Đi dọc theo con đường dưới chân núi Két thuộc phường Thới Sơn, khách hành hương về vùng Bảy Núi thường ghé thăm cụm ba di tích nằm gần nhau gồm chùa Phước Điền, chùa Thới Sơn và đình Thới Sơn. Người dân quanh vùng ít khi gọi tên chữ Phước Điền Tự mà quen gọi thẳng là chùa Trại Ruộng. Tên gọi dân dã ấy giữ lại đúng gốc tích của ngôi chùa từ giữa thế kỷ 19, khi nơi đây là một trại ruộng do Phật Thầy Tây An (Đoàn Minh Huyên, 1807 - 1856) cùng các đệ tử dựng lên để vừa khẩn hoang cày cấy vừa tu hành.
Bước vào chánh điện chùa Phước Điền, người viếng chùa bắt gặp ngay nét riêng của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Trên ngôi Tam bảo không có tượng Phật đúc đồng hay chạm gỗ, không treo tranh vẽ, không có chuông trống, chỉ có tấm vải đỏ gọi là trần điều căng trang nghiêm phía trên cùng bình bông, đĩa quả và chén nước lã. Trên các hàng cột đá hoa cương nâng mái chùa, ngoài những câu đối chữ Hán còn có những dòng câu đối khắc bằng một lối chữ viết rất lạ, đọc lên thành tiếng Việt và âm Hán Việt nhưng hình chữ không giống chữ Hán hay chữ Nôm quen thuộc.

IVì sao chùa có tên gọi Trại Ruộng
Khoảng năm 1849 đến 1851, sau khi thu nhận đông đảo tín đồ trong vùng sông Hậu và về ở tại chùa Tây An núi Sam, Đức Phật Thầy Tây An cử các đệ tử dẫn dân nghèo vào vùng rừng hoang dưới chân núi Két (Anh Vũ Sơn) để mở đất. Đoàn mở đất dưới chân núi Két chia làm hai nhóm, một nhóm do cụ Bùi Văn Thân (tức Tăng Chủ Bùi Thiền Sư) hướng dẫn lập trại ruộng Hưng Thới, nhóm còn lại do người em là cụ Bùi Văn Tây (tức Đình Tây) trông coi lập trại ruộng Xuân Sơn. Từ hai trại ruộng này, lưu dân lập nên hai làng Hưng Thới và Xuân Sơn, về sau hợp thành vùng Thới Sơn.
Trong cách tu của Bửu Sơn Kỳ Hương, trại ruộng là nơi tín đồ tự làm lấy để có cái ăn mà tu, ban ngày phát rẫy cày ruộng, tối về lễ Phật và nghe giảng đạo lý Tứ Ân. Trại ruộng Hưng Thới về sau được tu bổ thành chùa Phước Điền, còn trại ruộng Xuân Sơn trở thành chùa Thới Sơn. Tên chữ Phước Điền mang hai lớp nghĩa gắn kết nhau, vừa là thửa ruộng thực tế nuôi sống dân nghèo buổi đầu mở đất, vừa là ruộng phước trong nhà Phật, nơi người tu gieo trồng hạt giống lành ngay trong đời sống lao động.
Sách Bửu Sơn Kỳ Hương của Vương Kim và Đào Hưng (trích đăng trên hoahao.org ở mục 7. Những di tích có liên hệ đến Đức Phật Thầy) chép nguyên văn hai đôi liễn chữ Hán tại Phước Điền Tự. Đôi liễn thứ nhất mở đầu bằng hai chữ Phước Điền đọc thuận nghịch Phước điền võ lộ công gia võ, Võ lộ công gia võ phước điền, còn đôi liễn thứ hai viết Mộc thủy bổn nguyên duy triệu tịch, Từ bi phổ tế độ chúng sanh. Đây là tư liệu văn bản xác nhận tên chữ Phước Điền Tự đã gắn với di tích từ sớm.
IITừ trại ruộng Hưng Thới đến ngôi chùa ngày nay
- 1849 - 1851Mở trại ruộng Hưng Thới dưới chân núi KétPhật Thầy Tây An cử đại đệ tử Bùi Văn Thân (Tăng Chủ Bùi Thiền Sư) cùng người em là Bùi Văn Tây (Đình Tây) dẫn tín đồ vào chân núi Két phát rẫy làm ruộng, dựng trại ruộng Hưng Thới và Xuân Sơn. Giai thoại địa phương kể rằng đôi trâu Sấm, Sét của Phật Thầy đã góp sức kéo gỗ dựng trại ruộng này.
- Cuối thế kỷ 19 - thế kỷ 20Tu bổ từ trại ruộng thành cảnh chùa và giữ lại câu đối cổSau khi anh em ông Tăng Chủ và ông Đình Tây viên tịch, trại ruộng được các thế hệ tín đồ và quản tự mở rộng thành cảnh chùa trang nghiêm. Qua các đợt trùng tu bằng vật liệu kiên cố, ban quản tự đã cho khắc phục chế nguyên trạng các câu đối chữ Hán và chữ lạ của tiền nhân lên hệ thống cột đá hoa cương.
- 26/8/1999Công nhận di tích lịch sử cấp tỉnhỦy ban nhân dân tỉnh An Giang ra quyết định công nhận chùa Phước Điền là di tích lịch sử cấp tỉnh vào ngày 26 tháng 8 năm 1999, cùng đợt với chùa Thới Sơn và đình Thới Sơn trong cụm di tích dưới chân núi Két.
Buổi đầu mới lập, trại ruộng chỉ là những nếp nhà dựng bằng gỗ rừng và lợp lá để che mưa nắng cho nông cụ, lúa giống và làm nơi lễ bái. Phật Thầy Tây An không ở cố định một chỗ mà thường qua lại giữa chùa Tây An ở núi Sam với các trại ruộng để chỉ dạy cách làm ăn và tu tập. Mọi việc trông coi trại ruộng ở Thới Sơn được ngài giao cho hai anh em ông Tăng Chủ và ông Đình Tây cùng các đệ tử đảm trách.
Khi lưu dân về tụ cư ngày một đông, rừng hoang dưới chân núi Két biến thành ruộng lúa và vườn cây ăn trái. Sau khi các vị đại đệ tử qua đời, tín đồ dựng lại trại ruộng Hưng Thới thành ngôi chùa mang tên Phước Điền Tự. Sách Bửu Sơn Kỳ Hương trên hoahao.org khi nhắc đợt sùng tu lớn năm Tân Tỵ 1941 kèm việc đào ao sen và trồng hàng dương phía trước là đang chép chung về trại ruộng Thới Sơn gần khu mộ hai ông Tăng Chủ và Đình Tây. Riêng tại chùa Phước Điền, theo lời người quản tự trả lời nhóm khảo cứu văn khắc địa phương, các câu đối chữ lạ đã có từ thời các đời quản tự trước và được giữ nguyên tự dạng khi trùng tu chùa bằng đá hoa cương.
IIIHai gian thờ trần điều, linh vị Phật Thầy và câu đối chữ lạ
Theo khảo cứu điền dã tại chùa, phía trước cửa chùa có ngôi miếu thờ Trăm quan (chư vị quan thần). Trong khuôn viên chùa còn giữ được một giếng nước cổ gắn với đời sống của lưu dân buổi đầu mở đất, bên trên có dựng nhà mát che nắng mưa đề dòng chữ Hán Tỉnh đường kiến lập kỷ niệm sư.
Ngôi chùa chính gồm hai gian nối tiếp nhau và một hậu liêu rộng phía sau. Gian trước là chánh điện thờ Tam bảo, chư Phật, Bồ tát và Thánh chúng với tấm vải đỏ (trần điều) căng trên cao, không đặt cốt tượng hay chuông mõ. Gian sau thờ Thầy Tổ và Cửu huyền thất tổ trăm họ, nơi đặt linh vị Đức Phật Thầy Tây An ghi rõ ngài thuộc Lâm Tế chánh tông đời thứ 38, pháp danh Minh Huyên, đạo hiệu Giác Linh, sinh giờ Ngọ ngày 15 tháng 10 năm Đinh Mão (1807), viên tịch giờ Ngọ ngày 12 tháng 8 năm Bính Thìn (1856).
Điểm độc đáo riêng có của chùa Phước Điền là trên các cột chùa, bên cạnh câu đối chữ Hán còn có một loạt câu đối viết bằng thứ chữ lạ không giống chữ Hán hay chữ Nôm truyền thống. Khi đọc theo âm truyền lại tại chùa, các câu đối này kết hợp cả âm Hán Việt (như câu Thổ vượng nhơn tùng nhơn thổ vượng, Thần an trạch dẫn tự an thần) lẫn tiếng Việt thuần (như câu Ngày mười tám tháng bảy hoàn cầu tỏ rạng). Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ địa phương nhận định đây là lối chữ được tạo lập có quy tắc, nhiều khả năng do các bậc tiền bối của hệ phái sáng tạo trong buổi đầu mở đất.
Một số bài viết tổng hợp trước đây đôi khi gộp chung danh sách các ngôi thờ của chùa Thới Sơn (như bàn thờ Thập nhị Hiền thủ, Năm non bảy núi đăng trên Báo Cần Thơ) sang chùa Phước Điền. Khi đối chiếu trực tiếp với sách Bửu Sơn Kỳ Hương trên hoahao.org và bài khảo cứu điền dã Có một loại chữ lạ tại chùa Phước Điền, thư viện tách bạch rõ bố cục hai gian của chùa Phước Điền cùng linh vị Đức Phật Thầy Tây An và miếu thờ Trăm quan phía trước.
IVThế đất dưới chân núi Két của vùng trại ruộng xưa
Chùa Phước Điền nằm trên dải đất bằng dưới chân núi Két (Anh Vũ Sơn), thuộc rìa phía đông của cụm Thất Sơn. Giữa thế kỷ 19, khu vực từ núi Sam đi vào Nhà Bàng và chân núi Két còn là rừng rậm xen lẫn lung bàu ngập nước, đường đi phải men theo lối mòn quanh co. Nhờ địa hình có núi đá che khuất phía sau và đồng đất trũng phía trước, nơi đây vừa kín đáo để các đệ tử Phật Thầy ẩn cư tu tập, vừa có nguồn đất phù sa và nước ngọt từ khe núi chảy xuống để biến rừng hoang thành ruộng lúa.
Cụm ba di tích chùa Phước Điền, chùa Thới Sơn và đình Thới Sơn phân bố dọc theo vành đai chân núi Két. Phía sau là vách đá dựng đứng với những tảng đá lớn chồng chất tạo thành hình mỏ chim két trên đỉnh núi cao khoảng hai trăm hai mươi lăm mét, phía trước mở ra cánh đồng bằng phẳng nối về hướng Tịnh Biên và Châu Đốc.
Nhìn theo phép hình thế cổ truyền, dải đất dựng trại ruộng Hưng Thới lấy khối núi Két làm hậu chẩm vững chãi ở phía sau, che chắn gió lớn và giữ khí cho toàn bộ cụm cư trú dưới chân núi. Phía trước chùa mở ra vùng đồng ruộng bằng phẳng đóng vai trò minh đường rộng thoáng.
Khác với những ngôi chùa cất trên sườn cao hay đỉnh núi vốn thiên về cảnh thanh vắng thoát tục, việc đặt chùa Phước Điền ngay tại ranh giới tiếp giáp giữa chân núi đá và đồng ruộng cho thấy sự gắn bó mật thiết với mạch sống nông nghiệp. Nguồn nước ngầm ngọt lành dưới chân núi được giữ lại qua giếng nước cổ trong khuôn viên chùa, tạo thành điểm tụ thủy nuôi dưỡng sự sống cho cả khu trại ruộng từ buổi đầu khai sơn phá thạch.
Thư viện ghi nhận hiện chưa có tư liệu đo đạc độ số la bàn chính xác của trục kiến trúc chùa Phước Điền, nên phần đọc thế đất này chỉ xét trên tổng thể địa hình chân núi Két và cánh đồng Thới Sơn.
VLễ cúng và mạch hành hương qua cụm di tích Thới Sơn
Hằng năm, chùa Phước Điền đón đông đảo tín đồ và khách thập phương vào các dịp lễ lớn của hệ phái Bửu Sơn Kỳ Hương, trọng tâm là dịp Rằm tháng Giêng (ngày 14 và 15 tháng Giêng âm lịch) và ngày lễ giỗ Đức Phật Thầy Tây An (ngày 12 tháng 8 âm lịch). Khách hành hương về vùng Bảy Núi thường đi theo một mạch liên hoàn, sau khi lễ ở chùa Tây An dưới chân núi Sam sẽ theo Quốc lộ 91 và đường tỉnh 948 vào Thới Sơn để viếng trọn cả ba nơi gồm chùa Phước Điền, chùa Thới Sơn và đình Thới Sơn, đồng thời thăm mộ ông Đình Tây và ông Tăng Chủ ở gần đó.
Sinh hoạt lễ bái tại chùa giữ đúng nếp giản dị do Phật Thầy Tây An truyền lại. Người đến viếng chỉ dâng hương, hoa tươi và nước trắng, tưởng nhớ công đức mở đất của bậc tiền nhân và tự nhắc mình thực hành đạo lý Tứ Ân (ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo, ân đồng bào và nhân loại) trong đời sống hằng ngày.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Khu vực chân núi Két, phường Thới Sơn (phường Thới Sơn cũ, thị xã Tịnh Biên cũ), tỉnh An Giang
- Đường tới
- Chùa tọa lạc tại khu vực chân núi Két, thuộc phường Thới Sơn (phường Thới Sơn cũ, thị xã Tịnh Biên cũ), tỉnh An Giang. Từ phường Châu Đốc (thành phố Châu Đốc cũ), đi theo Quốc lộ 91 về hướng Tịnh Biên khoảng mười cây số đến khu vực Nhà Bàng, rẽ vào đường tỉnh 948 hướng về khu du lịch núi Két là tới cụm di tích chùa Phước Điền, chùa Thới Sơn và đình Thới Sơn. Lưu ý tránh nhầm với chùa Phước Điền (Chùa Hang) ở sườn núi Sam.
- Toạ độ
- 10.6, 105.0263
Khi vào lễ trong chánh điện chỉ dâng hương, hoa tươi và trái cây, không đốt vàng mã và không mang đồ cúng mặn vào chùa.
Hãy dành thời gian quan sát kỹ các hàng cột đá hoa cương trong chùa để xem tận mắt hệ thống câu đối khắc bằng chữ lạ cùng hai đôi liễn chữ Hán cổ và giếng nước xưa có nhà mát che bên trên.
Nên kết hợp viếng thăm chùa Thới Sơn và đình Thới Sơn nằm cách đó không xa để hiểu trọn vẹn mô hình hai trại ruộng Hưng Thới, Xuân Sơn và ngôi đình làng của cư dân Bửu Sơn Kỳ Hương thế kỷ 19.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Phước Điền
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Phước Điền ở Thới Sơn có phải là Chùa Hang ở núi Sam không
Không phải. Tại An Giang có hai ngôi chùa cùng mang tên chữ là Phước Điền Tự nhưng hoàn toàn khác nhau. Chùa Phước Điền ở sườn núi Sam (phường Vĩnh Tế, thành phố Châu Đốc cũ) thường gọi là Chùa Hang, thuộc Phật giáo Bắc tông. Còn chùa Phước Điền ở dưới chân núi Két (phường Thới Sơn, thị xã Tịnh Biên cũ) thường gọi là chùa Trại Ruộng, là di tích trại ruộng Hưng Thới gốc của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương.
Vì sao chùa Phước Điền không có tượng Phật mà chỉ treo tấm vải đỏ
Chùa thuộc hệ phái Bửu Sơn Kỳ Hương do Đức Phật Thầy Tây An khai sáng năm 1849. Theo giáo lý Học Phật Tu Nhân của hệ phái, việc tu hành cốt ở sự thanh tịnh trong tâm và thực hành Tứ Ân chứ không chuộng hình tướng bên ngoài, vì vậy trên bàn thờ Tam bảo chỉ treo tấm trần điều màu đỏ tượng trưng cho sự viên mãn và lòng thành kính.
Hệ thống chữ lạ trên cột chùa Phước Điền là chữ gì
Trên các cột chùa Phước Điền có khắc những câu đối bằng một loại chữ viết đặc biệt, nhìn qua có nét giống chữ Hán hoặc chữ Nôm nhưng cấu tạo ký tự hoàn toàn khác lạ. Theo khảo cứu của các nhà nghiên cứu văn hóa địa phương, các câu đối này được đọc bằng cả âm Hán Việt lẫn âm tiếng Việt thuần và được tạo lập có quy tắc, nhiều khả năng do người xưa trong hệ phái Bửu Sơn Kỳ Hương sáng tạo.
Linh vị ở gian sau chùa Phước Điền ghi những thông tin gì về Đức Phật Thầy Tây An
Theo sách Bửu Sơn Kỳ Hương, linh vị đặt tại Phước Điền Tự ghi rõ Đức Phật Thầy Tây An thuộc Lâm Tế chánh tông đời thứ 38, pháp danh Minh Huyên, đạo hiệu Giác Linh, sinh vào giờ Ngọ ngày 15 tháng 10 năm Đinh Mão (1807) và viên tịch vào giờ Ngọ ngày 12 tháng 8 năm Bính Thìn (1856), hưởng dương năm mươi tuổi.
Khách hành hương về chùa Phước Điền (Trại Ruộng) thường đi lễ vào những dịp nào?
Tín đồ và khách thập phương thường về lễ chùa Phước Điền đông nhất vào dịp Rằm tháng Giêng (ngày 14 và 15 tháng Giêng âm lịch) và ngày lễ giỗ Đức Phật Thầy Tây An (ngày 12 tháng 8 âm lịch), kết hợp viếng cả cụm chùa Phước Điền, chùa Thới Sơn và đình Thới Sơn dưới chân núi Két.