Từ Tổ đình Chúc Thánh đi thêm chừng nửa cây số về phía thôn Cửa Suối, quý vị gặp một cổng tam quan mang ba chữ Phước Lâm Tự. Qua cổng là một khoảng sân nhiều cây, sau sân là một mái chánh điện thấp và rộng, lợp ngói âm dương, bờ nóc cong như mạn thuyền, trên mái đắp rồng, phượng, lân. Nơi này nhỏ và yên hơn Chúc Thánh, ít khách lạ, và người ra vào phần nhiều là tăng ni trong vùng.
Đây là chùa Phước Lâm (còn có danh hiệu Sắc tứ Phước Lâm tự), tổ đình thứ hai của dòng Lâm Tế Chúc Thánh trên vùng đất xưa gọi là xứ Bàu Ốc (hoặc Trảng Kèo), xã Thanh Hà, phủ Điện Bàn. Nếu Tổ đình Chúc Thánh là nơi Tổ Minh Hải đặt bài kệ và nơi đặt tháp Tổ, thì Phước Lâm là nơi các thế hệ thứ hai và thứ ba của dòng nối mạch. Người trong dòng về Hội An thường đi cả hai nơi, và ở Phước Lâm họ tìm lại các vị tổ đã đưa dòng Chúc Thánh ra khỏi một ngôi chùa để thành một mạng lưới.

IThế Hệ Thứ Hai Và Thứ Ba Của Dòng
Người khai sơn Phước Lâm là Thiền sư Thiệt Dinh Chánh Hiển Ân Triêm (1712 tới 1796), thế danh Lê Hiển. Tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi ngài sinh ở xã Bến Đền, phủ Điện Bàn, dinh Quảng Nam, năm 10 tuổi được cha mẹ đưa tới chùa Chúc Thánh thọ giáo, năm 20 tuổi thọ đại giới. Pháp danh ngài mang chữ Thiệt (Thật), chữ thứ hai trong kệ của Tổ Minh Hải, tức thế hệ thứ hai của dòng Chúc Thánh và đời 35 Lâm Tế. Ngài là một trong những vị tăng người Việt đầu tiên nối dòng thiền do một vị tổ người Hoa lập ra. Sau khi ngài viên tịch năm 1796, đệ tử là Tổ Pháp Ấn Tường Quang Quảng Độ (1739 tới 1811, thế danh Nguyễn Văn Viên) kế thế làm trụ trì đời thứ hai.
Nối ngôi trụ trì đời thứ ba là Tổ Pháp Kiêm Luật Oai Minh Giác, thế danh Võ Đức Nghiêm (1747 tới 1830), người làng Cẩm Phô, Hội An. Theo Tạp chí Nghiên cứu Phật học và Phật Giáo Quảng Nam, ngài xuất gia thuở nhỏ với Tổ Ân Triêm, mang chữ Pháp, thế hệ thứ ba, đời 36 Lâm Tế. Năm 1770 ngài từng xin hoàn tục tạm thời cầm quân dẹp loạn Đá Vách ở Quảng Ngãi được phong Bình Man tướng quân, sau hối hận việc binh đao nên trở về chùa sám hối và tự nguyện quét rác ở chợ Hội An suốt hai mươi năm (1773 tới 1793), người đời kính gọi là Tổ Bình Man Tảo Thị. Năm 1798 ngài trụ trì chùa Chiên Đàn rồi về cùng sư huynh Pháp Ấn Quảng Độ trùng hưng Phước Lâm, làm cho chùa thành trung tâm tu học lớn của Quảng Nam. Tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi ngài cho đúc ba quả đại hồng chung ở chùa Vạn Đức năm 1818, chùa Phước Lâm năm 1822 và chùa Hải Tạng năm 1830. Ngài viên tịch vào giờ Tý ngày mùng 10 tháng 11 năm Canh Dần (1830), thọ 84 tuổi.
Về người khai sơn, các nguồn vênh nhau. Hồ sơ di tích của Hội An ghi chùa do Hòa thượng Minh Giác, đời 35 Lâm Tế, khai sơn vào đầu thế kỷ 18. Tạp chí Nghiên cứu Phật học và trang Phật Giáo Quảng Nam lại ghi người khai sơn là Tổ Ân Triêm, kế vị đời thứ hai là Tổ Pháp Ấn Quảng Độ, còn Tổ Minh Giác là đệ tử đời 36 trùng tu và kế thế trụ trì đời thứ ba. Năm sinh năm mất của Tổ Minh Giác là 1747 tới 1830, nên ngài không thể khai sơn một ngôi chùa ở đầu thế kỷ 18. Thư viện theo Tạp chí Nghiên cứu Phật học, nhưng ghi lại cách ghi của hồ sơ di tích để quý vị đối chiếu. Năm khai sơn cũng vênh theo, hồ sơ di tích ghi đầu thế kỷ 18 còn Phật Giáo Quảng Nam và Chốn Thiêng ghi giữa thế kỷ 18.
| Chữ trong kệ Chúc Thánh | Thế hệ và đời Lâm Tế | Vị trụ trì ở Phước Lâm |
|---|---|---|
| Thật (Thiệt) | Thế hệ 2, đời 35 | Tổ khai sơn Thiệt Dinh Chánh Hiển Ân Triêm (1712 tới 1796, thế danh Lê Hiển) |
| Pháp | Thế hệ 3, đời 36 | Tổ Pháp Ấn Tường Quang Quảng Độ (1739 tới 1811, đời thứ hai) và Tổ Pháp Kiêm Luật Oai Minh Giác (1747 tới 1830, đời thứ ba) |
| Toàn | Thế hệ 4, đời 37 | Hòa thượng Toàn Nhâm (Toàn Nhân) Vi Ý Quán Thông (1798 tới 1883, đời thứ tư, mở giới đàn tại Chúc Thánh năm 1847, đại trùng tu Phước Lâm năm 1864) |
Mạch trụ trì ở Phước Lâm không đứt. Đời thứ năm là Hòa thượng Chương Tư Tuyên Văn Huệ Quang (1816 tới 1881), người làm Đường đầu Hòa thượng mở Đại giới đàn tại chùa Phước Lâm năm 1869. Đời thứ sáu là Hòa thượng Ấn Bổn Chí Thành Vĩnh Gia (1840 tới 1906, có nguồn ghi 1840 tới 1918), người trùng tu chùa năm 1891, mở giới đàn tại Phước Lâm và là bổn sư của Quốc sư Phước Huệ. Tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi chùa đã truyền qua mười một đời (bảng dữ kiện địa phương tính tới đầu thế kỷ 21 là mười bốn đời trụ trì).
Vì Phước Lâm nhỏ hơn và ở ngay cạnh Chúc Thánh, nhiều người tưởng đây là chùa con hay chùa phụ của Chúc Thánh. Không hẳn vậy. Phước Lâm có mạch trụ trì riêng, có các đời tổ riêng, và được người trong dòng gọi là tổ đình. Quan hệ giữa hai nơi là quan hệ thầy trò giữa hai thế hệ, Chúc Thánh là nơi của thế hệ thứ nhất còn Phước Lâm là nơi thế hệ thứ hai và thứ ba lập nên chỗ đứng của mình, rồi từ đó tiếp tục truyền đi.
IIHai Trăm Năm Mươi Năm Nối Mạch
Lịch sử Phước Lâm là lịch sử của các đời trụ trì hơn là của những công trình lớn. Chùa không được mở rộng đột ngột, mà được tu bổ dần qua các đời, mỗi đời để lại một quả chuông, một bộ tượng, một lần trùng tu.
- 1712Tổ Ân Triêm ra đờiThế danh Lê Hiển, sinh ở xã Bến Đền, phủ Điện Bàn, năm 10 tuổi tới chùa Chúc Thánh thọ giáo.
- Giữa thế kỷ 18Khai sơn Phước LâmTổ Ân Triêm khai sơn chùa tại vùng Cửa Suối (xứ Bàu Ốc, xã Thanh Hà xưa) theo Tạp chí Nghiên cứu Phật học và Phật Giáo Quảng Nam. Hồ sơ di tích Hội An ghi đầu thế kỷ 18.
- 1796Tổ Ân Triêm viên tịchBảo tháp dựng ở phía tây nam chùa. Tổ Pháp Ấn Tường Quang Quảng Độ kế thế trụ trì đời thứ hai, tiếp đó Tổ Pháp Kiêm Luật Oai Minh Giác nối ngôi trụ trì đời thứ ba.
- 1822Đúc chuông Phước LâmTổ Minh Giác cho đúc đại hồng chung cho chùa, một trong ba quả chuông ngài cho đúc từ năm 1818 tới năm 1830.
- 1847 và 1869Các kỳ Đại giới đànNăm 1847 Hòa thượng Toàn Nhâm Quán Thông (trụ trì đời thứ tư của Phước Lâm) mở Đại giới đàn tại tổ đình Chúc Thánh. Năm 1869 Hòa thượng Chương Tư Huệ Quang (đời thứ năm) mở Đại giới đàn ngay tại chùa Phước Lâm.
- 1864 và 1891Trùng tu thế kỷ 19Năm 1864 Hòa thượng Toàn Nhâm Quán Thông đại trùng tu chùa. Năm 1891 Hòa thượng Ấn Bổn Vĩnh Gia tiếp tục tu bổ.
- 1910Giới đàn đầu thế kỷ 20Một số tư liệu ghi Hòa thượng Vĩnh Gia mở giới đàn tại Phước Lâm với hơn một trăm giới tử.
- 1965 và 1990Trùng tu và dựng nhà TổChùa trùng tu năm 1965, tới năm 1990 Hòa thượng Thích Giải Trọng cho trùng tu nhà Tổ và giảng đường.
Về xếp hạng, bảng dữ kiện của thư viện theo Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An ghi chùa là di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1991. Hồ sơ di tích của Hội An ghi chùa có trong danh mục quản lý di tích của Hội An từ năm 1985 và được lập hồ sơ đề nghị công nhận. Thư viện ghi cả hai để quý vị biết hai văn bản thuộc hai thời điểm khác nhau.
IIIMái Chồng Diêm Và Hiện Vật
Hồ sơ di tích Hội An ghi chùa bố cục theo lối chữ môn, phía trước là cổng tam quan, trong sân chính có bình phong hình cuốn thư trổ vòng nguyệt và hai nhà bia ở hai bên Đông Tây, ở giữa là chánh điện có hai đầu là gác chuông (trang Phật Giáo Quảng Nam nhìn cụm chánh điện ở trước, nhà Tổ ở sau cùng nhà Đông và nhà Tây hai bên theo lối chữ quốc khép kín). Chánh điện rộng 12 mét, dài hơn 15 mét, do nghệ nhân làng mộc Kim Bồng ở Hội An chạm dựng. Mái làm theo lối chồng diêm, tức hai tầng mái xếp chồng, bờ nóc hình thuyền, bờ hồi uốn cong hình tàu đao, lợp ngói âm dương. Trên mái đắp phượng, rồng, lân.
Lối mái này là nét chung của nhiều chùa cổ vùng Hội An, khác hẳn mái chùa Huế ở chỗ thấp, rộng và ít trang trí sành sứ. Nó hợp với vùng đất cát ven biển nhiều gió vì mái thấp đỡ gió, mái chồng tạo khoảng thông hơi và ngói âm dương thoát nước nhanh.
Tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi Tổ Minh Giác cho đúc đại hồng chung Phước Lâm năm 1822. Hồ sơ di tích ghi chùa giữ chuông đồng cùng khánh đồng và lư hương.
Một pháp khí được hồ sơ di tích ghi riêng, mõ tạc theo dáng trái bồ đề chứ không theo dáng cá như nhiều nơi.
Tượng Thích Ca, Quan Thế Âm, Đại Thế Chí và mười tám vị A La Hán. Chốn Thiêng ghi nhiều pho do Hòa thượng Vĩnh Gia cho tạc.
Bảng dữ kiện ghi bốn bức hoành và ba cặp liễn đối gỗ. Chốn Thiêng ghi chùa còn giữ ván khắc gỗ và bộ đồ sứ cổ.
Điều đáng nhìn ở Phước Lâm là sự liền mạch. Quả chuông của đời thứ ba, các kỳ giới đàn của đời thứ tư và thứ năm, bộ tượng của đời thứ sáu, nhà Tổ của thế kỷ 20, tất cả cùng nằm trong một khuôn viên nhỏ. Mỗi đời thêm một thứ, không đời nào xóa đi thứ của đời trước.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong văn bản của chùa. Các nguồn thư viện đọc được không ghi Tổ Ân Triêm chọn đất theo phép nào. Thư viện ghi rõ như vậy để quý vị phân biệt được đâu là tư liệu và đâu là kiến giải.
Hồ sơ di tích Hội An ghi mặt tiền chùa quay về hướng đông nam. Chùa nằm ở thôn Cửa Suối, trên cùng dải đất cát cao phía bắc Hội An với Tổ đình Chúc Thánh. Điều lý thú là hai ngôi chùa cùng dòng, cách nhau chỉ chừng nửa cây số, lại quay hai hướng khác nhau, trong đó Chúc Thánh quay tây nam còn Phước Lâm quay đông nam. Điều ấy cho thấy người dựng chùa ở đây không theo một hướng định sẵn mà theo thế đất của từng khoảnh.
Hướng đông nam trong phép xem đất cổ truyền là hướng đón gió nồm mùa hạ và ánh sáng buổi sáng, lưng quay về phía tây bắc tránh được gió lạnh. Trên một vùng cồn cát không núi, đó là lựa chọn thực tế hơn cả, giúp chùa mát vào mùa nóng và kín vào mùa lạnh.
Tên thôn Cửa Suối gợi một mạch nước chảy qua vùng đất này. Trong con mắt phong thủy, một mạch nước nhỏ đi ngang trước mặt là thứ dẫn khí và giữ khí, và đất gần suối lại là đất có nước dùng quanh năm cho một nơi tu học đông người.
Lối chữ môn với chánh điện ở giữa, hai nhà hai bên và tam quan phía trước tạo thành một khoảng sân mở về phía trước mà khép ở ba mặt. Khí vào từ hướng đông nam, gặp chánh điện thì dừng, hai nhà hai bên giữ lại. Đó là hình của một nơi vừa đón người vừa giữ được sự yên cho chỗ tu.
VLễ Giỗ Tổ Và Các Lễ Trong Năm
Ngày lớn của Phước Lâm là lễ giỗ Tổ Minh Giác, dịp chư tăng dòng Chúc Thánh ở Quảng Nam tụ về. Phần tiểu sử trên trang Phật Giáo Quảng Nam ghi rõ Tổ Pháp Kiêm Minh Giác viên tịch vào giờ Tý ngày mùng 10 tháng 11 năm Canh Dần (1830), và lễ giỗ năm 2019 cử hành ngày 5 tháng 12 dương lịch (tức đúng ngày mùng 10 tháng 11 âm lịch năm Kỷ Hợi, còn năm 2022 môn đồ tổ chức tưởng niệm vào ngày 13 tháng 11 âm lịch).
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 10 tháng 11 | Giỗ Tổ Minh Giác | Tăng ni các chùa trong dòng Chúc Thánh về dâng hương, tụng kinh tưởng niệm vị tổ trụ trì đời thứ ba. |
| Rằm tháng 4 | Phật Đản | Lễ mừng ngày Phật đản sinh theo nếp chung của chùa Bắc Tông. |
| Từ rằm tháng 4 tới rằm tháng 7 | An cư kiết hạ | Ba tháng tăng chúng ở yên một chỗ tu học theo luật. |
| Rằm tháng 7 | Vu Lan | Lễ báo hiếu, cũng là ngày tự tứ khép lại mùa an cư. |
Tháng 11 âm lịch ở vùng Hội An vì vậy là tháng của hai lễ Tổ trong cùng một dòng, gồm lễ Tổ Minh Hải ở Chúc Thánh (mùng 7 tháng 11) và lễ Tổ Minh Giác ở Phước Lâm (mùng 10 tháng 11). Người trong dòng đi từ chùa này sang chùa kia chỉ mất vài phút, nhưng là đi qua các thế hệ của một mạch truyền thừa.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Thôn 2 (thôn Cửa Suối cũ), phường Hội An Tây (xã Cẩm Hà cũ, thành phố Hội An cũ), thành phố Đà Nẵng
- Đường tới
- Chùa ở Thôn 2, thôn Cửa Suối cũ, phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng, thuộc xã Cẩm Hà và thành phố Hội An cũ. Từ Tổ đình Chúc Thánh đi thêm chừng 500 mét.
- Toạ độ
- 15.8924, 108.3236
Phước Lâm là tổ đình đang có tăng chúng tu học, lệ của nhà chùa là lệ phải theo. Quý vị nên ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện và nhà Tổ, đi nhẹ nói khẽ ở nhà Đông và nhà Tây. Chuông, khánh, mõ và các pho tượng cổ xin đứng ngoài mà xem, không chạm tay, không tự ý thỉnh chuông. Nhà Tổ là nơi thờ các đời trụ trì, xin hỏi nhà chùa trước khi vào.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Chùa Phước Lâm
Thầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Phước Lâm Hội An do ai khai sơn
Tạp chí Nghiên cứu Phật học và Phật Giáo Quảng Nam ghi người khai sơn là Tổ Thiệt Dinh Chánh Hiển Ân Triêm (1712 tới 1796, thế danh Lê Hiển), thế hệ thứ hai dòng Chúc Thánh. Hồ sơ di tích Hội An ghi là Hòa thượng Minh Giác, nhưng Tổ Minh Giác sinh năm 1747 và là vị trụ trì đời thứ ba (sau Tổ Ân Triêm và Tổ Pháp Ấn Quảng Độ).
Chùa Phước Lâm thuộc dòng thiền nào
Chùa thuộc Thiền phái Lâm Tế, dòng Chúc Thánh, là tổ đình thứ hai của dòng ở vùng Quảng Nam. Tổ đình gốc là chùa Chúc Thánh, cách Phước Lâm chừng 500 mét. Pháp danh các đời trụ trì ở Phước Lâm đi đúng thứ tự chữ Thiệt, Pháp, Toàn, Chương, Ấn trong kệ Chúc Thánh.
Tổ Minh Giác là ai
Tổ Pháp Kiêm Luật Oai Minh Giác, thế danh Võ Đức Nghiêm (1747 tới 1830), xuất gia với Tổ Ân Triêm, thuộc thế hệ thứ ba dòng Chúc Thánh. Sau khi từng cầm quân dẹp loạn Đá Vách ở Quảng Ngãi năm 1773, ngài tự nguyện quét chợ Hội An hai mươi năm để sám hối (tục gọi Tổ Bình Man Tảo Thị), rồi về kế vị trụ trì đời thứ ba chùa Phước Lâm và cho đúc chuông các chùa Vạn Đức, Phước Lâm, Hải Tạng.
Chùa Phước Lâm có gì đặc biệt về kiến trúc
Chùa bố cục chữ môn (cụm nhà chính khép kín chữ quốc), chánh điện rộng 12 mét, dài hơn 15 mét do thợ mộc làng Kim Bồng chạm dựng, mái chồng diêm, bờ nóc hình thuyền, lợp ngói âm dương. Chùa giữ chuông đồng năm 1822, khánh đồng, mõ gỗ hình trái bồ đề, tượng mười tám vị A La Hán, hoành phi và liễn đối gỗ.
Chùa Phước Lâm có phải chùa con của Chúc Thánh không
Không hẳn. Phước Lâm là tổ đình có mạch trụ trì riêng qua nhiều thế hệ. Quan hệ với Chúc Thánh là quan hệ giữa các thế hệ của cùng một dòng, trong đó Chúc Thánh gắn với Tổ Minh Hải thế hệ thứ nhất còn Phước Lâm gắn với Tổ Ân Triêm thế hệ thứ hai cùng Tổ Pháp Ấn và Tổ Minh Giác thế hệ thứ ba.