Đi về vùng Bảy Núi thuộc xã Ba Chúc, cách chân núi Tượng (Liên Hoa Sơn) khoảng hai trăm mét về phía đông, khách hành hương bắt gặp hai ngôi chùa lớn của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa nằm đối diện nhau qua trục đường chính là chùa Phi Lai và chùa Tam Bửu. Chùa Phi Lai được Đức Bổn Sư Ngô Lợi (1831 - 1890) cùng các đệ tử dựng lên từ năm 1877 trên nền ngôi chùa tạm lúc mới đưa lưu dân vào khai hoang lập bốn thôn quanh núi Tượng, gắn liền với ngôi đình làng An Định theo bố cục tiền đình hậu tự.
Không giống nhiều ngôi chùa Bắc tông đặt tượng Phật lớn ở chính điện, chùa Phi Lai mang đậm dấu ấn của dòng đạo bản địa Nam Bộ có nguồn gốc từ truyền thống Bửu Sơn Kỳ Hương. Phía trước là đình An Định rộng thoáng để bá tánh hội họp và hành lễ Kỳ yên, phía sau là ngôi chùa gồm tiền điện và hậu điện với hệ thống bàn thờ treo trần điều đỏ và hồng điều, không đặt cốt tượng, nơi các tín đồ mặc áo vạt hò, búi tóc cài trâm đến tụng kinh và thực hành đạo lý Tứ Ân.

IVị trí của chùa Phi Lai trong đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa
Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa (tín đồ xưa còn gọi là đạo Thờ ông bà hay đạo Hiếu Nghĩa, nay sinh hoạt trong tổ chức Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa) do Đức Bổn Sư Ngô Lợi (còn có tên là Ngô Viện, Năm Thiếp, 1831 - 1890) khai sáng ngày mùng 5 tháng 5 năm Đinh Mão (1867). Về nơi khai đạo năm 1867, tài liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ, Báo Đại biểu Nhân dân và khảo cứu của Nguyễn Phong Vũ ghi tại Cù lao Ba (xã Vĩnh Trường, huyện An Phú, tỉnh An Giang), trong khi sách Địa chí An Giang ghi tại vùng Ba Chúc. Theo khảo cứu của Nguyễn Phong Vũ trên tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, trước khi vào định cư lâu dài ở vùng núi Tượng, Đức Bổn Sư từng dựng ngôi chùa đầu tiên của đạo tại xã Bình Long và chùa Bửu Khánh tại Cù lao Ba. Đến năm 1876, ngài dẫn đệ tử vào vùng đất hoang quanh núi Tượng (xã Ba Chúc ngày nay) khai khẩn ruộng đất, quy tụ lưu dân lập nên bốn thôn An Định, An Hòa, An Lập và An Thành.
Lúc mới đến chân núi Tượng, Đức Bổn Sư cho dựng một ngôi chùa tạm tại vị trí chùa Phi Lai hiện nay để bá tánh có nơi lễ bái. Khi đời sống lưu dân đã ổn định vào năm 1877, ngài cho xây dựng ngôi đình làng An Định và ngôi chùa Phi Lai quy mô ngay trên nền chùa tạm theo kiểu tiền đình hậu tự. Cách đó không xa về phía đối diện, ngài dựng tiếp chùa Tam Bửu (khởi dựng từ năm 1876 dưới dạng trại ruộng hoặc am lá và hoàn chỉnh quy mô chùa năm 1882), nơi đặt ngôi Long Đình và trở thành Tổ đình điều hành việc đạo. Vì vậy, tại vùng thánh địa Ba Chúc, chùa Tam Bửu và chùa Phi Lai tạo thành cặp cơ sở thờ tự trung tâm ở thôn An Định, vừa là nơi hành đạo vừa là điểm tựa tinh thần của cư dân tứ thôn.
Về ngày khởi dựng chùa Phi Lai trong năm Đinh Sửu 1877, bài giới thiệu của Ban Tôn giáo Chính phủ ghi ngày 19 tháng 11 năm 1877, trong khi mục từ trên Wikipedia tiếng Việt ghi ngày 19 tháng 1 năm 1877. Khảo cứu thực địa của Nguyễn Phong Vũ (Nghiên cứu Tôn giáo, số 3 năm 2021, trang 79 - 80) cho biết toàn đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có 75 cơ sở thờ tự, gồm 37 cơ sở nội thôn tại bốn thôn quanh núi Tượng (15 chùa, 4 đình, 14 miếu, 4 mộc hương) và 38 cơ sở ngoại thôn (một số bài tổng thuật khác ghi 40 cơ sở nội thôn và 35 cơ sở ngoại thôn). Trong số 15 ngôi chùa nội thôn, chỉ có hai ngôi chùa ở thôn An Định là chùa Phi Lai và chùa Tam Bửu được thiết kế gồm hai đơn nguyên kiến trúc tách biệt là tiền điện và hậu điện cùng nằm trên trục chính.
IICác mốc lịch sử từ thời mở tứ thôn đến nay
- 1876 - 1877Mở đất lập tứ thôn và dựng chùa Phi Lai, đình An ĐịnhSau khi đưa lưu dân vào chân núi Tượng lập bốn thôn An Định, An Hòa, An Lập, An Thành và dựng chùa tạm năm 1876, đến năm 1877 (ngày 19 tháng 1 hoặc 19 tháng 11) Đức Bổn Sư Ngô Lợi cho xây dựng chùa Phi Lai bằng tre lá gắn liền với đình An Định và mộc hương chùa Phi Lai.
- 1885 - 1888Biến cố đốt chùa và hai lần dựng lại thời Đức Bổn SưTháng Giêng năm Ất Dậu (1885) và năm Đinh Hợi (1887), quân Pháp cùng lực lượng của Trần Bá Lộc tiến vào bốn thôn quanh núi Tượng đốt phá chùa miếu và nhà cửa. Sau mỗi biến cố, Đức Bổn Sư cùng tín đồ đều quay về dựng lại chùa Phi Lai và đình An Định vào các năm 1886 và 1888.
- 1949, 1969, 1979Ba đợt trùng tu kiên cố trong thế kỷ 20Sau khi Đức Bổn Sư viên tịch năm 1890, chùa do các bậc cao đồ và gánh hát bội trong đạo trông coi. Theo khảo cứu của Nguyễn Phong Vũ, trong thế kỷ 20 chùa Phi Lai trải qua ba đợt trùng tu lớn vào các năm 1949, 1969 và 1979 (mộc hương trong khuôn viên cũng được trùng tu năm 1979), xây dựng lại khang trang với hai tầng mái ngói.
- 10/7/1980Xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc giaNgày 10 tháng 7 năm 1980, chùa Phi Lai cùng cụm di tích tại Ba Chúc được xếp hạng là Di tích lịch sử cấp quốc gia.
- 2010 - 2020Kiện toàn tổ chức Phật hội Tứ Ân Hiếu NghĩaCộng đồng tín đồ kiện toàn sinh hoạt chung dưới tên gọi Đạo hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa từ năm 2010, và từ sau Đại hội đại biểu tín đồ lần thứ III năm 2020 mang tên Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa, lấy cụm chùa Tam Bửu và chùa Phi Lai ở Ba Chúc làm trung tâm hành lễ.
IIIBố cục tiền đình hậu tự và các lớp bàn thờ không tượng cốt
Khuôn viên chùa Phi Lai nối liền với đình làng An Định ở phía trước theo lối tiền đình hậu tự. Đình An Định thờ vị thần chính là Thành hoàng Bổn bảo Đương kiểng Thổ địa Chánh thần cùng Tiền hiền, Hậu hiền, Cửu huyền thất tổ và Bá tánh vạn dân. Trong khuôn viên chùa còn có mộc hương chùa Phi Lai (dựng năm 1877, trùng tu năm 1979), là công trình nhà sàn vuông một gian dùng làm nơi cung thỉnh sắc thần và hành lễ Kỳ yên.
Phía trước ngôi chùa chính đặt cột phướn cao cùng hệ thống các bàn thờ ngoài trời đặc trưng của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa gồm bàn thờ Thông thiên, bàn thờ Tiền hiền - Hậu hiền (nơi đặt ngôi vị thờ trung thần Nguyễn Trung Trực bên Tiền hiền và cụ Cử Đa tức Nguyễn Hữu Huân bên Hậu hiền theo truyền thống của đạo) và bàn thờ Cửu phẩm.
Khác với 13 ngôi chùa nhỏ trong nội thôn chỉ có một tòa chánh điện, chùa Phi Lai và chùa Tam Bửu có kết cấu hai tòa tiền điện và hậu điện tách biệt trên trục chính. Tại trung tâm tiền điện chùa Phi Lai đặt bàn thờ Ngọc Hoàng (trong khi vị trí này ở chùa Tam Bửu thờ Quan Thánh đế quân) cùng bàn thờ Hội đồng chư Phật (Tây phương cực lạc), bốn góc có bốn bàn thờ Tứ trụ thần Châu, bên dưới đặt bàn thờ Thập điện Diêm Vương. Ở vị trí Tả và Hữu Mạng thần quan của các chùa khác, tiền điện chùa Phi Lai đặt bàn thờ Nam Tào và Bắc Đẩu, đồng thời có thêm ngôi thờ Hộ pháp Long Thiên.
Tòa hậu điện nằm phía sau tiền điện, là không gian thâm nghiêm thờ Lịch đại tổ sư ở lớp trước và lớp trong cùng đặt ba bàn thờ Quan Thánh ở giữa, Tam giáo ở bên trái và Minh Sư ở bên phải. Xung quanh hậu điện bố trí hệ thống bàn thờ Tứ đại thần châu (Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hóa Châu, Nam Thiệm Bộ Châu, Bắc Câu Lư Châu) cùng bàn thờ Cửu huyền thất tổ và Bá tánh vạn dân. Toàn bộ các ngôi thờ chỉ treo trần điều đỏ hoặc hồng điều cùng bài vị chữ Hán, không tạc tượng Phật hay thần thánh.
Theo khảo cứu của Nguyễn Phong Vũ (2021, trang 81 - 91), sự khác biệt rõ nhất trong bài trí giữa hai ngôi chùa lớn ở thôn An Định là trung tâm tiền điện chùa Phi Lai thờ Ngọc Hoàng, có bốn bàn thờ Tứ trụ thần Châu ở bốn góc bàn thờ Tây phương cực lạc, thờ Nam Tào - Bắc Đẩu và Hộ pháp Long Thiên. Trong khi đó, chùa Tam Bửu thờ Quan Thánh đế quân ở trung tâm tiền điện, có ngôi thờ Phật Vương phía trước tiền điện và thờ thêm Phật Thầy cùng Phật Trùm ở hậu điện.
IVThế đất dựa chân núi Tượng nhìn ra cánh đồng Ba Chúc
Núi Tượng (tên chữ là Liên Hoa Sơn) là một trong bảy ngọn núi tiêu biểu của vùng Thất Sơn, cao khoảng một trăm bốn mươi lăm mét, nằm giữa vùng đồng bằng trũng của xã Ba Chúc, dưới chân núi Dài (Ngọa Long Sơn) trải dài ở phía đông nam. Vào cuối thế kỷ 19, vùng đất quanh chân núi Tượng còn là rừng hoang rậm rạp, địa hình hiểm trở và kín đáo, được Đức Bổn Sư Ngô Lợi chọn làm nơi quy tụ nghĩa dân và tín đồ lập bốn thôn tự quản.
Chùa Phi Lai và đình An Định tọa lạc ở sườn đất bằng phía đông chân núi Tượng, chỉ cách vách núi chừng hai trăm mét và nằm đối diện qua đường với chùa Tam Bửu. Hai ngôi chùa cùng hai ngôi đình tạo thành hạt nhân kiến trúc của thôn An Định xưa, lưng tựa vào khối núi đá, mặt nhìn ra vùng ruộng lúa mênh mông của cánh đồng Ba Chúc.
Nhìn theo phép hình thế cổ truyền, núi Tượng mang dáng một con voi phục giữa đồng bằng (hoặc dáng đài sen theo tên chữ Liên Hoa Sơn), đóng vai trò hậu chẩm che chắn ngay phía tây cho cụm chùa Phi Lai và chùa Tam Bửu. Xa hơn về phía đông nam là dãy núi Dài (Ngọa Long Sơn) chạy dài như bức bình phong lớn của cả vùng đất Tri Tôn - Ba Chúc.
Việc đặt chùa Phi Lai và đình An Định trên thềm đất cao ráo sát chân núi phía đông giúp công trình tránh được cảnh ngập lụt mùa nước nổi, đồng thời đón nhận ánh nắng ban mai và luồng gió mát từ cánh đồng Ba Chúc mở rộng ở minh đường. Thế đất tiền đình hậu tự nằm kề chân núi đá vừa tạo sự gắn kết chặt chẽ của cộng đồng thôn ấp phía trước, vừa giữ được khoảng tĩnh lặng cho không gian thờ tự phía sau.
Thư viện ghi nhận hiện chưa có bản đo độ số la bàn chi tiết cho từng tòa tiền điện và hậu điện của chùa Phi Lai, nên phần đọc thế đất này chỉ dừng ở mối tương quan địa hình giữa núi Tượng và đồng bằng Ba Chúc.
VLễ Kỳ yên, các ngày vía lớn và nếp tu Học Phật Tu Nhân
Tại chùa Phi Lai và đình An Định, đời sống tín ngưỡng của tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa diễn ra sôi nổi quanh năm theo lịch lễ hội truyền thống. Các kỳ lễ lớn nhất gồm lễ Kỳ yên cầu quốc thái dân an tại đình và mộc hương, lễ kỷ niệm ngày khai sáng đạo (mùng 5 tháng 5 âm lịch, cũng là Tết Đoan Ngọ), ngày vía Đức Bổn Sư Ngô Lợi sinh (mùng 5 tháng 5 âm lịch) và ngày vía Đức Bổn Sư viên tịch (13 tháng 10 âm lịch). Vào những dịp này, hàng vạn thân bằng (cách các tín đồ gọi nhau thân mật) từ 16 tỉnh, thành phố miền Tây và Đông Nam Bộ hành hương về Ba Chúc để lễ bái tại cả chùa Tam Bửu lẫn chùa Phi Lai.
Người tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa giữ lối tu tại gia, ăn chay kỳ mỗi tháng 4 ngày hoặc 10 ngày, lấy việc báo đáp bốn ân nặng (ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo, ân đồng bào và nhân loại) làm gốc. Khi vào chùa Phi Lai dự lễ, các bậc trưởng lão và tín đồ vẫn giữ trang phục truyền thống với áo bà ba hoặc áo dài vạt hò màu đen hay trắng, để tóc dài búi tó củ hành và cài trâm, tụng các bộ kinh như Bát Dương Kinh, Di Đà Kinh, Kim Cang Thọ Mạng Kinh, Phổ Môn Kinh trong tiếng chuông mõ trang nghiêm.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Chân núi Tượng (Liên Hoa Sơn), khu An Định, xã Ba Chúc (thị trấn Ba Chúc cũ, huyện Tri Tôn cũ), tỉnh An Giang
- Đường tới
- Chùa nằm ở phía đông chân núi Tượng, thuộc xã Ba Chúc (thị trấn Ba Chúc cũ, huyện Tri Tôn cũ), tỉnh An Giang. Từ phường Châu Đốc (thành phố Châu Đốc cũ), đi theo Quốc lộ 91 và đường tỉnh 948 hoặc đường tỉnh 955B qua vùng Tịnh Biên về xã Ba Chúc khoảng bốn mươi cây số là tới cụm di tích chùa Phi Lai và chùa Tam Bửu dưới chân núi Tượng.
- Toạ độ
- 10.4997, 104.9091
Nên ăn mặc kín đáo, lịch sự và giữ trật tự khi bước vào khu vực tiền điện, hậu điện của chùa cũng như đình An Định phía trước.
Lễ vật dâng cúng tại các bàn thờ trong chùa chỉ dùng hương, hoa tươi, trà và nước sạch cùng trái cây chay tịnh, không bày lễ mặn.
Chùa Phi Lai nằm ngay đối diện chùa Tam Bửu qua trục đường dưới chân núi Tượng, khách hành hương nên đi bộ thăm cả hai ngôi chùa trong cùng một chuyến để thấy rõ sự tương đồng và khác biệt trong bài trí thờ tự.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Phi Lai
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa ở chùa Phi Lai có phải là đạo Hòa Hảo không
Không phải. Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Phật giáo Hòa Hảo đều bắt nguồn từ mạch giáo lý Học Phật Tu Nhân của hệ phái Bửu Sơn Kỳ Hương thế kỷ 19, nhưng Tứ Ân Hiếu Nghĩa do Đức Bổn Sư Ngô Lợi khai sáng từ năm 1867 và có hệ thống kinh kệ, nghi lễ tụng niệm, kiến trúc tiền đình hậu tự cùng tổ chức Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa hoàn toàn độc lập.
Chùa Phi Lai và chùa Tam Bửu ở Ba Chúc có quan hệ với nhau như thế nào
Hai ngôi chùa nằm đối diện nhau dưới chân núi Tượng tại thôn An Định xưa. Chùa Phi Lai được xây dựng quy mô năm 1877 gắn với đình An Định trên nền ngôi chùa tạm ban đầu, còn chùa Tam Bửu hoàn chỉnh quy mô năm 1882 gắn với đình Tam Bửu, nơi đặt ngôi Long Đình và là Tổ đình trung tâm của Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Đây là hai ngôi chùa duy nhất trong nội thôn có kết cấu hai tòa tiền điện và hậu điện tách biệt.
Bố cục tiền đình hậu tự ở chùa Phi Lai có ý nghĩa gì
Tiền đình hậu tự nghĩa là phía trước dựng ngôi đình làng (đình An Định thờ Thành hoàng Bổn bảo Đương kiểng Thổ địa Chánh thần và các bậc tiền hiền mở đất), phía sau dựng ngôi chùa thờ Phật và chư vị giáo chủ (chùa Phi Lai). Cấu trúc này phản ánh đúng tôn chỉ kết hợp việc làng việc nước với việc tu Phật của cư dân mở đất vùng Bảy Núi.
Cách bài trí thờ tự ở tiền điện chùa Phi Lai có gì khác chùa Tam Bửu
Theo khảo cứu thực địa của Nguyễn Phong Vũ (2021), tại trung tâm tiền điện chùa Phi Lai đặt bàn thờ Ngọc Hoàng, bốn góc bàn thờ Tây phương cực lạc có bốn bàn thờ Tứ trụ thần Châu, đồng thời thờ Nam Tào, Bắc Đẩu và Hộ pháp Long Thiên. Trong khi đó, trung tâm tiền điện chùa Tam Bửu thờ Quan Thánh đế quân, phía trước tiền điện có ngôi thờ Phật Vương và ở hậu điện thờ thêm Phật Thầy cùng Phật Trùm.
Các kỳ lễ lớn nhất trong năm tại chùa Phi Lai diễn ra vào ngày nào?
Các kỳ lễ trọng đại nhất tại chùa Phi Lai gồm ngày kỷ niệm khai sáng đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa và vía Đức Bổn Sư Ngô Lợi sinh vào mùng 5 tháng 5 âm lịch (Tết Đoan Ngọ), ngày vía Đức Bổn Sư viên tịch vào 13 tháng 10 âm lịch và lễ Kỳ yên tại đình An Định.