Rời phố cổ Hội An đi lên phía bắc theo đường Tôn Đức Thắng, quý vị gặp một cổng tam quan đứng trên nền đất cát trắng. Qua cổng là một khoảng sân rộng, rồi các lớp nhà nối nhau về phía sau. Trong khu vườn bên cạnh, giữa những ngôi tháp nhỏ, có một ngọn tháp cao hơn cả. Đó là tháp của vị tổ đã chọn khoảnh đất cát này để dựng am, hơn ba trăm năm trước.
Đây là Tổ đình Chúc Thánh. Thiền sư Minh Hải Pháp Bảo, một vị tăng từ Phúc Kiến sang Đàng Trong cuối thế kỷ 17, khai sơn chùa và đặt tại đây một bài kệ truyền pháp tám câu. Từ bài kệ ấy mà có dòng Lâm Tế Chúc Thánh, dòng thiền lan khắp Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên rồi vào tới phương Nam. Tên chùa và tên dòng là một, vì cả hai cùng lấy từ câu thứ ba của bài kệ.
ITổ Minh Hải Và Dòng Chúc Thánh
Thiền sư Minh Hải, tự Đắc Trí, hiệu Pháp Bảo, thế danh Lương Thế Ân, sinh ngày 28 tháng 6 năm Canh Tuất 1670. Báo Đà Nẵng và Tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi ngài người Phúc Kiến, bảng dữ kiện của thư viện ghi rõ phủ Tuyền Châu. Ngài xuất gia từ năm 9 tuổi, mang chữ Minh, là đời 34 Thiền phái Lâm Tế theo bài kệ của Tổ Vạn Phong Thời Ủy. Năm 1695 ngài sang Hội An, rồi ở lại hoằng pháp ở Quảng Nam, lập thảo am, dạy tăng chúng. Ngài viên tịch ngày mùng 7 tháng 11 năm Bính Dần 1746, thọ 77 tuổi, theo văn bia trên tháp.
Điều làm ngài thành vị tổ của một dòng là việc đặt một bài kệ riêng. Trước ngài, các vị tăng Lâm Tế ở Đàng Trong đặt pháp danh theo kệ của các tổ bên Trung Hoa. Từ ngài, các đệ tử và đời sau đặt pháp danh theo bài kệ mới, và chỉ cần nghe chữ đầu pháp danh là biết vị ấy thuộc dòng Chúc Thánh, đời thứ mấy.
Về thầy truyền pháp của Tổ Minh Hải, các nguồn không hoàn toàn khớp. Bảng dữ kiện của thư viện dẫn Tạp chí Nghiên cứu Phật học, liệt ngài trong hàng đệ tử đời 34 của Tổ Nguyên Thiều. Một bài khác trên cùng tạp chí ghi ngài xuất gia tại chùa Báo Tư bên Trung Hoa rồi sang Đàng Trong năm 1695 cùng đoàn Thiền sư Thạch Liêm. Hai cách ghi thống nhất ở một điểm: ngài là đời 34 Lâm Tế, mang chữ Minh trong kệ Vạn Phong. Về quê quán, ngoài Phúc Kiến còn có tài liệu giới thiệu ghi Quảng Đông, chúng tôi theo Báo Đà Nẵng và Tạp chí Nghiên cứu Phật học.
Bài kệ tám câu
Bài kệ của Tổ Minh Hải gồm tám câu, mỗi câu năm chữ, phiên âm theo trang Phật Giáo Bình Chánh:
Minh thật pháp toàn chương, Ấn chơn như thị đồng,
Chúc thánh thọ thiên cửu, Kỳ quốc tộ địa trường,
Đắc chánh luật vi tuyên, Tổ đạo hạnh giải thông,
Giác hoa bồ đề thọ, Sung mãn nhơn thiên trung.
Chữ Minh là của chính Tổ. Chữ Thật là thế hệ thứ hai, tức đời 35 Lâm Tế. Chữ Pháp là thế hệ thứ ba, đời 36. Câu thứ ba và câu thứ tư mang ý chúc cho thánh thọ dài lâu như trời, cầu cho vận nước bền như đất. Hai chữ đầu câu thứ ba là Chúc Thánh, và đó là chỗ tên chùa cùng tên dòng cùng lấy ra.
Theo Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo, nhiều tổ đình trong dòng nay đã truyền tới chữ Thánh và chữ Thọ. Đếm theo kệ, chữ Chúc là đời 44 Lâm Tế, chữ Thánh đời 45, chữ Thọ đời 46. Nói cách khác, sau hơn ba trăm năm, dòng Chúc Thánh đã đi tới đúng những chữ làm nên tên của chính mình.
Vì Tổ khai sơn là người Hoa và chùa ở ngay cạnh Hội An, nơi có nhiều hội quán người Hoa, không ít người tưởng Chúc Thánh là chùa của cộng đồng người Hoa. Không phải. Chúc Thánh là chùa Phật Giáo Bắc Tông, thuộc Thiền phái Lâm Tế, và ngay từ thế hệ thứ hai, dòng Chúc Thánh đã do tăng người Việt nối tiếp. Vị khai sơn chùa Phước Lâm ở gần đó, Tổ Ân Triêm, là người Điện Bàn, được cha mẹ đưa tới Chúc Thánh thọ giáo từ năm 10 tuổi. Dấu Hoa còn lại ở Chúc Thánh chủ yếu nằm trong bố cục kiến trúc và chữ trên bia, hoành, liễn.
IITừ Bãi Cát Trắng Đến Tổ Đình
Năm khai sơn Chúc Thánh chưa ngã ngũ. Báo Đà Nẵng ghi ngài chọn đất ở làng Thanh Hà năm 1684, lúc ấy chỉ là một bãi cát trắng hoang, nhưng chính bài ấy lại ghi ngài sang Hội An năm 1695, nên hai con số mâu thuẫn nhau. Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An ghi năm 1697. Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo ghi chung là cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18. Chúng tôi ghi tất cả, và coi cách ghi theo khoảng là chắc chắn nhất.
- 1670Tổ Minh Hải ra đờiSinh ngày 28 tháng 6 năm Canh Tuất ở Phúc Kiến, xuất gia từ năm 9 tuổi.
- 1695Sang Hội AnNgài sang Đàng Trong, cập cửa Đại Hội An. Tạp chí Nghiên cứu Phật học ghi ngài đi cùng đoàn Thiền sư Thạch Liêm.
- Cuối thế kỷ 17 hoặc đầu thế kỷ 18Khai sơn chùaBáo Đà Nẵng ghi năm chọn đất là 1684, Trung tâm Bảo tồn Di sản Hội An ghi năm 1697, các nguồn khác ghi theo khoảng.
- 1746Tổ viên tịchNgày mùng 7 tháng 11 năm Bính Dần, thọ 77 tuổi, tháp Tổ dựng trong vườn chùa.
- 1845Đại tuBáo Đà Nẵng ghi đợt đại tu do Hòa thượng Quán Thông chủ trì.
- 1849 tới 1911Các lần tu bổTrung tâm Bảo tồn Di sản Hội An ghi các lần tu bổ năm 1849, 1892, 1894 và 1911. Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo ghi có bia dựng năm 1915.
- 1991Di tích quốc giaChùa được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
Sau Tổ, các đệ tử đời Thật và đời Pháp tỏa đi khai sơn chùa mới. Ngay cạnh Chúc Thánh, chừng 500 mét, là chùa Phước Lâm, tổ đình thứ hai của dòng, nơi các thế hệ thứ hai và thứ ba nối tiếp. Rồi dòng đi vào Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, và sau nữa tới Sài Gòn. Mỗi ngôi chùa ấy, khi kể gốc, đều kể về Chúc Thánh.
IIIBố Cục, Tháp Tổ Và Bia Ký
Báo Đà Nẵng và Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo cùng tả bố cục chùa theo lối tiền công hậu quốc, tức phần trước xếp theo dáng chữ công, phần sau theo dáng chữ quốc. Đây là cách bày nhà quen thuộc trong kiến trúc chùa và đền miếu có ảnh hưởng Hoa ở Hội An: khối trước là các lớp nhà nối nhau theo chiều ngang, khối sau là một vòng nhà khép kín quanh sân. Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo ghi nền chùa rộng hơn 10.000 mét vuông.
Theo Trung tâm Bảo tồn Di sản Hội An, đi từ ngoài vào là tam quan, sân, rồi chánh điện thờ Tam Thế Phật, Di Lặc và các vị La Hán. Phía sau là hậu điện thờ Bồ Tát Địa Tạng, hai bên là nhà Đông và nhà Tây cho chư tăng ở và làm lễ, và nhà Tổ giữ bài vị cùng các tư liệu truyền thừa.
Ngọn tháp cao nhất trong vườn tháp. Báo Đà Nẵng ghi cao chừng 12 mét, Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo ghi cao trên 10 mét, bảy tầng.
Quanh tháp Tổ là tháp các đời Hòa thượng trong dòng, có ngôi năm tầng, ba tầng hoặc một tầng. Nhiều ngôi nay chỉ còn lại phần bia.
Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo ghi chùa giữ chín bia đá chép việc dựng và tu bổ chùa, có bia năm 1915.
Nhiều câu đối trong chùa nói việc truyền pháp và cầu cho chùa lâu bền, là tư liệu chữ nghĩa quan trọng của dòng.
Nếu chỉ được xem một thứ ở Chúc Thánh, quý vị nên xem tháp Tổ. Mọi ngôi tổ đình khác của dòng Chúc Thánh, dù ở Bình Định hay ở Sài Gòn, đều có bàn thờ Tổ Minh Hải, nhưng chỉ ở đây mới có nơi ngài an nghỉ. Người trong dòng về Chúc Thánh trước hết là về tháp này.
IVThế Đất Và Hướng
Phần này là cách đọc của thư viện theo con mắt phong thủy cổ truyền, không phải điều được chép trong văn bia hay trong văn bản của chùa. Các nguồn chúng tôi đọc được không ghi Tổ Minh Hải chọn đất theo phép nào, chỉ ghi nơi ngài chọn vốn là một bãi cát trắng hoang.
Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo ghi chùa quay mặt về hướng tây nam. Chùa nằm trên vùng đất cát cao ở phía bắc phố Hội An, cách xa lòng sông Thu Bồn một quãng. Ở vùng cửa sông ven biển, đất cát cao là thứ đất quý, vì không ngập khi nước lên, và đây có lẽ là lý do thực tế đầu tiên khiến một bãi cát hoang được chọn.
Không có núi để tựa, chùa lấy thế đất cao làm chỗ dựa phía sau. Trong phép xem đất ở vùng đồng bằng và cồn cát, một gò cao giữa vùng thấp được coi là nơi khí dừng lại, còn nước sông và nước biển ở xa làm mạch dẫn khí về. Hướng tây nam quay về phía sông và vùng đồng ruộng, lưng tựa về phía biển, cũng là cách tránh gió biển thổi thẳng vào mặt chùa trong mùa gió bấc.
Lối tiền công hậu quốc góp thêm một ý. Khối trước mở ra để đón người vào lễ, khối sau khép lại quanh sân để giữ khí cho chỗ tu. Và vườn tháp đặt bên cạnh chứ không ở phía trước, để các đời tổ nằm yên trong một vùng riêng, gần mà không lẫn với chỗ người đang tu.
Sau cùng, việc Phước Lâm, tổ đình thứ hai của dòng, được dựng cách đây chỉ chừng nửa cây số cho thấy các đời sau tin vùng đất này. Hai ngôi chùa cùng dòng đứng gần nhau trên một dải cát là hình ảnh của một dòng thiền đã bén rễ ở một chỗ.
VLễ Giỗ Tổ Và Các Lễ Trong Năm
Lễ lớn nhất của chùa là lễ giỗ Tổ Minh Hải, tính theo ngày ngài viên tịch ghi trên bia tháp, mùng 7 tháng 11 âm lịch. Có bản tin ghi một ngày khác trong tháng 11, chúng tôi theo ngày trên bia tháp. Vào dịp này, tăng ni các chùa thuộc dòng Chúc Thánh ở Quảng Nam và các tỉnh về dâng hương tại nhà Tổ và tháp Tổ.
| Ngày âm lịch | Lễ | Nội dung |
|---|---|---|
| Mùng 7 tháng 11 | Giỗ Tổ Minh Hải | Lễ lớn nhất trong năm của chùa và của cả dòng Chúc Thánh. Dâng hương tại nhà Tổ và tháp Tổ. |
| Rằm tháng 4 | Phật Đản | Lễ mừng ngày Phật đản sinh theo nếp chung của chùa Bắc Tông. |
| Từ rằm tháng 4 tới rằm tháng 7 | An cư kiết hạ | Ba tháng tăng chúng ở yên một chỗ tu học theo luật. |
| Rằm tháng 7 | Vu Lan | Lễ báo hiếu, cũng là ngày tự tứ khép lại mùa an cư. |
Ở Chúc Thánh, lễ giỗ Tổ đồng thời là ngày một dòng thiền nhận lại bài kệ của mình. Vị tăng mang chữ Chúc hay chữ Thánh trong pháp danh, đứng trước tháp Tổ Minh Hải, là đứng trước người đã viết ra chính chữ ấy hơn ba trăm năm trước.
VINơi Chốn Và Đường Tới
- Địa chỉ
- Số 104 đường Tôn Đức Thắng, phường Hội An Tây (phường Tân An cũ, thành phố Hội An cũ), thành phố Đà Nẵng
- Đường tới
- Chùa ở số 104 đường Tôn Đức Thắng, phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng, thuộc phường Tân An và thành phố Hội An cũ. Từ phố cổ Hội An đi lên phía bắc chừng hai cây số.
- Toạ độ
- 15.8886, 108.3266
Chúc Thánh là tổ đình đang có tăng chúng tu học, lệ của nhà chùa là lệ phải theo. Quý vị nên ăn mặc kín đáo, bỏ mũ khi vào chánh điện, hậu điện và nhà Tổ, đi nhẹ nói khẽ ở nhà Đông và nhà Tây. Vườn tháp là nơi an táng các đời tổ, xin đi theo lối sẵn có, không trèo lên bệ tháp, không chạm tay vào bia. Các bia đá cổ xin đứng ngoài mà đọc.
Những nơi gần đây trong thư viện
VIIĐóng Góp Cho Trang Này
Góp ảnh, thông tin hoặc video cho Tổ đình Chúc Thánh
Contribute photos, information or video for Chuc Thanh Pagoda, Hoi AnThầy Ưng Khiêm mời cộng đồng cùng làm giàu trang này. Ảnh chụp tận nơi, một chi tiết lịch sử chưa được nhắc, một đoạn video ngắn: mọi đóng góp đều được đọc và trả lời.
Everyone is welcome to enrich this page: a photo you took, a detail the page misses, a short video. Every contribution is read and answered.
Chưa có đóng góp nào từ cộng đồng. Bạn có thể là người đầu tiên. No community contribution yet. You could be the first.
?Hỏi Đáp Nhanh
Chùa Chúc Thánh Hội An thuộc dòng thiền nào
Chùa là tổ đình gốc của dòng Lâm Tế Chúc Thánh, một dòng của Thiền phái Lâm Tế. Tổ khai sơn là Thiền sư Minh Hải Pháp Bảo, người đặt bài kệ tám câu mở ra dòng này, dòng lan khắp miền Trung và vào tới phương Nam.
Chùa Chúc Thánh được xây năm nào
Các nguồn ghi khác nhau. Báo Đà Nẵng ghi Tổ chọn đất năm 1684 nhưng cũng ghi ngài sang Hội An năm 1695, hai con số mâu thuẫn. Trung tâm Bảo tồn Di sản Hội An ghi năm 1697. Cách ghi chắc nhất là cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18.
Vì sao dòng thiền có tên Chúc Thánh
Tên lấy từ hai chữ đầu câu thứ ba trong bài kệ của Tổ Minh Hải, Chúc thánh thọ thiên cửu, mang ý chúc thánh thọ dài lâu như trời. Chùa và dòng cùng mang tên ấy, nên tên dòng và tên chùa trùng nhau.
Tháp Tổ Minh Hải ở đâu
Tháp ở ngay trong vườn tháp của chùa Chúc Thánh, cao nhất trong các tháp. Báo Đà Nẵng ghi cao chừng 12 mét, Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo ghi cao trên 10 mét, bảy tầng. Quanh tháp Tổ là tháp các đời Hòa thượng trong dòng.
Chùa Chúc Thánh và chùa Phước Lâm khác nhau thế nào
Cùng dòng Chúc Thánh, cách nhau chừng 500 mét. Chúc Thánh là tổ đình gốc, nơi Tổ Minh Hải đặt bài kệ và nơi đặt tháp Tổ. Phước Lâm là tổ đình thứ hai, do đệ tử thế hệ thứ hai khai sơn, gắn với các đời kế tiếp của dòng.