Bước qua cổng chùa Tam Bửu, quý vị gặp trước hết một khoảng sân trống, giữa sân có một bàn thờ lộ thiên hướng lên trời. Phía sau là dãy nhà chính với sảnh trước, tiền điện, hậu điện nối nhau. Vào tới trong, điều làm người lạ khựng lại không phải một pho tượng lớn mà là số bàn thờ: hơn ba mươi bàn, lớp này tiếp lớp kia, mỗi bàn một đối tượng thờ.
Giữa các lớp ấy là ngôi Long Đình, một khối gỗ chạm rồng phượng thếp vàng cao chừng ba mét, được giữ như vật báu của cả đạo. Đây là tổ đình của Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa, nơi đặt Ban Trị sự Trung ương, nơi tín đồ từ nhiều tỉnh Nam Bộ tìm về trong hai kỳ lễ lớn. Muốn hiểu vì sao một ngôi chùa lại có nhiều bàn thờ đến vậy, cần đọc giáo lý của đạo trước.
ITổ Đình Của Một Đạo Riêng
Xin nói rõ ngay từ đầu, vì chỗ này hay bị xếp nhầm. Chùa Tam Bửu là tổ đình của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, nay là Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa, do Đức Bổn Sư Ngô Lợi khai năm 1867. Đây là một tổ chức tôn giáo riêng, được Nhà nước công nhận năm 2010 và mang tên Phật hội từ năm 2020.
Tứ Ân Hiếu Nghĩa nhận ảnh hưởng tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương của Đức Phật Thầy Tây An, nhưng không phải Bửu Sơn Kỳ Hương, và cũng không phải Phật Giáo Hòa Hảo. Mỗi dòng có vị khai đạo, năm khai đạo và tổ chức riêng. Thư viện Vạn Đạo Đường xếp chùa Tam Bửu vào nhóm Bửu Sơn Kỳ Hương và Tứ Ân Hiếu Nghĩa vì hai dòng cùng một mạch tư tưởng, không có ý gộp hai tổ chức làm một.
Chữ Tam Bửu là cách đọc Nam Bộ của Tam Bảo, tức ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng. Chữ Hán ghi ở đầu trang do thư viện ghi theo nghĩa ấy, không chép từ một tấm hoành phi cụ thể.
Theo tư liệu của Phật hội do Ban Tôn giáo Chính phủ giới thiệu, tôn chỉ của đạo là Tu nhân, Học Phật. Học Phật là học giáo pháp, tu nhân là làm trọn đạo làm người ngay trong đời thường. Đường hướng hành đạo hiện nay được nêu trong mấy chữ Hành tứ ân, Sống hiếu nghĩa.
Tứ ân, hay tứ đại trọng ân, là bốn ơn lớn phải báo đáp: ân cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo và ân đồng bào. Bốn ân ấy trùng tên với bốn ân mà Bửu Sơn Kỳ Hương dạy, và đó là chỗ thấy rõ nhất mạch tư tưởng chung. Chỗ riêng của Tứ Ân Hiếu Nghĩa nằm ngay trong tên đạo: bốn ân được đặt đi liền với hai chữ hiếu nghĩa. Hiếu là với cha mẹ tổ tiên, nghĩa là với mọi người mình mang ơn, và sống hiếu nghĩa chính là cách báo ân.
Giáo lý ấy được cụ thể hóa thành Thập nhị lệ sự, mười hai điều tín đồ phải giữ: cúng kiến trời đất, cúng lễ các vị thần, thờ phượng tổ tiên ông bà, sống hiếu thảo với cha mẹ, giữ gìn phép nước, kính trọng ơn thầy, yêu mến anh em, giữ chữ tín với bạn bè, ghi chép làm rõ các tông phái trong dòng họ, sống hòa thuận với bà con xóm giềng, giữ tình nghĩa vợ chồng và chăm lo giáo dục con cháu. Mười hai điều ấy là bốn ân chia nhỏ thành việc làm hằng ngày.
Về kinh, tín đồ đọc tụng các kinh Phật giáo như Bát Dương Kinh, Di Đà Kinh, Kim Cang Thọ Mạng Kinh, Phổ Môn Kinh, cùng Hiếu Nghĩa Kinh là kinh riêng của đạo. Người mới vào đạo được vị Trưởng gánh trao bộ Lòng phái, vật ghi nhận người ấy đã thành tín đồ.
Về mặt khảo được, Đức Bổn Sư Ngô Lợi quê ở Kiến Hòa, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Ban Tôn giáo Chính phủ ghi ông sinh ngày mùng 5 tháng 5 năm Tân Mão, tức năm 1831, và khai đạo đúng ngày sinh của mình năm Đinh Mão 1867. Có nguồn khác ghi năm sinh 1829. Hai năm này vênh nhau, chúng tôi ghi cả hai. Các nguồn thống nhất ông qua đời năm 1890.
Năm 1876 ông đưa tín đồ về chân núi Tượng lập làng An Định, và chùa Tam Bửu ra đời trong làng ấy. Chuyện lập làng được kể ở bài chùa Phi Lai, ngôi chùa quy mô đầu tiên của đạo, cách tổ đình chừng 200 mét.
Về tổ chức, theo Ban Tôn giáo Chính phủ, Phật hội có hai cấp là Ban Trị sự Trung ương và 24 Gánh ở cơ sở, với 75 cơ sở thờ tự, gồm 40 cơ sở nội thôn và 35 cơ sở ngoại thôn, và khoảng 500 chức sắc. Ban Trị sự Trung ương đặt tại tổ đình Tam Bửu, và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Phật hội họp ngày 13 và 14 tháng 7 năm 2025 tại cơ sở Tam Bửu Phi Lai.
Hai chỗ hay hiểu lầm, xin nói bằng giọng sử liệu, không nhằm chê trách ai.
Thứ nhất, Tứ Ân Hiếu Nghĩa không phải một nhánh của Hòa Hảo. Tứ Ân Hiếu Nghĩa khai năm 1867, Phật Giáo Hòa Hảo khai năm 1939. Hai đạo có chung chữ tứ ân và chung vùng Thất Sơn, nhưng tổ đình Tứ Ân Hiếu Nghĩa ở Ba Chúc, còn tổ đình Hòa Hảo ở Phú Tân.
Thứ hai, tứ ân giống nhau không có nghĩa là cùng một tổ chức. Bửu Sơn Kỳ Hương và Tứ Ân Hiếu Nghĩa dạy cùng bốn ân, nhưng Bửu Sơn Kỳ Hương không có một tổ chức trung ương đứng trên các chùa, còn Tứ Ân Hiếu Nghĩa có Ban Trị sự Trung ương và hệ thống Gánh riêng.
IITừ Buổi Lập Làng Tới Tổ Đình Hôm Nay
Các mốc dưới đây ghi theo việc khai đạo, dựng chùa, làm Long Đình, trùng tu và sinh hoạt của giáo hội. Năm dựng chùa có hai cách ghi, xin xem hộp sử liệu ngay sau.
- 1867Khai đạoĐức Bổn Sư Ngô Lợi khai đạo ngày mùng 5 tháng 5 năm Đinh Mão, theo Ban Tôn giáo Chính phủ.
- 1876Về núi Tượng lập làngĐức Bổn Sư đưa tín đồ về chân núi Tượng lập làng An Định. Một số bài báo ghi chùa Tam Bửu dựng từ buổi này.
- 1879Làm ngôi Long ĐìnhTheo một bài khảo đăng trên trang của người theo Bửu Sơn Kỳ Hương, ngôi Long Đình đầu tiên được làm năm này bằng gỗ cam đàn, theo kiểu dáng do Đức Bổn Sư định.
- 1882Năm dựng theo khảo cứuKhảo cứu của Nguyễn Phong Vũ trên tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo năm 2021 ghi Tam Bửu tự An Định được xây dựng năm 1882.
- 1886 và 1888Hai lần trùng tu đầuCũng theo khảo cứu ấy, chùa trải qua năm lần trùng tu, hai lần đầu vào các năm này, ba lần sau trong thế kỷ 20.
- 2020Mang tên Phật hộiSau khi được công nhận tổ chức tôn giáo năm 2010, tên gọi được đổi theo văn bản số 890 ngày 27 tháng 10 năm 2020 của Ban Tôn giáo Chính phủ.
- 2022Khánh thành trùng tu giai đoạn mộtĐợt trùng tu, tôn tạo giai đoạn một của chùa khánh thành ngày 2 tháng 6 năm 2022.
- 2025Đại hội lần thứ IVĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Phật hội họp ngày 13 và 14 tháng 7 tại cơ sở Tam Bửu Phi Lai, nhiệm kỳ 2025 tới 2030.
Có mấy chỗ nguồn ghi vênh nhau, xin nói rõ thay vì chọn bừa.
Về năm dựng chùa. Một số bài báo ghi chùa dựng năm 1876, tức ngay buổi Đức Bổn Sư về núi Tượng. Khảo cứu của Nguyễn Phong Vũ ghi năm 1882. Chúng tôi chưa thấy văn bản nhà nước nào ghi năm dựng riêng cho chùa Tam Bửu. Các nguồn không giải thích chỗ vênh, nên chúng tôi ghi cả hai.
Về tên gọi. Văn bản số 890 năm 2020 dùng tên Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Bài giới thiệu trên trang Ban Tôn giáo Chính phủ lại chép Đại hội lần thứ III thống nhất tên Phật giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Các bản tin năm 2025 dùng chữ Phật hội.
Về số tín đồ. Ban Tôn giáo Chính phủ và báo Đại biểu Nhân dân ghi khoảng 70.000. Báo VietNamNet năm 2025 ghi gần 80.000, sống ở 16 tỉnh thành, riêng An Giang trên 36.000. Các nguồn không ghi năm thống kê.
IIIHơn Ba Mươi Bàn Thờ Và Ngôi Long Đình
Theo khảo cứu của Nguyễn Phong Vũ, chùa chia hai khu vực: khuôn viên là khoảng đất trống trước sân, và phần chính điện gồm sảnh trước, tiền điện và hậu điện. Nhà dựng theo kiểu tứ tượng, bộ vì kèo tạo dáng vuông, một lối nhà quen của Nam Bộ. Đi từ ngoài vào trong là đi qua từng lớp bàn thờ.
Đặt lộ thiên giữa sân, hai tầng, tầng trên thờ Trời, tầng dưới thờ Đất. Đây là lớp thờ đầu tiên, ứng với điều thứ nhất trong Thập nhị lệ sự là cúng kiến trời đất.
Thờ Chư vị, Tả thần và Hữu thần, tức lớp các vị thần linh, ứng với điều thứ hai là cúng lễ các vị thần.
Đặt bàn thờ Thánh, bàn thờ Hội đồng chư Phật, bàn thờ Phật Thầy và bàn thờ Phật Trùm. Đây là lớp thờ Phật và các bậc tiền bối trong mạch đạo vùng Thất Sơn.
Thờ Lịch đại tổ sư, lớp trong cùng, nơi tín đồ tưởng nhớ những người đã giữ đạo qua các đời.
Khối gỗ chạm rồng phượng thếp vàng, cao chừng ba mét, mỗi mặt chừng hai mét. Bên trong đặt đôi đôn, giá gỗ sơn son và ấn.
Khảo cứu kể các bàn thờ chính theo từng gian, còn con số hơn ba mươi bàn thờ là tính cả các bàn phụ trong mỗi lớp. Đó là giáo lý hiện ra thành đồ thờ: mỗi ơn phải nhớ có một chỗ để lạy.
Ngôi Long Đình là vật được giữ trang trọng nhất trong chùa. Hồ sơ của thư viện ghi Long Đình cao chừng 3 mét, mỗi mặt chừng 2 mét, bằng gỗ chạm rồng phượng thếp vàng, bên trong đặt đôi đôn, giá gỗ sơn son và ấn, và tín đồ tin đây là bản gốc giữ từ buổi đầu. Một bài khảo đăng trên trang của người theo Bửu Sơn Kỳ Hương thì kể khác: ngôi đầu tiên làm năm 1879 bằng gỗ cam đàn, bên trong có cặp gối mặt thụt, cặp thước Lỗ Ban Xích cùng bản tiền và bản phái, về sau ngôi ấy thất lạc, ngôi đang thấy là ngôi làm lại đặt trên nền cũ. Hai cách kể vênh nhau cả về chuyện bản gốc lẫn về đồ đặt bên trong. Chúng tôi ghi cả hai.
Đợt trùng tu, tôn tạo gần nhất khánh thành giai đoạn một ngày 2 tháng 6 năm 2022.
Người lần đầu thấy Long Đình thường nghĩ đó là một khám thờ tượng, hoặc một cỗ kiệu để rước. Không phải. Bên trong không có tượng, và theo bài khảo nói trên, Long Đình được giữ như để thờ một đấng bề trên đang vắng mặt.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong tư liệu của đạo. Chúng tôi không thấy tư liệu nào của Tứ Ân Hiếu Nghĩa ghi việc chọn đất theo phép xem đất, và chưa có tư liệu ghi độ hướng của cửa chùa. Những dòng dưới đây chỉ là chỗ đối chiếu cho quý vị quen lối đọc cổ truyền.
Điều đầu tiên là núi. Chùa nằm ở khóm An Định dưới chân núi Tượng, một trong các khối núi của vùng Thất Sơn nhô lên giữa đồng bằng. Giữa châu thổ gần như không có chỗ tựa, núi thật ở gần là hậu chẩm, cái gối kê lưng mà phép cũ coi trọng.
Điều thứ hai là trục thờ đi từ ngoài vào trong. Bàn thờ Thông Thiên đặt lộ thiên giữa sân, không có mái che, thẳng với trời. Qua sảnh trước là lớp thần linh, qua tiền điện là lớp chư Phật và tiền bối, vào hậu điện là lớp tổ sư. Con mắt cũ đọc một trục như thế là trục từ dương vào âm: ngoài sáng, trống, mở lên trời, trong kín, tĩnh, gom lại.
Điều thứ ba là chỗ của Long Đình. Trong một công trình nhiều lớp, vật được giữ trang trọng nhất thường được coi như huyệt của cả ngôi nhà, chỗ khí tụ lại. Long Đình đóng đúng vai ấy.
Cuối cùng, Tam Bửu nằm giữa làng đạo An Định chứ không tách lên một đỉnh núi. Theo tư liệu của đạo, chỗ đứng ấy đến từ việc Đức Bổn Sư lập làng theo sơ đồ, không từ một phép xem đất nào.
VHai Kỳ Lễ Lớn Ở Tổ Đình
Phật hội có hai lễ lớn trong năm, cả hai tính theo âm lịch và cả hai gắn với Đức Bổn Sư. Tổ đình Tam Bửu là nơi tín đồ các Gánh ở nhiều tỉnh Nam Bộ tìm về trong hai kỳ ấy.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 5 tháng 5 | Lễ khai sáng đạo và ngày sinh Đức Bổn Sư | Kỷ niệm ngày Đức Bổn Sư Ngô Lợi khai đạo năm Đinh Mão 1867, trùng với ngày sinh của ông. Lễ lớn nhất trong năm, tín đồ nhiều tỉnh về tổ đình. |
| 13 tháng 10 | Lễ vía Đức Bổn Sư | Ngày Đức Bổn Sư qua đời năm 1890. Tín đồ về tổ đình dâng hương và tụng kinh. |
Hai ngày lễ đều là ngày của Đức Bổn Sư. Với một đạo lấy hiếu nghĩa làm tên, tín đồ nhớ người khai đạo như nhớ cha mẹ.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Khóm An Định A, xã Ba Chúc (thị trấn Ba Chúc cũ, huyện Tri Tôn cũ), tỉnh An Giang
- Đường tới
- Chùa nằm ở khóm An Định A, xã Ba Chúc, trên địa bàn huyện Tri Tôn cũ, tỉnh An Giang, dưới chân núi Tượng. Từ trung tâm Ba Chúc đi vào khu An Định một quãng ngắn là tới.
- Toạ độ
- 10.4982, 104.9078
Đây là tổ đình đang hoạt động của một tổ chức tôn giáo, không phải điểm tham quan, nên lệ của tổ đình là lệ phải theo. Vài điều thường được nhắc: ăn mặc kín đáo và giản dị, đi nhẹ nói khẽ khi đi qua các lớp bàn thờ, không chạm vào ngôi Long Đình và các đồ thờ, hỏi người trông coi chùa trước khi chụp ảnh bên trong. Bàn thờ Thông Thiên ngoài sân cũng là nơi thờ, xin đừng đặt đồ lên đó.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Tam Bửu
Contribute photos, information or video for Tam Buu PagodaThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
chùa tam bửu ba chúc thuộc đạo nào
Thuộc đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, nay là Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa, và là tổ đình của đạo, nơi đặt Ban Trị sự Trung ương. Đạo do Đức Bổn Sư Ngô Lợi khai năm 1867, là một tổ chức tôn giáo riêng, nhận ảnh hưởng Bửu Sơn Kỳ Hương nhưng không phải Bửu Sơn Kỳ Hương và không phải Hòa Hảo.
tứ ân hiếu nghĩa thờ gì
Đạo thờ nhiều lớp: trời đất, các vị thần, chư Phật, Tam giáo, các bậc tiền bối và tổ sư. Riêng chùa Tam Bửu có hơn ba mươi bàn thờ, từ bàn thờ Thông Thiên ngoài sân tới bàn thờ Lịch đại tổ sư ở hậu điện. Lối thờ ấy đi theo Thập nhị lệ sự của đạo.
tứ ân là những ân gì
Theo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, bốn ân lớn là ân cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo và ân đồng bào. Đạo gắn bốn ân với hai chữ hiếu nghĩa, và cụ thể hóa thành mười hai điều gọi là Thập nhị lệ sự, từ cúng trời đất, cúng thần, thờ tổ tiên tới hòa thuận xóm giềng và dạy dỗ con cháu.
long đình chùa tam bửu là gì
Là một khối gỗ chạm rồng phượng thếp vàng, cao chừng ba mét, giữ ở chỗ trang trọng nhất trong chùa, bên trong đặt đôn, giá gỗ sơn son và ấn, không đặt tượng. Tín đồ tin đây là bản gốc từ buổi đầu, nhưng một bài khảo khác cho rằng ngôi đầu làm năm 1879 đã thất lạc và ngôi nay là ngôi làm lại.
chùa tam bửu có lễ lớn ngày nào
Hai lễ lớn theo âm lịch là mùng 5 tháng 5, kỷ niệm ngày khai đạo và ngày sinh Đức Bổn Sư Ngô Lợi, và 13 tháng 10, lễ vía ngày Đức Bổn Sư qua đời. Trong hai kỳ ấy tín đồ các Gánh ở nhiều tỉnh Nam Bộ về tổ đình dự lễ.