậu cung phía sau theo lối chùa Bắc Bộ.
Các pho tượng gỗ lớn gồm Phật A Di Đà, Tam Thế, Quan Âm đặt theo thứ bậc Bắc Tông, cùng trống độc mộc bằng gỗ đỏ nguyên khối.
Ban thờ Mẫu, ban thờ Đức Ông theo lệ chùa miền Bắc và khu nhà thờ Tam Tổ Trúc Lâm khánh thành tháng 9 năm 2014.
Hai lầu đối xứng hai bên, mỗi lầu rộng 112 mét vuông, giữ nhịp chuông trống trong các thời khóa.
Dãy hành lang rộng 200 mét vuông chạy dọc hai bên, đặt tượng các vị A La Hán.
Nhà bảo tàng và thư viện mỗi nơi rộng 700 mét vuông (nơi lưu giữ bia đá cổ và hiện vật), thiền đường 960 mét vuông và khu nhà tăng 1.600 mét vuông.
Mấy lớp thờ trong chùa cần đọc theo đúng vai. Bộ tượng Tam Thế là ba vị Phật của quá khứ, hiện tại và vị lai, thường đặt ở hàng cao nhất trong điện Phật miền Bắc. A Di Đà là vị Phật cõi Tây Phương mà người tu Tịnh Độ niệm danh hiệu. Quan Âm là vị Bồ Tát của lòng từ bi. Ở chùa miền Bắc, Đức Ông thường được hiểu là trưởng giả Cấp Cô Độc, người đã mua vườn dâng Đức Phật làm nơi tu học, nay được thờ như vị hộ trì cảnh chùa. Còn ban thờ Mẫu là nét của tín ngưỡng thờ Mẫu người Việt, có mặt trong nhiều chùa Bắc Bộ theo lệ tiền Phật hậu Mẫu.
Lối chùa có cả ban thờ Phật, nhà thờ Tổ Trúc Lâm lẫn ban thờ Mẫu phản ánh quá trình đạo Phật ở miền Bắc gắn bó với dòng thiền bản địa và dung hợp tín ngưỡng dân gian trong khuôn viên chùa.
Vì di vật đá ghi năm 1705 và có dấu tích gạch ngói thời Trần, không ít khách hành hương nghĩ những tòa điện đồ sộ hiện thấy là kiến trúc cổ. Thực tế toàn bộ các công trình lớn hiện nay được xây mới từ năm 2011 tới 2014. Phần di vật cổ còn giữ lại từ đầu thế kỷ 18 là cây hương đá trước cửa chùa và tấm bia đá đặt trên lưng rùa cùng các mảnh gốm, gạch ngói lưu tại nhà bảo tàng của chùa.
IVThế đất và hướng
Xin quý vị đọc phần dưới đây như một cách nhìn của thư viện theo phong thủy cổ truyền, đối chiếu địa thế thực tế trên núi Thành Đẳng với những mô tả cảnh quan trong nguồn sử liệu.
Chùa tọa trên sườn tây lưng chừng núi Thành Đẳng ở độ cao chừng 340 mét, mặt nhìn về phía tây và tây nam xuống trung tâm Uông Bí. Đây là thế đất tọa sơn hướng thủy điển hình, sau lưng có đỉnh núi Thành Đẳng làm hậu chẩm vững chãi, hai bên sườn núi vươn dài ôm vòng lấy khuôn viên tạo thế tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ che chắn gió lớn.
Phía trước mặt chùa, thung lũng Uông Bí mở rộng ra làm minh đường thoáng đãng, xa hơn là dòng sông Bạch Đằng uốn lượn như dải lụa tụ thủy phía trước và nhìn ra phía biển Đồ Sơn, Hải Phòng ở chân trời. Chọn lưng chừng núi thay vì đỉnh núi hay chân núi vừa tránh được gió lộng tán khí trên đỉnh cao, vừa tách khỏi nhịp ồn ào nơi phố thị dưới chân đồi để giữ sự thanh tĩnh cho chốn thiền môn.
Xét rộng hơn về mạch núi, núi Thành Đẳng thuộc cánh cung Đông Triều ở phía tây Quảng Ninh, nối liền một dải với non thiêng Yên Tử là đất tổ của Thiền phái Trúc Lâm. Việc các bậc tổ sư dòng Trúc Lâm chọn lập tịnh cảnh trên sườn núi này tiếp nối truyền thống nương theo long mạch núi rừng Đông Bắc để tu hành.
VLễ trong năm
Bên cạnh ngày hội khai xuân đầu năm (thường tổ chức vào mùng 8 tháng Giêng âm lịch) và lễ hội Hoa Cúc vào dịp Tết Trùng Dương (mùng 9 tháng 9 âm lịch), lịch lễ thường niên tại chùa đi theo nếp chung của Phật Giáo Bắc Tông miền Bắc tính theo âm lịch.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 8 tháng Giêng và Rằm tháng Giêng | Khai xuân và Thượng nguyên | Lễ hội đầu xuân chùa Ba Vàng và ngày rằm tháng Giêng tụng kinh cầu quốc thái dân an. |
| Rằm tháng 4 | Phật Đản | Lễ mừng ngày Đức Phật đản sinh với nghi thức tắm Phật. |
| Từ rằm tháng 4 tới rằm tháng 7 | An cư kiết hạ | Ba tháng chư tăng ni ở yên một chỗ tu học và thúc liễm thân tâm theo giới luật. |
| Rằm tháng 7 | Vu Lan | Lễ báo hiếu cha mẹ, đồng thời là ngày tự tứ kết thúc mùa an cư. |
| Mùng 9 tháng 9 và mùng 1 tháng 11 | Tết Trùng Dương và Tưởng niệm Tổ Trúc Lâm | Hội Hoa Cúc mùa thu và lễ tưởng niệm ngày Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết Bàn. |
Vì chùa gắn với dòng Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và có nhà thờ Tam Tổ Trúc Lâm, các dịp tưởng niệm Đệ nhất Tổ Trần Nhân Tông, Đệ nhị Tổ Pháp Loa và Đệ tam Tổ Huyền Quang cũng là những ngày lễ trọng của chốn tổ này.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Lưng chừng núi Thành Đẳng, phường Uông Bí (phường Quang Trung cũ, thành phố Uông Bí cũ), tỉnh Quảng Ninh. Nghị quyết 1679/NQ-UBTVQH15 năm 2025 gộp phường Quang Trung, Thanh Sơn, Yên Thanh và một phần Trưng Vương thành phường Uông Bí
- Đường tới
- Chùa ở lưng chừng núi Thành Đẳng, phường Uông Bí (phường Quang Trung cũ, thành phố Uông Bí cũ), tỉnh Quảng Ninh. Từ trung tâm Uông Bí có đường nhựa dẫn lên sườn núi tới thẳng cổng chùa.
- Toạ độ
- 21.0682, 106.7645
Chùa Ba Vàng là nơi thờ tự có đông chư tăng ni tu học, quý vị tới thăm nên ăn mặc kín đáo, bỏ mũ và cởi giày dép trước khi vào Đại Hùng Bảo Điện, đi nhẹ nói khẽ quanh khu nội tự và thiền đường. Cây hương đá cổ trước sân và tấm bia đá trong nhà bảo tàng là hiện vật quý gắn với niên đại đầu thế kỷ 18 của chùa, xin đừng chạm tay hay tì lên bề mặt đá. Đường lên chùa là đường dốc sườn núi, xin đi đúng lối quy định.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Ba Vàng
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Ba Vàng ở đâu
Chùa ở lưng chừng núi Thành Đẳng ở độ cao khoảng 340 mét, thuộc phường Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh (trước năm 2025 là phường Quang Trung, thành phố Uông Bí), nhìn xuống thung lũng Uông Bí và sông Bạch Đằng.
Chùa Ba Vàng có từ bao giờ
Theo trang của chùa và báo chí, nền chùa có dấu tích gạch ngói từ thời Trần thế kỷ 13. Di vật cây hương đá và văn bia ghi dấu đợt dựng lại năm Ất Dậu niên hiệu Vĩnh Thịnh đời Lê Dụ Tông, tức năm 1705 (VietNamNet quy là 1706). Phế tích được tìm lại năm 1987, dựng lại bằng gỗ năm 1988, xây gạch năm 1993 và đại trùng tu từ năm 2011 tới 2014.
Chùa Ba Vàng thuộc thiền phái nào
Chùa thuộc Phật Giáo Bắc Tông và gắn với Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Bia đá cổ tại chùa khắc danh hiệu vị thiền sư khai sơn là Trúc Lâm Ma Ha Sa Môn Tuệ Bích Phổ Giác.
Tên Ba Vàng nghĩa là gì
Theo lời giải của nhà chùa, Ba Vàng chỉ ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng, tức Tam Bảo. Tên chữ của chùa là Bảo Quang tự, nghĩa là ánh sáng quý.
Chùa Ba Vàng được xếp hạng di tích năm nào
Ngày 28 tháng 11 năm 2007, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh ban hành Quyết định số 4424/QĐ-UBND công nhận chùa Ba Vàng là di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp tỉnh.