VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishENVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Tam Bửu

Tam Bửu tự, tổ đình Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa

Xã Ba Chúc, tỉnh An Giang · Khởi dựng 1876 - 1882 · Tứ Ân Hiếu Nghĩa · Di tích lịch sử cấp quốc gia (1980)

Vai trò
Tổ đình
nơi đặt Ban Trị sự Trung ương Phật hội
Khởi dựng
1876 · 1882
lập trại 1876, hoàn chỉnh chùa 26/6/1882
Xếp hạng
Di tích quốc gia
xếp hạng ngày 10 tháng 7 năm 1980

Nằm dưới chân núi Tượng (Liên Hoa Sơn) thuộc xã Ba Chúc, đối diện qua con đường nhỏ với chùa Phi Lai, chùa Tam Bửu là Tổ đình trung tâm của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa (nay là Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa). Công trình được Đức Bổn Sư Ngô Lợi (1831 - 1890) khởi lập trong giai đoạn đưa lưu dân vào mở đất lập bốn thôn quanh núi Tượng từ năm 1876 đến năm 1882, gắn liền với ngôi đình Tam Bửu phía trước theo bố cục tiền đình hậu tự.

Giữa không gian thờ tự treo trần điều đỏ và hồng điều không đặt tượng cốt Phật, chùa Tam Bửu còn lưu giữ một pháp bảo gắn liền với lịch sử thăng trầm của đạo là ngôi Long Đình bằng gỗ cam đàn do chính Đức Bổn Sư vẽ kiểu cho đệ tử chạm khắc năm Kỷ Mão (1879) để thờ Đức Phật Vương. Trải qua biến cố bị quân Pháp và Trần Bá Lộc lấy đi năm 1885 rồi đưa vào bảo tàng ở Sài Gòn suốt nhiều thập niên, ngôi Long Đình đã được rước trở về an vị tại Tổ đình Tam Bửu vào tháng 5 năm 1971.

Chùa Tam Bửu
Chùa Tam Bửu. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, giấy phép CC BY-SA 3.0, nguồn Wikimedia Commons.

IVì sao chùa Tam Bửu là Tổ đình của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa

Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là một tôn giáo nội sinh ra đời ở vùng châu thổ sông Cửu Long nửa sau thế kỷ 19, tiếp nối mạch giáo lý Học Phật Tu Nhân của hệ phái Bửu Sơn Kỳ Hương và lấy việc báo đáp bốn ân nặng (ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo, ân đồng bào và nhân loại) làm nền tảng tu hành. Người khai sáng đạo là Đức Bổn Sư Ngô Lợi (còn gọi là Ngô Viện, Năm Thiếp, 1831 - 1890), mở đạo ngày mùng 5 tháng 5 năm Đinh Mão (1867). Về địa điểm khai đạo năm 1867, tài liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ, Báo Đại biểu Nhân dân và khảo cứu của Nguyễn Phong Vũ ghi tại Cù lao Ba (xã Vĩnh Trường, huyện An Phú, tỉnh An Giang), trong khi sách Địa chí An Giang ghi tại vùng Ba Chúc.

Năm 1876, Đức Bổn Sư dẫn đệ tử vào vùng đất hoang quanh chân núi Tượng khai khẩn ruộng đất, quy tụ lưu dân lập nên bốn thôn An Định, An Hòa, An Lập và An Thành. Tại thôn An Định, ngài cho xây dựng hai cụm cơ sở thờ tự lớn nằm đối diện nhau là chùa Phi Lai (gắn với đình An Định) và chùa Tam Bửu (gắn với đình Tam Bửu). Trong đó, chùa Tam Bửu là nơi Đức Bổn Sư thường trực cư trú, thuyết pháp, cấp lòng phái cho bá tánh và đặt ngôi Long Đình thờ Đức Phật Vương, vì vậy được toàn thể tín đồ tôn làm Tổ đình và hiện là nơi đặt trụ sở của Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

Theo sử liệu

Về năm khởi dựng chùa Tam Bửu, các bài báo và tài liệu giới thiệu chung thường ghi năm 1876 (thời điểm mở đất lập trại ruộng hoặc am lá ban đầu), trong khi mục từ trên Wikipedia tiếng Việt và bài khảo cứu của Nguyễn Phong Vũ (Nghiên cứu Tôn giáo, số 3 năm 2021, trang 80) ghi chùa Tam Bửu tại thôn An Định được xây dựng vào ngày 26 tháng 6 năm 1882.

Về tổng số cơ sở thờ tự của đạo, khảo cứu thực địa của Nguyễn Phong Vũ (2021, trang 79 - 80) thống kê toàn đạo có 75 cơ sở thờ tự, gồm 37 cơ sở nội thôn tại bốn thôn quanh núi Tượng (15 chùa, 4 đình, 14 miếu, 4 mộc hương) và 38 cơ sở ngoại thôn, trong khi một số bài giới thiệu trên báo chí ghi 40 cơ sở nội thôn và 35 cơ sở ngoại thôn.

IICác mốc lịch sử từ thời mở đất đến ngày nay

  • 5/5/1867Đức Bổn Sư Ngô Lợi khai sáng đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa
    Ngô Lợi khai đạo ngày mùng 5 tháng 5 năm Đinh Mão (1867) tại Cù lao Ba (theo Ban Tôn giáo Chính phủ và Nguyễn Phong Vũ) hoặc tại Ba Chúc (theo Địa chí An Giang), truyền dạy pháp môn Học Phật Tu Nhân và cấp lòng phái cho tín đồ.
  • 1876 - 1882Lập tứ thôn quanh núi Tượng, đóng Long Đình và dựng chùa Tam Bửu
    Từ năm 1876, Đức Bổn Sư đưa tín đồ vào chân núi Tượng lập bốn thôn và dựng cơ sở thờ tự ban đầu. Năm Kỷ Mão (1879), ngài vẽ kiểu cho thợ đóng ngôi Long Đình bằng gỗ cam đàn lấy trên núi Dài để đặt tại chùa. Ngày 26 tháng 6 năm 1882, ngôi chùa Tam Bửu gắn với đình Tam Bửu được xây dựng hoàn chỉnh.
  • 1885 - 1888Biến cố đốt chùa, Long Đình bị lấy đi và hai lần dựng lại
    Tháng Giêng năm Ất Dậu (1885), quân Pháp và Trần Bá Lộc kéo vào núi Tượng đốt phá chùa miếu, lấy đi ngôi Long Đình đưa về Cái Bè (năm 1935 con trai Trần Bá Lộc là Trần Bá Tư đem vào Viện Bảo tàng Sài Gòn). Sau các đợt đốt phá năm 1885 và 1887, Đức Bổn Sư cùng tín đồ quay về dựng lại chùa vào các năm 1886 và 1888.
  • 1890Đức Bổn Sư Ngô Lợi viên tịch tại núi Tượng
    Ngày 13 tháng 10 năm Canh Dần (1890), Đức Bổn Sư viên tịch. Từ đây đạo không lập giáo chủ kế vị mà do các bậc cao đồ và ban quản tự tại Tổ đình Tam Bửu cùng các thôn coi sóc.
  • 1949, 1970, 1971, 1980Ba đợt trùng tu thế kỷ 20, rước Long Đình về chùa và xếp hạng di tích
    Theo khảo cứu của Nguyễn Phong Vũ, trong thế kỷ 20 chùa Tam Bửu trải qua ba đợt trùng tu lớn vào các năm 1949, 1970 và 1980. Tháng 5 năm 1971, ngôi Long Đình nguyên bản được tín đồ cung thỉnh từ Sài Gòn trở về an vị tại chùa Tam Bửu. Ngày 10 tháng 7 năm 1980, chùa được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia.
  • 2010 - 2020Trụ sở của Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa
    Từ năm 2010, cộng đồng tín đồ sinh hoạt trong tổ chức Đạo hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa và từ sau Đại hội đại biểu tín đồ lần thứ III năm 2020 mang tên Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa, đặt trụ sở trung tâm tại chùa Tam Bửu.

IIIBố cục tiền đình hậu tự, hai tòa điện thờ và ngôi Long Đình

Tổng thể tiền đình hậu tự

Cũng như chùa Phi Lai đối diện, chùa Tam Bửu được quy hoạch theo bố cục tiền đình hậu tự. Phía trước là đình Tam Bửu thờ Thành hoàng cùng Tiền hiền, Hậu hiền, Cửu huyền thất tổ và Bá tánh vạn dân, là nơi hội họp của cư dân thôn ấp và cử hành lễ Kỳ yên. Phía sau đình là khu vực chùa gồm hai tòa tiền điện và hậu điện tách biệt nằm nối tiếp trên trục chính.

Ngoài sân và ngôi Long Đình

Ngoài sân trước chùa đặt cột phướn, bàn thờ Thông thiên, bàn thờ Tiền hiền - Hậu hiền (thờ trung thần Nguyễn Trung Trực bên Tiền hiền và cụ Cử Đa Nguyễn Hữu Huân bên Hậu hiền) và bàn thờ Cửu phẩm. Điểm riêng biệt của chùa Tam Bửu là khu vực trước tiền điện có ngôi thờ Đức Phật Vương gắn với ngôi Long Đình bằng gỗ cam đàn chạm trổ tinh xảo đóng từ năm 1879, trên đặt cặp gối mặt thụt, cặp thước Lỗ Ban Xích cùng bản tiền, bản phái.

Tiền điện

Theo khảo cứu thực địa của Nguyễn Phong Vũ (2021, trang 88 - 91), tại trung tâm tiền điện chùa Tam Bửu đặt bàn thờ Quan Thánh đế quân (có tranh thờ Quan Thánh, khác với chùa Phi Lai thờ Ngọc Hoàng ở vị trí này), cùng bàn thờ Thánh và bàn thờ Hội đồng chư Phật (Tây phương cực lạc, bên dưới đặt bàn thờ Thập điện Diêm Vương). Ở vị trí Tả và Hữu Mạng thần quan, tiền điện chùa Tam Bửu đặt bàn thờ Tả Thần Thơ và Hữu Quốc Lũy.

Hậu điện

Tòa hậu điện phía sau thờ Lịch đại tổ sư ở lớp ngoài và lớp trong cùng đặt ba bàn thờ Quan Thánh ở giữa, Tam giáo bên trái và Minh Sư bên phải. Xung quanh hậu điện bố trí bàn thờ Tứ đại thần châu cùng bàn thờ Cửu huyền thất tổ và Bá tánh vạn dân. Riêng tại hậu điện chùa Tam Bửu còn có thêm các ngôi thờ Đức Phật Thầy Tây An, Đức Bổn Sư Ngô Lợi và Phật Trùm, thể hiện rõ mạch truyền thừa từ Bửu Sơn Kỳ Hương sang Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

Theo sử liệu

Một số bản mô tả khái quát trước đây đôi khi xếp bàn thờ Phật Thầy và Phật Trùm vào phần tiền điện của chùa Tam Bửu. Khi đối chiếu trực tiếp với bài khảo cứu của Nguyễn Phong Vũ (Nghiên cứu Tôn giáo, số 3 năm 2021, trang 90 - 91), tác giả ghi nhận rõ tại Tam Bửu tự An Định, ngôi thờ Phật Vương đặt ở khu vực trước của tiền điện, trung tâm tiền điện thờ Quan Thánh đế quân, còn bàn thờ Phật Thầy, Đức Bổn Sư và Phật Trùm được đặt ở phần hậu điện.

IVThế đất dưới chân núi Tượng của cụm Tổ đình Ba Chúc

Chùa Tam Bửu tọa lạc trên dải đất cao ráo ở phía đông chân núi Tượng (Liên Hoa Sơn, cao khoảng một trăm bốn mươi lăm mét), thuộc thôn An Định xưa, nay là trung tâm xã Ba Chúc. Ngôi chùa nằm cách chân vách đá núi Tượng khoảng hai trăm mét và đối diện qua trục đường chính với chùa Phi Lai, tạo thành cụm kiến trúc tôn giáo hạt nhân của vùng đất tứ thôn.

Bao quanh vùng đồng bằng Ba Chúc là các ngọn núi của dãy Thất Sơn, gần nhất là núi Tượng đứng độc lập giữa đồng và xa hơn về phía đông nam là dãy núi Dài (Ngọa Long Sơn) chạy dọc như một bức tường thành tự nhiên. Vào thập niên 1870, địa thế rừng núi xen lẫn đồng trũng này giúp Đức Bổn Sư Ngô Lợi và các đệ tử vừa có đất đai màu mỡ để khẩn hoang lập ấp, vừa có điểm tựa địa hình để che chở cho cộng đồng lưu dân.

Thế đất và hướng

Xét theo phép hình thế cổ truyền, khối núi Tượng nằm ngay phía sau đóng vai trò hậu chẩm (núi dựa lưng) vững chãi cho cụm Tổ đình Tam Bửu và chùa Phi Lai. Tên chữ Liên Hoa Sơn (núi Hoa Sen) và tên dân gian núi Tượng (núi Voi) đều gợi hình ảnh linh vật và đài sen nâng đỡ chốn già lam giữa vùng đồng bằng trũng.

Mặt trước của cụm đình và chùa mở ra cánh đồng Ba Chúc rộng phẳng làm minh đường, xa xa có dãy núi Dài (Ngọa Long Sơn) làm tiền án che chắn. Sự kết hợp giữa thế núi cô phong tụ khí ở sát phía sau và vùng đồng ruộng mở rộng ở phía trước tạo nên thế đất vừa trang nghiêm kín đáo cho chốn Tổ đình, vừa thuận tiện giao thông để tín đồ từ khắp các tỉnh miền Tây hội tụ về lễ Tổ.

Thư viện ghi nhận hiện chưa có số liệu đo đạc độ số la bàn chi tiết của trục đình và chùa Tam Bửu, nên phần đọc thế đất này chỉ xét trên mối tương quan địa hình tổng thể giữa núi Tượng, núi Dài và cánh đồng Ba Chúc.

VCác kỳ đại lễ tại Tổ đình và nếp sống của thân bằng

Là Tổ đình trung tâm của Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa, chùa Tam Bửu là nơi diễn ra các kỳ đại lễ quan trọng nhất trong năm của toàn đạo. Trọng tâm là ngày Đại lễ khai sáng đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa kết hợp kỷ niệm ngày sinh Đức Bổn Sư Ngô Lợi vào mùng 5 tháng 5 âm lịch (Tết Đoan Ngọ), ngày vía Đức Bổn Sư viên tịch vào 13 tháng 10 âm lịch và các kỳ lễ Kỳ yên tại đình Tam Bửu. Mỗi dịp đại lễ, hàng vạn tín đồ từ 16 tỉnh, thành phố miền Tây và Đông Nam Bộ về dự lễ, tạo nên không khí hành hương trang trọng và gắn kết.

Tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa gọi nhau là thân bằng, giữ nếp sống hiền hòa, tương trợ nhau trong lao động và việc hiếu hỷ. Khi hành lễ tại Tổ đình Tam Bửu, tín đồ mặc áo vạt hò hoặc áo bà ba màu đen hay trắng, tóc búi củ hành cài trâm, dâng lễ vật thuần chay gồm hương, đăng, trà, quả, hoa tươi và nước sạch, cùng tụng niệm các bộ kinh khuyên người tu nhân tích đức, giữ trọn đạo hiếu với ông bà cha mẹ và nghĩa tình với đồng bào, đất nước.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Khóm An Định A, xã Ba Chúc (thị trấn Ba Chúc cũ, huyện Tri Tôn cũ), tỉnh An Giang
Đường tới
Chùa tọa lạc ở phía đông chân núi Tượng, thuộc xã Ba Chúc (thị trấn Ba Chúc cũ, huyện Tri Tôn cũ), tỉnh An Giang. Từ phường Châu Đốc (thành phố Châu Đốc cũ), đi theo Quốc lộ 91 về hướng Tịnh Biên rồi rẽ vào đường tỉnh 948 hoặc đường tỉnh 955B đi về xã Ba Chúc khoảng bốn mươi cây số là tới cụm di tích chùa Tam Bửu và chùa Phi Lai dưới chân núi Tượng.
Toạ độ
10.4983, 104.9078
Khi tới nơi

Chùa Tam Bửu là Tổ đình đang sinh hoạt tôn giáo thường xuyên, du khách đến viếng cần mặc trang phục lịch sự, kín đáo và giữ yên lặng nơi điện thờ.

Khi vào khu vực trước tiền điện để chiêm bái ngôi Long Đình cổ đóng từ năm 1879, chỉ quan sát từ phía ngoài theo hướng dẫn của ban quản tự, không tự ý chạm tay vào hiện vật.

Từ sân chùa Tam Bửu chỉ cần bước qua đường là tới chùa Phi Lai và đình An Định, rất thuận tiện để thăm trọn cặp di tích gốc của thôn An Định xưa.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Tam Bửu

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.

?Hỏi Đáp Nhanh

Vì sao chùa Tam Bửu được gọi là Tổ đình của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa

Chùa Tam Bửu là nơi Đức Bổn Sư Ngô Lợi trực tiếp cư trú, truyền đạo, cấp lòng phái và đặt ngôi Long Đình thờ Đức Phật Vương trong thời kỳ mở đất lập bốn thôn quanh núi Tượng. Sau khi Đức Bổn Sư viên tịch năm 1890, đạo không lập giáo chủ kế vị nên chùa Tam Bửu trở thành trung tâm điều hành việc đạo và hiện là trụ sở của Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

Ngôi Long Đình ở chùa Tam Bửu có lai lịch thế nào

Năm Kỷ Mão (1879), Đức Bổn Sư Ngô Lợi vẽ kiểu cho các thợ mộc giỏi trong hàng tín đồ dùng gỗ cây cam đàn lấy trên núi Dài để đóng ngôi Long Đình đặt tại chùa Tam Bửu thờ Đức Phật Vương. Năm 1885, khi quân Pháp và Trần Bá Lộc đốt phá thôn ấp đã lấy ngôi Long Đình đem về Cái Bè (tín đồ tại chùa phải đóng một ngôi Long Đình khác thay thế). Năm 1935, con trai Trần Bá Lộc đem hiện vật này vào Viện Bảo tàng Sài Gòn. Đến tháng 5 năm 1971, ngôi Long Đình nguyên bản được hoàn trả và rước về lại chùa Tam Bửu.

Chùa Tam Bửu khởi dựng năm 1876 hay năm 1882

Các nguồn tài liệu ghi nhận cả hai mốc gắn với hai giai đoạn hình thành của di tích. Năm 1876 là thời điểm Đức Bổn Sư Ngô Lợi dẫn đệ tử vào chân núi Tượng khai hoang lập thôn và dựng cơ sở thờ tự ban đầu. Còn ngày 26 tháng 6 năm 1882 là mốc xây dựng hoàn chỉnh ngôi chùa Tam Bửu gắn với đình Tam Bửu như khảo cứu của Nguyễn Phong Vũ (2021) và Wikipedia ghi nhận.

Chùa Tam Bửu có thờ Đức Phật Thầy Tây An không

Có. Theo khảo cứu thực địa của Nguyễn Phong Vũ (2021), tại tòa hậu điện của chùa Tam Bửu, bên cạnh bàn thờ Lịch đại tổ sư, Tam giáo và Tứ đại thần châu còn có bàn thờ Đức Phật Thầy Tây An, Đức Bổn Sư Ngô Lợi và Phật Trùm, phản ánh mối liên hệ lịch sử mật thiết giữa đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa và truyền thống Bửu Sơn Kỳ Hương.

Đại lễ quan trọng nhất trong năm tại Tổ đình Tam Bửu là ngày nào?

Hai kỳ đại lễ lớn nhất tại Tổ đình Tam Bửu là ngày Đại lễ khai sáng đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa kết hợp kỷ niệm ngày sinh Đức Bổn Sư Ngô Lợi vào mùng 5 tháng 5 âm lịch (Tết Đoan Ngọ) và ngày vía Đức Bổn Sư viên tịch vào 13 tháng 10 âm lịch.

›Đọc Tiếp