VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Phi Lai

Phi Lai tự

Ngôi chùa quy mô đầu tiên của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, dựng xong cùng một ngôi đình trong buổi Đức Bổn Sư Ngô Lợi đưa tín đồ về chân núi Tượng lập làng.

Dựng xong
1877
ngày 19 tháng 11, cùng ngôi đình của làng
Dòng đạo
Tứ Ân Hiếu Nghĩa
khai năm 1867 bởi Đức Bổn Sư Ngô Lợi
Xếp hạng
Di tích quốc gia
Di tích lịch sử cấp quốc gia, năm 1980, cùng chùa Tam Bửu

Đứng trong sân chùa Phi Lai, quý vị thấy sườn núi Tượng xanh đá và cây ngay phía trên những mái ngói thấp. Chung quanh là nhà dân, vườn, lối xóm, và một ngôi đình đứng chung khuôn viên với chùa. Chùa và đình ở cạnh nhau như hai gian của cùng một ngôi nhà lớn, không bên nào lấn bên nào.

Cái cạnh nhau ấy có từ ngày đầu. Theo Ban Tôn giáo Chính phủ, ngày 19 tháng 11 năm 1877 dân ở núi Tượng dựng xong cùng lúc ngôi đình và chùa Phi Lai, ngôi chùa có quy mô đầu tiên của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa ở vùng Thất Sơn. Người dựng là tín đồ của Đức Bổn Sư Ngô Lợi, những người một năm trước đó đã theo ông về khai phá chân núi này và lập nên làng An Định. Muốn hiểu chùa Phi Lai thì phải hiểu cái làng ấy trước đã.

IMột Đạo Riêng Trong Mạch Thất Sơn

Xin nói rõ ngay từ đầu, vì chỗ này hay bị xếp nhầm. Chùa Phi Lai thuộc đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, nay là Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa, do Đức Bổn Sư Ngô Lợi khai năm 1867. Đây là một tổ chức tôn giáo riêng, được Nhà nước công nhận năm 2010 và mang tên Phật hội từ năm 2020.

Tứ Ân Hiếu Nghĩa nhận ảnh hưởng tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương của Đức Phật Thầy Tây An, nhưng không phải Bửu Sơn Kỳ Hương, và cũng không phải Phật Giáo Hòa Hảo. Ba dòng có chung một vùng đất là Thất Sơn và chung nhiều chữ trong giáo lý, nhưng mỗi dòng có vị khai đạo riêng, năm khai đạo riêng và tổ chức riêng.

Thư viện Vạn Đạo Đường xếp chùa Phi Lai vào nhóm Bửu Sơn Kỳ Hương và Tứ Ân Hiếu Nghĩa vì hai dòng cùng một mạch tư tưởng, không có ý gộp hai tổ chức làm một.

Theo giáo nghĩa

Theo tư liệu của Phật hội do Ban Tôn giáo Chính phủ giới thiệu, tôn chỉ của đạo là Tu nhân, Học Phật. Đường hướng hành đạo hiện nay được nêu gọn trong mấy chữ Hành tứ ân, Sống hiếu nghĩa. Bốn ân ấy là ân cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo và ân đồng bào. Phần giáo lý về bốn ân được kể kỹ ở bài chùa Tam Bửu.

Điều cần nói ở bài này là giáo lý ấy đi vào đời thường qua Thập nhị lệ sự, mười hai điều tín đồ phải giữ. Hai điều đứng đầu là cúng kiến trời đấtcúng lễ các vị thần, rồi mới tới thờ phượng tổ tiên ông bà và sống hiếu thảo với cha mẹ. Các điều sau nói tới phép nước, ơn thầy, anh em, bạn bè, họ hàng, xóm giềng, vợ chồng và con cháu.

Đọc mười hai điều ấy thì hiểu vì sao ở làng An Định, ngôi đình và ngôi chùa được dựng cùng một buổi. Với tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa, cúng thần làng không phải việc của một tín ngưỡng khác nằm ngoài đạo, mà là một trong những điều đạo dạy phải làm. Đình giữ phần thờ thần, chùa giữ phần thờ Phật và thờ Đức Bổn Sư, hai phần ấy hợp lại mới đủ nếp của một làng đạo.

Theo sử liệu

Về mặt khảo được, Đức Bổn Sư Ngô Lợi quê ở Kiến Hòa, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, và qua đời năm 1890. Ban Tôn giáo Chính phủ ghi ông khai đạo ngày mùng 5 tháng 5 năm Đinh Mão, tức năm 1867. Báo Đại biểu Nhân dân cho biết thuở đầu đạo được gọi là đạo thờ ông bà, tên Tứ Ân Hiếu Nghĩa được dùng chính thức từ năm 1870.

Năm 1876, ông đưa tín đồ về núi Tượng. Tư liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ dùng chữ trảm thảo khai sơn, nghĩa là phát cỏ mở núi, rồi hướng dẫn tín đồ dựng nhà cửa, chùa miếu, lập thôn xóm theo sơ đồ. Chi tiết theo sơ đồ đáng để ý: làng An Định không mọc lên tự phát mà được hoạch định từ trước, và trong bản hoạch định ấy đình với chùa đã có chỗ.

Chỗ hay hiểu lầm

Ba chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu, không nhằm chê trách ai.

Thứ nhất, chùa Phi Lai không phải chùa Hòa Hảo, cũng không phải chùa Bửu Sơn Kỳ Hương. Vì cùng vùng Thất Sơn và cùng nói tới tứ ân, nhiều người gọi gộp. Tứ Ân Hiếu Nghĩa khai năm 1867 với Đức Bổn Sư Ngô Lợi, có Ban Trị sự Trung ương riêng.

Thứ hai, ngôi đình bên cạnh không phải của một làng khác. Đình và chùa được dựng xong cùng một ngày, cùng một cộng đồng tín đồ, trong cùng một làng đạo. Người lần đầu tới thường nghĩ đình thuộc lớp tín ngưỡng dân gian có trước còn chùa tới sau. Ở An Định thì hai thứ ra đời cùng lúc.

Thứ ba, chùa Phi Lai không phải tổ đình. Chùa có trước về niên đại, nhưng vai tổ đình và nơi đặt Ban Trị sự Trung ương là của chùa Tam Bửu, cách đây chừng 200 mét trong cùng làng đạo.

IILập Làng An Định Dưới Chân Núi Tượng

Lịch sử chùa Phi Lai không tách được khỏi lịch sử làng An Định. Các mốc dưới đây ghi theo việc khai đạo, lập làng, dựng chùa và trùng tu, cùng hai mốc về tổ chức của đạo.

  • 1867Khai đạo
    Đức Bổn Sư Ngô Lợi khai đạo ngày mùng 5 tháng 5 năm Đinh Mão, theo Ban Tôn giáo Chính phủ. Thuở đầu đạo được gọi là đạo thờ ông bà.
  • 1870Tên Tứ Ân Hiếu Nghĩa
    Tên đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa được dùng chính thức từ năm này, theo báo Đại biểu Nhân dân.
  • 1876Về núi Tượng lập làng
    Đức Bổn Sư đưa tín đồ về núi Tượng, phát cỏ mở núi, dựng nhà cửa, chùa miếu và lập thôn xóm theo sơ đồ. Làng mới mang tên An Định.
  • 1877Dựng xong đình và chùa Phi Lai
    Ngày 19 tháng 11 năm 1877, dân núi Tượng dựng xong ngôi đình và chùa Phi Lai, ngôi chùa Tứ Ân Hiếu Nghĩa có quy mô đầu tiên ở vùng Thất Sơn.
  • 1886 và 1888Hai lần trùng tu đầu
    Theo khảo cứu của Nguyễn Phong Vũ trên tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo năm 2021, chùa trải qua năm lần trùng tu, hai lần đầu vào các năm này, ba lần sau trong thế kỷ 20.
  • 1890Đức Bổn Sư qua đời
    Ngày 13 tháng 10 âm lịch về sau thành ngày lễ vía lớn của đạo.
  • 2010Được công nhận tổ chức tôn giáo
    Tổ chức của đạo được Nhà nước công nhận với tên Đạo hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa.
  • 2020Mang tên Phật hội
    Tên gọi được đổi theo văn bản số 890 ngày 27 tháng 10 năm 2020 của Ban Tôn giáo Chính phủ, sau Đại hội đại biểu tín đồ lần thứ III.
Theo sử liệu

Có hai chỗ nguồn ghi vênh nhau, xin nói rõ thay vì chọn bừa.

Về tên gọi hiện nay. Hồ sơ của thư viện ghi tên Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa theo văn bản số 890 năm 2020. Trong khi đó, bài giới thiệu trên trang Ban Tôn giáo Chính phủ và báo Đại biểu Nhân dân chép rằng Đại hội lần thứ III thống nhất đổi tên thành Phật giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Các bản tin năm 2025 về Đại hội lần thứ IV dùng chữ Phật hội. Chúng tôi dùng chữ Phật hội và ghi lại cả hai cách.

Về số tín đồ. Trang Ban Tôn giáo Chính phủ và báo Đại biểu Nhân dân ghi khoảng 70.000 tín đồ. Báo VietNamNet năm 2025 ghi gần 80.000, sống ở 16 tỉnh thành. Hai con số có lẽ thuộc hai thời điểm khác nhau, nhưng các nguồn không nói rõ năm thống kê.

Một điều nhỏ nữa: ngày 19 tháng 11 năm 1877 được chép như vậy, văn bản không ghi rõ là âm lịch hay dương lịch. Chúng tôi để nguyên.

IIIChùa Và Đình Chung Một Khuôn Viên

Theo khảo cứu của Nguyễn Phong Vũ, Trường Đại học An Giang, đăng trên tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 3 năm 2021, chùa Phi Lai dựng theo kiểu nhà tứ tượng, bộ vì kèo tạo dáng vuông, một lối nhà quen của Nam Bộ. Đình An Định cũng dựng năm 1877, cũng qua năm lần trùng tu, và có chung khuôn viên với chùa.

Chùa không có tháp, không có tam quan đồ sộ. Quy mô ở đây là quy mô của một ngôi chùa làng, dựng cho một cộng đồng tín đồ vừa khai phá xong chân núi, và chữ quy mô đầu tiên trong tư liệu của Ban Tôn giáo nên hiểu theo nghĩa ấy: ngôi đầu tiên được dựng đủ lệ thành một ngôi chùa, không phải ngôi lớn nhất.

Chánh điện

Nơi đặt các lớp bàn thờ. Khảo cứu nói trên kể các đối tượng thờ quen trong chùa Tứ Ân Hiếu Nghĩa gồm Chánh Đức Thiên La thần, Thổ Trạch Long thần, Hội đồng chư Phật, Thập điện Diêm Vương, Bổn sư, Bá tánh và Tam giáo.

Bức trần điều

Khảo cứu ghi riêng một chi tiết: chùa Phi Lai thờ thêm biểu tượng của đạo là bức trần điều. Tấm vải đỏ ấy là chỗ quý vị nhận ra mạch Thất Sơn ngay khi bước vào.

Đình An Định

Dựng xong cùng ngày với chùa, chung khuôn viên, giữ phần thờ thần làng. Đình và chùa đứng cạnh nhau là hình ảnh cụ thể nhất của nếp làng đạo mà Đức Bổn Sư muốn lập.

Khuôn viên chân núi

Chùa nằm ở khu An Định dưới chân núi Tượng, giữa nhà dân và vườn tược, không tách riêng thành một khu thờ tự khép kín.

Lối thờ nhiều lớp trong một chùa là nét chung của Tứ Ân Hiếu Nghĩa: Phật, Tam giáo, thần linh và các bậc tiền bối cùng có chỗ. Phần kể kỹ về các lớp bàn thờ, với hơn ba mươi bàn thờ trong một ngôi, thuộc về bài chùa Tam Bửu.

Chữ Hán ghi ở đầu trang do thư viện ghi theo âm tên chùa, không chép từ một tấm hoành phi cụ thể. Nếu đúng hai chữ ấy thì phi là bay, lai là tới. Chúng tôi chưa tìm được tư liệu của đạo giải thích vì sao chùa mang tên này, nên không đoán thêm.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong tư liệu của đạo. Chúng tôi không thấy tư liệu nào của Tứ Ân Hiếu Nghĩa ghi việc chọn đất theo phép xem đất, và cũng chưa có tư liệu ghi độ hướng của cửa chùa. Những dòng dưới đây chỉ là chỗ đối chiếu cho quý vị quen lối đọc cổ truyền.

Thế đất và hướng

Điều đầu tiên là có núi thật. Phần lớn châu thổ phía tây nam là đất bằng, nơi thờ tự không có gì để tựa. Vùng Thất Sơn là ngoại lệ, những khối núi nhô lên giữa đồng, và làng An Định nằm ngay dưới chân một khối như thế. Theo phép cũ, núi phía sau là hậu chẩm, cái gối kê lưng, cho nơi thờ tự một chỗ dựa vững.

Điều thứ hai là chuyện làng có trước, chùa ở trong làng. Tư liệu nói Đức Bổn Sư cho lập thôn xóm theo sơ đồ. Trong con mắt cũ, một làng lập theo sơ đồ là một làng đã được tính chỗ cho đình, cho chùa, cho nhà ở, cho lối đi. Chùa Phi Lai vì thế không đứng riêng giữa đồng mà đứng giữa lối xóm, khí của nơi thờ tự và khí của nơi ở hòa vào nhau.

Điều thứ ba là đình và chùa đứng cạnh nhau. Người xem đất xưa hay đọc một cặp công trình như vậy theo lý âm dương: đình là nơi việc làng, việc thần, việc hội họp, thuộc phần động, chùa là nơi tụng niệm, thuộc phần tĩnh. Hai phần ấy đặt chung một khuôn viên thì bổ cho nhau. Xin nói rõ đây là cách đọc của thư viện. Theo tư liệu của đạo, đình và chùa đứng cạnh nhau vì Thập nhị lệ sự dạy cả việc thờ trời đất, thờ thần lẫn thờ Phật, không vì phép phong thủy.

Cuối cùng, chỗ đất này được chọn trước hết vì đó là đất còn khai phá được. Người ta tới, phát cỏ mở núi, dựng nhà, rồi mới có chùa. Thứ tự làng trước, chùa sau là điều đáng nhớ hơn mọi cách đọc về long mạch.

VLễ Và Nếp Làng Đạo

Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa có hai lễ lớn trong năm, cả hai tính theo âm lịch và cả hai gắn với Đức Bổn Sư. Trong những ngày ấy, làng An Định đông hẳn lên vì tín đồ từ nhiều tỉnh Nam Bộ về.

Hai lễ lớn trong năm của Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Nguồn: Theo bài giới thiệu Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa trên trang Ban Tôn giáo Chính phủ..
Ngày âm lịchLễNội dung
Mùng 5 tháng 5Lễ khai sáng đạo và ngày sinh Đức Bổn SưKỷ niệm ngày Đức Bổn Sư Ngô Lợi khai đạo năm Đinh Mão 1867, cũng là ngày sinh của ông. Đây là lễ lớn nhất trong năm của Phật hội.
13 tháng 10Lễ vía Đức Bổn SưNgày Đức Bổn Sư qua đời năm 1890. Tín đồ về làng đạo dâng hương và dự lễ.

Ngoài hai kỳ lễ, nếp sống ở đây là nếp làng đạo mà Thập nhị lệ sự vạch ra: thờ trời đất, thờ thần, thờ tổ tiên, giữ hiếu với cha mẹ, giữ nghĩa với xóm giềng. Chùa là nơi các điều ấy được nhắc lại, còn đời sống thường ngày trong làng là nơi chúng được làm.

Phần lễ lớn của đạo tập trung ở tổ đình. Quý vị muốn biết về các lớp bàn thờ, ngôi Long Đình và tổ chức của Phật hội thì xem bài chùa Tam Bửu.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Chân núi Tượng (Liên Hoa Sơn), khu An Định, xã Ba Chúc (thị trấn Ba Chúc cũ, huyện Tri Tôn cũ), tỉnh An Giang
Đường tới
Chùa nằm ở khu An Định dưới chân núi Tượng, xã Ba Chúc, trên địa bàn huyện Tri Tôn cũ, tỉnh An Giang. Từ trung tâm Ba Chúc đi vào khu An Định một quãng ngắn là tới.
Toạ độ
10.4999, 104.9088
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động của một cộng đồng tín đồ, nằm giữa một làng đạo có người ở, nên lệ của chùa và lệ của làng đều là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo và giản dị, đi nhẹ nói khẽ trước các bàn thờ, không chạm vào bức trần điều và đồ thờ, hỏi người trông coi chùa trước khi chụp ảnh bên trong. Trong hai kỳ lễ lớn, sân chùa đông tín đồ ở xa về, xin nhường chỗ gần bàn thờ cho người hành lễ.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Phi Lai

Contribute photos, information or video for Phi Lai Pagoda

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

chùa phi lai ba chúc thuộc đạo nào

Thuộc đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, nay là Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa, do Đức Bổn Sư Ngô Lợi khai năm 1867. Đây là một tổ chức tôn giáo riêng, được công nhận năm 2010. Đạo nhận ảnh hưởng tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương nhưng không phải Bửu Sơn Kỳ Hương và không phải Phật Giáo Hòa Hảo.

chùa phi lai xây năm nào

Theo Ban Tôn giáo Chính phủ, ngày 19 tháng 11 năm 1877 dân núi Tượng dựng xong ngôi đình và chùa Phi Lai, một năm sau khi Đức Bổn Sư Ngô Lợi đưa tín đồ về đây lập làng An Định. Theo một khảo cứu năm 2021, chùa đã qua năm lần trùng tu.

tứ ân hiếu nghĩa có phải hòa hảo không

Không. Tứ Ân Hiếu Nghĩa do Đức Bổn Sư Ngô Lợi khai năm 1867, là một tổ chức tôn giáo riêng. Phật Giáo Hòa Hảo khai năm 1939 với một vị giáo chủ khác. Hai đạo cùng vùng Thất Sơn và cùng nói tới tứ ân, nhưng khác người khai đạo, khác tổ chức, khác tổ đình.

đức bổn sư ngô lợi là ai

Là người khai đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa năm 1867, quê ở Mỏ Cày, Bến Tre, qua đời năm 1890. Năm 1876 ông đưa tín đồ về chân núi Tượng khai phá, lập làng An Định theo sơ đồ, trong đó có đình và chùa Phi Lai dựng xong năm 1877. Tín đồ gọi ông là Đức Bổn Sư.

chùa phi lai có lễ lớn ngày nào

Hai lễ lớn theo âm lịch của Phật hội là mùng 5 tháng 5, kỷ niệm ngày khai đạo và ngày sinh Đức Bổn Sư, và 13 tháng 10, lễ vía ngày Đức Bổn Sư qua đời. Trong hai kỳ ấy tín đồ từ nhiều tỉnh Nam Bộ về làng đạo An Định dự lễ.

Đọc Tiếp