VẠN ĐẠO ĐƯỜNGHALL OF MYRIAD PATHSEnglishVề trang Thầy Ưng Khiêm
VẠN ĐẠO ĐƯỜNG

Chùa Phước Điền

Trại Ruộng, chùa Trại Ruộng Thới Sơn

Ngôi chùa Bửu Sơn Kỳ Hương dưới chân núi Két, gốc là trại ruộng nơi đệ tử của Đức Phật Thầy Tây An ngày cày ruộng, tối về tu.

Gốc tích
Trại ruộng
lập trong khoảng 1849 tới 1856, về sau thành chùa
Dòng đạo
Bửu Sơn Kỳ Hương
không phải cơ sở Phật Giáo Hòa Hảo
Chỗ riêng
Mộ hai ông trâu
Sấm và Sét, kính như người có công khẩn đất

Đi từ chùa Thới Sơn thêm chừng một cây số rưỡi dọc chân núi Két, quý vị tới một khuôn viên rộng, cây cao, sân đất thoáng, và giữa khuôn viên ấy là một chánh điện nhỏ đến bất ngờ. Không tam quan đồ sộ, không tháp, không tượng lớn. Trên bàn thờ chính chỉ có một tấm vải đỏ treo phẳng. Trước cổng có một đôi liễn, trong chánh điện có thêm một đôi nữa.

Người trong vùng gọi nơi này là chùa Trại Ruộng, và cái tên dân gian ấy nói đúng hơn cả tên chữ. Đây vốn là một khu khai hoang, nơi đệ tử của Đức Phật Thầy Tây An ban ngày cày cấy, nuôi trâu, tối về tụng niệm. Chuyện ở đây không phải chuyện xây chùa mà là chuyện làm ruộng, kể cả chuyện hai con trâu được chôn cất và gọi bằng ông.

IRuộng Phước Và Lối Đạo Ngày Làm Tối Tu

Xin nói ngay điều hay bị xếp nhầm. Chùa Phước Điền là cơ sở của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, dòng do Đức Phật Thầy Tây An, tức ông Đoàn Minh Huyên, khai năm 1849. Đây không phải chùa Hòa Hảo và không thuộc Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo. Tín đồ Hòa Hảo nhận Bửu Sơn Kỳ Hương làm gốc và năng về viếng nơi này, nhưng chùa do ban quản trị tại chỗ trông coi theo nếp riêng của dòng Bửu Sơn Kỳ Hương, vốn không có một tổ chức trung ương đứng trên các chùa.

Hai chữ Phước Điền nghĩa là ruộng phước. Trong nhà Phật, ruộng phước là hình ảnh quen để chỉ nơi gieo điều lành thì gặt quả lành. Ở đây hình ảnh ấy trùng khít với sự thật: chỗ này trước hết là một thửa ruộng thật, nuôi người thật, rồi mới thành chỗ tu. Chữ Hán ghi ở đầu trang do thư viện phiên theo tên chùa, không chép từ một tấm hoành phi cụ thể.

Theo giáo nghĩa

Giáo lý Bửu Sơn Kỳ Hương gói trong hai vế Học PhậtTu Nhân. Vế sau được cụ thể hóa bằng Tứ ân: ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo, ân đồng bào nhân loại. Tín đồ tu tại gia, không cạo tóc, không xuất gia, vẫn làm ăn như mọi người.

Trại ruộng là chỗ lối tu ấy hiện ra rõ nhất. Đức Phật Thầy không dựng chùa rồi gọi người tới, mà đưa người tới vùng đất hoang, cho họ vỡ đất để có cái ăn, và việc tu diễn ra ngay giữa đám ruộng họ vừa khai. Một câu hay được nhắc khi nói về nơi này là chủ trương không xây chùa cao, không đắp tượng lớn, vì Phật ở tại tâm. Chánh điện Phước Điền nhỏ mà khuôn viên rộng, chính là hình ảnh của câu ấy: đất dành cho ruộng và cho người, phần dành cho công trình thì vừa đủ.

Theo sử liệu

Theo sách Bửu Sơn Kỳ Hương đăng trên trang hoahao.org, Đức Phật Thầy giao trại ruộng Thới Sơn cho hai đệ tử là ông Tăng Chủông Đình Tây ở giữ. Các tư liệu về các đại đệ tử cho biết ông Tăng Chủ tên thật là Bùi Văn Thân, còn gọi là Bùi Thiền Sư, và ông Đình Tây tên thật là Bùi Văn Tây. Mộ hai ông nằm ở Thới Sơn, gần khu chùa, và vẫn được tín đồ về thắp nhang.

Cũng sách ấy ghi một chi tiết giúp phân vai hai ngôi chùa trong cụm: thuở đầu, chỗ nay là Phước Điền dùng để nuôi trâu và làm ruộng, còn chỗ nay là chùa Thới Sơn, trước gọi là Hưng Thới, dùng cho việc thờ phượng. Nói cách khác, Phước Điền giữ phần lao động của trại ruộng, và đó là lý do chuyện trâu gắn với nơi này chứ không gắn với nơi kia.

Chỗ hay hiểu lầm

Ba chỗ hay lẫn, xin nói bằng giọng sử liệu.

Thứ nhất, bảng dữ liệu của thư viện ghi nơi này dưới mục Hòa Hảo theo lệ phân loại cũ. Về đạo, đây là Bửu Sơn Kỳ Hương, dòng mẹ có trước Phật Giáo Hòa Hảo chín mươi năm.

Thứ hai, An Giang có hơn một chùa tên Phước Điền. Ngôi nổi tiếng hơn là Phước Điền tự ở núi Sam, Châu Đốc, người ta quen gọi là chùa Hang. Ngôi ấy là chùa Phật Giáo, khác hẳn chùa Phước Điền Trại Ruộng ở Thới Sơn.

Thứ ba, nhiều nguồn gọi lẫn cả cụm Thới Sơn là Trại Ruộng. Chùa Thới Sơn ngay gần đây cũng là một trại ruộng thành chùa, và thư viện có bài riêng về nơi ấy tại chùa Thới Sơn. Khi người trong vùng nói chùa Trại Ruộng thì thường là nói Phước Điền.

IITừ Trại Ruộng Tới Ngôi Chùa

Lịch sử nơi này đi theo việc mở đất chứ không theo các lần xây cất. Các mốc dưới đây ghi theo việc lập trại, người coi sóc và các lần dựng lại.

  • 1849Khai đạo Bửu Sơn Kỳ Hương
    Đức Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên khai đạo, dạy Học Phật Tu Nhân và Tứ ân, tín đồ tu tại gia.
  • Khoảng 1851Đoàn đầu tiên tới chân núi Két
    Theo một bản tiểu sử Phật Thầy, từ cuối năm 1851 ngài cử đệ tử vào vùng Thất Sơn khai hoang, đoàn thứ nhất chọn chân núi Két, lập nên trại ruộng Hưng Thới và Xuân Sơn.
  • Trước 1856Giao trại cho hai ông Tăng Chủ và Đình Tây
    Hai đệ tử Bùi Văn Thân và Bùi Văn Tây được giao coi sóc trại ruộng. Phước Điền giữ phần nuôi trâu và làm ruộng.
  • 1856Đức Phật Thầy viên tịch
    Ngài viên tịch ngày 12 tháng 8 năm Bính Thìn. Việc ở trại ruộng do các đệ tử tiếp nối.
  • Các đời sauTrại ruộng thành chùa
    Nơi thờ trong trại được tu bổ thành chùa. Tư liệu không cho một năm cụ thể, thư viện để trống chỗ ấy.
  • 1941Xây lại lớn
    Sách Bửu Sơn Kỳ Hương trên hoahao.org ghi trại ruộng được sửa sang và mở rộng năm này, có ao sen và hàng cây.
  • Hiện nayTrong cụm di tích Thới Sơn
    Chùa được kể cùng chùa Thới Sơn và đình Thới Sơn trong cụm di tích dưới chân núi Két.
Theo sử liệu

Có mấy chỗ nguồn vênh nhau, xin ghi thẳng.

Về năm lập trại, bảng dữ liệu của thư viện ghi trong khoảng từ năm 1849 tới năm 1856, tức bảy năm cuối đời Phật Thầy. Một bản tiểu sử cụ thể hơn, ghi mốc cuối năm 1851. Hai cách ghi không chọi nhau, chỉ khác độ chặt, nên thư viện giữ khoảng rộng ở bảng tóm tắt.

Về khoảng cách giữa Phước Điền và chùa Thới Sơn, bảng dữ liệu ghi chừng 1,5 km, còn sách Bửu Sơn Kỳ Hương cũ ghi độ 2.000 thước. Con số cũ có lẽ đo theo đường đi thời ấy.

Về hạng di tích, trang tư liệu của Bảo tàng tỉnh An Giang xếp chùa vào mục di tích cấp tỉnh, chưa tra được năm quyết định. Một số bản tin lại nói cả cụm Thới Sơn được công nhận cấp quốc gia năm 1999. Thư viện chưa thấy bản quyết định gốc, nên ghi cả hai và giữ mức cấp tỉnh ở bảng tóm tắt.

IIIChánh Điện Nhỏ, Hai Cặp Liễn Và Mộ Hai Ông Trâu

Chùa chia hai gian theo chiều sâu: gian trước thờ Tam bảo và gian sau thờ các bậc tiền bối. Nhà xây tường, mái ngói, theo lối chùa làng Nam Bộ. Cái đáng đọc không phải khối nhà mà là tỷ lệ: khuôn viên rộng, chánh điện nhỏ, đúng chủ trương giản dị của dòng đạo.

Bàn thờ Tam bảo

Không tượng cốt. Chỉ có tấm trần điều màu đỏ treo làm đối tượng lễ bái, đúng lệ chung của Bửu Sơn Kỳ Hương.

Các lớp thờ phụ

Ngoài Tam bảo, chùa thờ Hộ pháp, thờ Năm non bảy núi, các vị thần thánh, và các đại đệ tử của Phật Thầy. Lớp thờ đệ tử là thứ cho biết nơi này gắn với một trại ruộng cụ thể.

Liễn ngoài cổng

Nhứt trần bất nhiễm Bồ Đề địa, Vạn thiện đồng quy Bát Nhã môn. Tạm hiểu: đất Bồ Đề không vướng một hạt bụi, cửa Bát Nhã là nơi muôn điều lành cùng về.

Liễn trong chánh điện

Phước bảo thiền quang thanh tịnh vô vi thường phổ chiếu, Điền kinh công đức viên dung bát nhã biến thông truyền. Hai chữ đầu hai vế ghép lại thành chính tên chùa.

Mộ hai ông trâu

Mộ trâu Sấm và trâu Sét, hai con trâu có công khẩn đất. Người trong vùng gọi bằng ông chứ không gọi bằng con.

Dòng chữ lạ

Một bài khảo năm 2014 ghi chùa giữ một lối chữ tự chế gồm 142 chữ ghép từ các bộ của chữ Hán, đã đọc được 114 chữ, còn 28 chữ chưa giải.

Hai cặp liễn được sách Bửu Sơn Kỳ Hương ghi là của Đức Phật Thầy chỉ cho tín đồ viết, một cặp ngoài cửa và một cặp ở bàn chánh. Cặp trong chánh điện đáng đọc chậm: vế trên mở bằng chữ Phước, vế dưới mở bằng chữ Điền, tức tên chùa được giấu ngay trong hai chữ đầu. Nếu đúng như lời truyền thì tên Phước Điền có từ đời Phật Thầy, không phải tên đặt về sau. Bản dịch nghĩa ở trên là cách hiểu của thư viện, không phải bản dịch chính thức của chùa.

Chuyện hai ông trâu Sấm và Sét

Đây là chuyện tín đồ kể và báo tỉnh ghi lại, xin đọc như một chuyện truyền trong vùng. Người trông coi chùa kể rằng đôi trâu vốn của một gia đình người Khmer ở vùng núi gần đó, tính dữ, hay húc trâu khác và cả người. Chủ trâu tới xin Phật Thầy giúp, ngài cử ông Tăng Chủ đi cùng để thu phục. Từ đó đôi trâu về trại ruộng, kéo gỗ từ núi Cấm về dựng chùa, chỉ làm tới khoảng giữa buổi sáng và chỉ nghe lời Phật Thầy. Khi trâu chết, người ta chôn cất tử tế và gọi là ông Sấm, ông Sét.

Bỏ phần huyền thoại ra, cái lõi của chuyện vẫn đứng được: ở một nơi mà cày ruộng là một nửa việc tu, con trâu là bạn đồng tu. Chôn trâu như chôn người có công khẩn đất là cách người xưa ghi công lao động, và hiếm có ngôi chùa nào giữ một chi tiết như thế.

Theo sử liệu

Về chỗ mộ trâu, nguồn vênh nhau. Báo Cần Thơ viết mộ hai ông trâu nằm trong khuôn viên chùa. Một bài trên Infonet lại kể trâu được chôn ở một chỗ gọi là Rề Mâu, lâu ngày thành đất trũng ít người lui tới. Có thể có một mộ tưởng niệm ở chùa và một chỗ chôn cũ ở nơi khác, nhưng thư viện chưa có nguồn nối hai chuyện lại, nên ghi cả hai. Báo An Giang còn cho biết chùa có chủ trương dựng tượng hai ông trâu.

IVThế Đất Và Hướng

Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong tư liệu của đạo. Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương không dạy phép xem đất, và chỗ này được chọn vì là đất hoang còn khai được. Những dòng dưới đây chỉ là chỗ đối chiếu cho quý vị quen lối cổ truyền.

Thế đất và hướng

Điều đầu tiên là núi thật. Ở châu thổ phía tây nam, nơi thờ tự phần lớn đứng trên đất bằng. Vùng Thất Sơn là ngoại lệ, và Phước Điền nằm dưới chân núi Két, khối đá đứng làm hậu chẩm, tức cái gối sau lưng. Theo phép cũ đó là thế tọa sơn, lưng có chỗ dựa.

Thứ hai là mặt ruộng. Trước mặt chùa là đồng, mùa mưa ngập nước. Người xem đất đồng bằng vẫn đọc mặt ruộng ngập là một dạng thủy, nên thế ở đây gần với khuôn tựa sơn hướng thủy của sách, theo lối châu thổ.

Thứ ba là khuôn viên rộng, chánh điện nhỏ. Con mắt cũ đọc một khoảng sân rộng trước nơi thờ là minh đường, chỗ khí dừng lại trước khi vào. Ở Phước Điền, minh đường lớn hơn hẳn công trình, và đó là điều thuận với phép cũ: nhà nhỏ trên đất rộng thì khí không bị bức. Có thêm một lớp nghĩa mà phép cũ không nói tới. Ở đây đất rộng vì đất là ruộng, là chỗ nuôi trâu, là phần lao động của trại. Cái sân rộng không phải để làm oai mà là dấu còn lại của một nông trại.

Cuối cùng, thư viện chưa tra được hướng chính xác của mặt chùa nên không đọc hướng, để khỏi dựng kiến giải trên phỏng đoán. Điều đáng nhớ hơn mọi phép đo là thứ tự: ruộng có trước, chùa có sau. Chỗ đất này không được chọn bằng la bàn mà bằng lưỡi cày.

VLễ Và Lệ Trong Năm

Nếp lễ ở Phước Điền là nếp chung của dòng Bửu Sơn Kỳ Hương: lễ vật chỉ có nước lã, bông hoa và nhang, không cúng mặn, không đốt vàng mã. Theo báo Cần Thơ, vào dịp Tết, ngày rằm và các ngày lễ đạo, tín đồ về đây để nhắc nhau công lao các bậc tiền bối.

Các kỳ lễ chính theo âm lịch. Việc sắp xếp từng kỳ do ban quản trị chùa định theo năm. Nguồn: Báo Cần Thơ, tiểu sử Đức Phật Thầy Tây An trên trang Bửu Sơn Kỳ Hương nguyên thủy, và nếp chung của dòng Bửu Sơn Kỳ Hương..
Ngày âm lịchLễNội dung
Những ngày đầu nămViếng chùa đầu xuânTín đồ về dâng hương, thăm mộ hai ông Tăng Chủ và Đình Tây, thắp nhang ở mộ hai ông trâu.
Rằm tháng GiêngLễ đầu năm của cụm Thới SơnKỳ lễ lớn của cả cụm, người trong đạo đi vòng các nơi gắn với Phật Thầy. Bài chùa Thới Sơn kể kỹ kỳ lễ này.
12 tháng 8Ngày Đức Phật Thầy viên tịchNgày tưởng nhớ vị khai đạo, viên tịch năm Bính Thìn 1856. Tín đồ các dòng nhận Phật Thầy làm tổ đều giữ ngày này.
Mùng một và ngày rằmNgày cúng thường lệCúng Tam bảo và các bậc tiền bối, lễ vật nước lã, bông hoa và nhang.

Nét riêng của nơi này trong các kỳ lễ là lễ nhớ người khẩn đất. Ở nhiều chùa, người ta nhớ vị khai sơn. Ở Phước Điền, người ta nhớ cả những người cầm cày và cả hai con trâu kéo gỗ. Tín đồ vùng Thất Sơn thường đi một vòng gồm Phước Điền, chùa Thới Sơn, đình Thới Sơn, rồi về chùa Tây An ở núi Sam, nơi gắn với quãng cuối đời Phật Thầy. Muốn thấy thêm một chùa Bửu Sơn Kỳ Hương giữa đồng, quý vị có thể đọc bài Bửu Hương Tự.

VINơi Chốn Và Đường Tới

Địa chỉ
Khu vực chân núi Két, phường Thới Sơn (phường Thới Sơn cũ, thị xã Tịnh Biên cũ), tỉnh An Giang
Đường tới
Chùa nằm dưới chân núi Két, phường Thới Sơn, tỉnh An Giang, trên địa bàn thị xã Tịnh Biên cũ. Từ chùa Thới Sơn đi thêm chừng một cây số rưỡi dọc chân núi là tới.
Toạ độ
10.6, 105.0263
Khi tới nơi

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động của một cộng đồng tín đồ, nên lệ của chùa là lệ phải theo. Ăn mặc kín đáo, đi nhẹ nói khẽ trong chánh điện, không chạm vào tấm trần điều và đồ thờ. Dâng lễ thì nước lã, bông hoa và nhang là đúng lệ, lễ mặn và vàng mã thì đạo không dùng. Ở mộ hai ông trâu và mộ các bậc tiền bối, quý vị thắp nhang đứng ngoài, không bước lên nấm mộ.

Những nơi gần đây trong thư viện

VIIĐóng Góp Cho Trang Này

Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Phước Điền

Contribute photos, information or video for Phuoc Dien Pagoda (Trai Ruong)

Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.

Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.

Sau khi được đăng, tên bạn sẽ được ghi công ngay tại mục địa điểm này. Once published, your name is credited right here on this place's page. Ảnh và video phải do chính bạn chụp hoặc được phép chia sẻ.

Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.

?Hỏi Đáp Nhanh

chùa phước điền trại ruộng thuộc đạo nào

Thuộc đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, dòng do Đức Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên khai năm 1849. Đây không phải chùa Hòa Hảo, dù tín đồ Hòa Hảo nhận Bửu Sơn Kỳ Hương làm gốc và năng về viếng. Chùa do ban quản trị tại chỗ trông coi, không có sư trụ trì.

chùa trại ruộng thới sơn có gì đặc biệt

Gốc là trại ruộng nơi đệ tử Phật Thầy ngày cày tối tu, do hai ông Tăng Chủ và Đình Tây coi sóc. Chánh điện nhỏ, thờ tấm trần điều thay tượng, còn giữ hai cặp liễn của Phật Thầy và mộ hai ông trâu Sấm, Sét có công khẩn đất.

trâu sấm trâu sét là gì

Là đôi trâu mà theo lời kể trong vùng được Phật Thầy cho thu phục, về trại ruộng kéo gỗ từ núi Cấm dựng chùa và cày ruộng. Khi trâu chết, người ta chôn cất tử tế và gọi là ông Sấm, ông Sét. Chuyện thuộc lớp truyền khẩu, nguồn còn vênh về chỗ mộ.

chùa phước điền thới sơn khác chùa hang phước điền núi sam thế nào

Là hai nơi khác nhau. Phước Điền tự ở núi Sam, Châu Đốc, quen gọi chùa Hang, là chùa Phật Giáo. Chùa Phước Điền ở chân núi Két, phường Thới Sơn, là cơ sở Bửu Sơn Kỳ Hương, gốc trại ruộng của Đức Phật Thầy Tây An.

chùa phước điền và chùa thới sơn khác nhau thế nào

Hai chùa cùng dòng, cùng cụm di tích, cách nhau chừng một cây số rưỡi. Theo sách Bửu Sơn Kỳ Hương, thuở đầu Phước Điền giữ phần nuôi trâu và làm ruộng, còn Thới Sơn, trước gọi là Hưng Thới, dùng cho việc thờ phượng. Nguồn gọi lẫn cả hai là Trại Ruộng.

Đọc Tiếp